78 - HOÀI CỔ VỀ NƯỚC DẠ LANG!
Xem ra, tôi nhất thiết phải viết về nước Dạ Lang cũng như tộc Lang Việt cùng những thế hệ hôm nay rồi vậy. Một dòng tộc bị thất lạc trong nhóm Bách Việt khi xưa! Mong sao, qua đó. Chúng ta hôm nay biết được gốc rễ, nguồn cội của dân tộc Việt, từng đã lưu lạc trong quá khứ của dòng sử Thiêng.
Về nước Dạ Lang này. Ngay cả các nhà khảo cổ, sử gia, học giả trên thế giới, không ngoại trừ cả Trung Quốc. Đến nay vẫn còn rất mơ hồ về tông tích của một nước cổ Dạ Lang này. Tung tích của họ vẫn mãi biệt vô âm tín, suốt hàng ngàn năm qua cho đến tận ngày hôm nay. Qua những khảo cổ, di chỉ khai quật được hiện nay. Càng phát biểu cho những thế hệ hôm nay được biết rằng; Đã từng có một nước cổ Dạ Lang, tồn tại trong một giai đoạn của vùng không – thời gian xác định được, trong toàn miền quá khứ đầy miên viễn, xa xưa đó. Thế nhưng những gì mà tư liệu hiện tại thu nhập được thông tin về giá trị của nước cổ này. Hầu như chỉ là những chuỗi dấu chấm hỏi và chấm than, thi nhau tiếp nối cùng những cuộc tranh cãi vô hồi kết mà thôi !?...
Chúng ta nói chung thì thấy rất bình thường đối với bài viết chào xuân Mậu Tuất vừa qua trên trang này. Thế nhưng đối với các nhà khảo cổ, sử học thì rất lấy làm sửng sốt! Bởi đó chính là ánh sáng vừa được thắp lên giữa đêm trường của vùng địa phương Dạ Lang, đã mãi chìm trong dạ sử của tư duy. Vậy, nhân tiện. Tôi tháo dần một mối rối, từng bị loạn lạc của giống nòi Bách Việt. Vì thế bài viết sau đây, sẽ được các bạn xem xét ở một tầm cao của quan điểm, một tầng sâu của tư duy. Không nên vội lướt qua những giá trị nông cạn làm lạc mất những giá trị thực tại của nó.
Chúng ta tiếp tục nhé:
Tạm tính từ giai đoạn Lạc Long Quân mang 50 con ra Phong Châu mở nước. Mục đích chính là bảo tồn giống nòi Tiên Rồng cùng với non sông oai linh mà tổ tiên ngàn năm trước để lại.
Ta phải được biết và hiểu một cách rõ ràng về cội nguồn rằng; Trong thời nhà nước Văn Lang. Văn hóa của dân tộc Việt đã được thể hiện rõ ở các Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc bộ theo theo họ của Lạc Long. Do nước là Văn Lang, ý ở các đời con cháu theo đó mà nối dõi. Thế nên hoàng tử thì lấy theo tên Lang, công chúa thì lấy tên Mỵ (Mỵ còn có nghĩa là Hùng nữa). Và đó cũng chính là tông chỉ truyền đời, biệt riêng cho giống nòi Thần Tiên này mãi đến tương lai mai sau. Ta thấy ngay từ thuở xa xưa của buổi đầu dựng nước đó. Văn hóa của người Lạc Việt đã chứa đựng thể loại Văn U Mặc rồi vậy. Trong khi văn u mặc lại là đỉnh cao của triết học, tư tưởng của nhân loại. Với sự phát triển của nền văn minh cũng như văn hóa hiện nay. Ta đã thấy cũng khó có thể vươn đến để thẩm thấu tư tưởng tuyệt học này cho được. Bởi nó vốn sánh cùng thiên cơ.
Chúng ta suốt hơn 500 năm qua, với sự vẽ vời của Ngô Sĩ Liên trong giai đoạn này từ Đế Minh, đến Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ. Rồi kết thúc rằng: “Đó há không phải là cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt hay sao” !!!. Tôi trả lời rằng; “Không”. Đó không hề là lịch sử cội nguồn của nòi giống Tiên Rồng này bao giờ cả. Mà rằng;
Trong giai đoạn của dòng sử Thiêng của dân tộc Việt khi này. Chúng ta chỉ biết loáng thoáng với vị Vua Hùng đầu tiên là Lạc Long với tên gọi Hùng Hiền. Thế nhưng không một ai biết được rằng người con cả đầu dòng là Lang Việt vốn có tên Hùng Thục, đã bị thất lạc nơi đầu dòng nguồn sử thiêng của dân tộc Việt đi rồi! Hùng Thục mà trong một vài trang sử hiếm hoi xưa đã từng gọi với các tên khác như Hùng Dục, Hùng Huyệt!
Trãi khi Hùng Thục trưởng thành. Ông cũng có chí ngao du như dòng máu của chiến Thần Xi Vưu khi xưa. Một con người lỗi lạc của dòng Âu Lạc . Và Lạc Long Quân đã giao cho Hùng Thục một sứ mệnh bất khả thi trong buổi đầu định quốc Văn Lang khi đấy là:
Ông đã quay trở về quê hương nội ngoại nơi vùng Ngũ Lĩnh, thuộc đất Tương dạ, Quế lâm… Khi này, đất Kinh và đất Dương nơi động đình hồ, vẫn đang trong giai đoạn giao tranh cùng Nhà Thương với nhà nước Xích Quỹ rất khốc liệt. Hùng Thục đã ở lại tại miền Quế lâm, là nơi có núi Thiên đài sơn mà Lộc tục từng tế lễ trời đất, xưng vương lập quốc khi xưa. Vốn cũng sở hữu tiêu khúc của giống nòi, thế nên ông đã chọn vùng sông tương, dừng chân xem xét, điều nghi thế cuộc. Thế rồi, do bởi sự tàn phá của Nhà Thương đối với quê cha đất tổ. Hùng Thục đã nhận Chu Văn Vương làm học trò, dạy dỗ, nuôi chí thôn tính nhà Thương từ trong nội bộ. Thế cho nên sử sách Nhà Chu đã nhắc đến ông với tên gọi là Huyệt Hùng.
Chính Huyệt Hùng đã truyền cho Văn Vương phép bói Tiên Thiên, vốn là Liên Sơn Dịch, thuộc di chỉ sở hữu từ giống nòi Chiến Thần Xi Vưu khi xưa. Sự việc dẫn đến việc Trụ Vương nghi ngờ Văn Vương đang có di ấn, mới có việc giam giữ. Vấn đề tấn công nước Văn Lang ngay sau khi được mãn hạn tù ở Dữu Lý là do riêng ý của riêng Văn Vương mà thôi. Bởi khi đó thì Văn Vương vừa ra tù mà chưa về đến nước mình nữa. Ta xét thấy, nguyên do mà Văn Vương biết được Kinh Dịch ở bên nước Văn Lang, là cũng từ nguyên cớ ở Huyệt Hùng mà ra cả thôi. Đến khi mượn Nhà Chu tiêu diệt được Nhà Thương. Bắt buộc Nhà Chu phải chia đất cho Dục Hùng và mở ra Nước Sở. Từ đây, ông lấy lại họ Hùng như cũ. Thế nên Hùng Dục là tổ tiên mở ra nước Sở theo sử Tàu đã chép. Đến đời Chu Thành Vương, Cháu đời thứ tư của Hùng Dục là Hùng Dịch! Đòi nhà Chu phải phong đất tổ khi xưa cho nước Sở là vùng đất Kinh ở phía nam sông trường giang. Sau đó nước Sở hùng mạnh lên và dần thôn tính các nước bên bờ bắc trường giang. Khi đó, Chu Công đã từng gọi nước Sở là “nước Kinh Thư”! Điều này càng minh chứng cho Kinh Dịch vốn là của dân tộc Việt.
Về vấn đề phả hệ của Hùng Dục, vốn có xuất phát cội nguồn như thế. Không hề là từ Quý Liên theo dòng Đế Cốc, như sử sách của người Trung Quốc đã ghi như xưa nay bao giờ cả. Văn hóa của họ từ ngàn xưa nay, vốn dĩ là dạng văn hóa vay mượn, chiếm đoạt mà có. Thế nên họ vẫn lầm lẫn về cội nguồn mà chưa có thể phân định rành rẽ ra cho được. Bởi Đế Khốc vốn là dòng thuộc về Hoàng Đế, được nối ngôi từ Xuyên Húc mà ra (Xuyên Húc chứ không phải Chuyên Húc). Còn xét về Ông Cốc, lại là dòng Bách Việt, chỉ là một viên quan trông coi về việc thủy lợi trong thời Đế Nghiêu thôi. Do Đại Vũ là cháu nội của Ông Cốc, nên trong thời Nhà Hạ đã được phong Hầu. Thế nên khi Nhà Thương diệt Nhà Hạ, diệt luôn cả hai chư hầu, vốn là họ hàng là Côn Ngô và Bành tổ. Do Quý Liên lại là em ruột của hai vị đó. Thế nên tránh Nhà Thương truy sát, mới đổi theo họ Mỵ, vốn là Hùng để tị nạn. Từ đó, khiến nên người trung Quốc lầm tưởng Hùng Dục, tổ tiên của nước Sở. Có cội nguồn từ Quý Liên, Đế Khốc mà ra!!! Nếu như khả năng phát triển của hôm nay, tôi chỉ định thẩm định ADN là xong.
Vậy, ta mới có thể mục kích cũng như hiểu một cách tường tận về toàn bộ sự kiện mà Sở Trang Vương Hùng Lữ. Đã dám cả gan “vấn đỉnh” Chu Định Vương ngày đó trên bờ sông Lạc thủy, để nhắc khéo lại cơ đồ của Bách Việt rồi đấy. Tôi cũng lưu ý thêm cùng các bạn và thế hệ hôm nay là:
Lại xem xét kỹ càng hơn trong giai đoạn lịch sử này thì; Như tôi đã từng nói là dòng Lang Việt hay Thiên Lang, Dạ Lang này, vốn là sự hòa huyết giữa tộc Xi Vưu và Phục Hy. Xảy khi đó, cũng được phân chia cơ đồ từ Nhà Chu. Nên dòng Ngoại là Phục Hy mở ra Nước Ba với họ Khương, thay vì họ Hồng Bàng từ Xi Vưu là họ nội. Riêng dòng không chia rẽ ra thì lập Nước Thục với Đỗ Vũ. Trong các bộ tộc của Nước Thục thì có Nước Dạ Lang tại vùng Tương Dạ, trong dãy Quế Lâm là hùng mạnh nhất. Như thế, nếu ta tính chung là Lang Việt thì Nước Sở thuộc Nhất Lang, Vậy nước Dạ Lang là Nhị Lang. Trong đó thì nước Dạ Lang ở đất Tương Dạ. Vùng này lại có sông Tương với loại trúc đặc biệt là Tiêu khúc. Thế nên ta thấy cũng có một số tộc lấy chữ Trúc làm họ, để tưởng nhớ Tiêu Khúc từ Chiến thần khi xưa. Và đây cũng chính là dòng mà sử gọi với danh hiệu là Thiên Trúc, Thiên Lang. Cùng với nước Dạ Lang lại còn có nước Điền Lang nữa. Vậy Điền Lang ở đây có nghĩa là Tam Lang vậy. Thế nên ta thấy trong giai đoạn đó, Nước Sở thường cất quân đáng dẹp hai “kẻ nổi loạn” này. Và sử khi đấy gọi chung họ là dòng của nhóm tộc “Miêu – Khương”!, là những bộ tộc Nhiễm Man!! Dòng Việt Lang với nước Dạ Lang này thường sống tách biệt giữa nước Sở và nước Nam Văn Lang, Âu lạc v.v… nói chung. Thế nên họ còn có danh gọi chung chung của sử xưa là nước Thân Độc!
Khảo luận này lại cho thấy; Ngay cả các nhà sử học xưa nay tại Trung Quốc cũng rất còn lơ mơ về nước Dạ Lang này. Bởi xét như câu thành ngữ “Dạ Lang Tự Đại” trong văn hóa chung của họ cho thấy; Nhà Hán không hề biết gì đến nước Dạ Lang này cả. Họ thường gọi chung chung là các nước vùng Đông Di hoặc man di mà thôi. Chỉ có Đường Mông là biết rất rõ. Là do Đường Mông làm huyện lệnh của vùng Phiên Dương. Đây chính là khu vực của Hồ Phiên Dương khi xưa của Dương Việt hay Thường Việt cư ngụ trong thời Kinh Dương Vương. Thế nên Đường Mông thường xuyên qua lại mà buôn bán với nước Cổ Dạ Lang này.
Đến lúc xảy ra sự kiện thôn tính nước Nam Việt của Triệu Đà. Đường Mông xin Nhà Hán cấp quân liên kết với nước Dạ Lang để thôn tính Nam Việt. Khi Đường Mông đến hỏi thăm thì vua Dạ Lang khi đó là Đa Đồng đã hỏi dò: Nước Hán và Dạ Lang thì ai mạnh hơn? Từ đó câu thành ngữ Dạ Lang Tự Đại ra đời. Họ không biết rằng ý của Vua Dạ Lang khi đó là do; Bởi trước đó đã tách biệt với nước Sở từ lâu và bị cấm vận đối với các nước đương thời khi đó. Dạ Lang cứ nghĩ rằng nước Sở thời Nhà Chu là rất mạnh. Đến khi Nhà Hán nổi lên đánh Tần thì Sở vẫn mạnh, nên mới phải có sự kiện Hán phải rút qua sạn đạo đấy thôi. Đến khi Nhà Hán bình định trung nguyên thì Dạ Lang chưa nắm được thông tin. Thế nên mới có câu hỏi dò là Hán mạnh hay Dạ Lang mạnh vậy. Nhà Hán lại không hiểu nguyên do, lại cho là nước Dạ Lang Tự Đại! Và rồi sử liệu mất dấu nước cổ Dạ Lang này vào thời Nhà Hán, Đường trong giai đoạn 1000 năm đô hộ dân tộc Bách Việt sau đó. Nước cổ Dạ Lang không còn hiện diện, và sử sách xem như đã tuyệt chủng trong giai đoạn đó mất đi rồi.
Lại nữa; Xuất phát hai tên gọi Thiên Trúc và Thân Độc là bởi từ Ấn Độ. Do những nhóm người tản lạc từ chiến tranh Nhà Thương và Xích Quỹ. Không loại trừ giai đoạn nhà Tần về sau đó nữa. Thế nên nhóm người Bách Việt đang tị nạn tại Ấn Độ khi đó, đã lọt vào tầm Huệ Nhãn của Phật Thích Ca! Thế là sứ mạng mà Đề Bà Đạt Đa cùng với Kiều Trần Như tức tốc sang Việt Nam tìm Kinh Dịch trong giai đoạn huyền sử xa mờ là từ nguyên cớ này vậy. Và cái tên nước Thiên Trúc để ám chỉ nước Dạ Lang khi đó. Ắt là chốn mà có Như Lai hiện diện theo quan niệm của Nhà Phật. Do nước Dạ Lang được đồn đoán khi đó là nước có mang theo Phù Đồ (di chỉ của giống nòi; Kinh Dịch). Dĩ nhiên ta thấy bước chân của Kiều Trần Như trong giai đoạn đó in dấu trên nước Phù Nam là hoàn toàn không phủ nhận được. Lại còn; Nước Dạ Lang khi này từng ở vùng đất được sử gọi là Tang Kha. Là do có một đặc sản từ cây Tang (rất giống cây Dâu) nức tiếng khi đó. Thế nên mới có việc xuất hiện những thành ngữ như Giấc Nam Kha, Phù Tang v.v… để ám chỉ đến nước Dạ lang này nói chung.
Ta lại cũng cần phải biết, làm tư liệu bổ sung hoàn thiện cho các nhà ngôn ngữ học thêm nữa rằng: Cái tên China để ám chỉ đến vùng khu vực này. Chính là do người Ấn, gọi theo dấu của Kiều Trần Như khi đó mà ra cả thôi! Bởi Kiều Trần Như trước khi về với Phật Thích Ca, ông vốn lại có gốc đạo từ Mahavira của Kỳ Na giáo. Thế nên đạo Phật mà Kiều Trần Như đã phát triển cho khu vực này. Vốn có hình ảnh của Kỳ Na giáo lẫn với Phật giáo là rất nhiều. Từ đó cái tên “China” chính là gọi trại âm từ “Kỳ Na” mà ra. Đó là từ cổ thuộc Ấn Độ chứ không phải từ ngôn ngữ của người Trung Quốc khi xưa. Bởi China còn có ẩn nghĩa là Kinh của người Kinh với Kinh Dịch nữa!!! Ta xét thấy một cách rõ ràng là cả toàn vùng khu vực có tên vùng biển China đó. Chính là toàn vùng của nước Xích Quỹ khi xưa, phía bờ nam sông Dương Tử cả mà thôi. Đó cũng là từ mà người Ấn Độ dùng để chỉ khu vực có nước Phù Đồ và Phù Nam của dân tộc Kinh Việt nói chung.
Và Tạo Hóa đã dựng kịch bản của Nhà Phật nơi trang cuối qua ý; A Nan cuối đời đã lẳng lặng bơi thuyền ra giữa dòng sông Hằng mà hóa ở đấy. Với sở nguyện hóa thành loài quạ, nối nhịp cầu ô thước cho Chàng Ngưu Lang tìm về với Chức Nữ nơi thời kỳ cuối cho đạo trời viên mãn.
Vấn đề hôm nay, với bài viết này, nhân dịp tết Mậu Tuất. Dòng Lang Việt nói chung khi xưa. Đã từng trở thành dấu chân hoang trong dòng sử thuở hồng hoang. Cho đến tận hôm nay, vẫn còn là dấu chân đi hoang của giống nòi Chiến Thần và Tiên Huyền Nữ. Một loài “sói đơn độc”, dễ quen cùng “tiếng gọi nơi hoang dã”. Loài sói khi xưa đã thuần chủng mà thành chó nhà, là bạn trung thành cùng loài người. Không khéo, đi hoang lại trở thành kiếp sói, dễ quên giống nòi bầy đàn. Bởi nơi thời kỳ cuối này. Tôi nhắc lại nguồn gốc vốn đã bị gây lạc loài khi xưa từ chiến tranh, tham vọng nơi nơi của nhân loại. Mong thay, giống nòi Lang Việt trong Bách Việt còn lưu lạc tổ tiên chung. Tưởng đến cội nguồn mà tìm về, chờ ngày phán xét trước tòa công luận của Tạo Hóa.
Trước bối cảnh của một tương lai gần như thế. Thật đáng trách thay, khi lại có một số ít, từ dòng máu Lang Việt hôm nay. Đang có xu hướng “hóa đá” lương tri giống nòi, nghe theo tiếng gọi nơi hoang dã…
Một loài Chó Đá!
Nguy hơn!!; Cận giao thừa năm MậuTuất. Hiện tượng Trăng Xanh, Trăng Máu đã xuất hiện như một dấu hiệu thiên cơ cho thời kỳ cuối. Không chắc được rằng; Con Chó Đá trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt, có kịp vẫy đuôi mừng chủ. Hay lại nghe theo tiếng gọi nơi hoang dã mà trở thành Ma Sói theo mỗi thời kỳ Trăng Máu?
Dòng Lang Việt nói riêng trong Bách Việt, biết đâu nguồn cội. Để chọn tiếng gọi của Trăng Máu hay Trăng Xanh?!
Nơi sưu tầm các bài viết hay về tử vi, khoa học, phật giáo, và cuộc sống
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018
Không gian chiều thứ 4? Tản Mạn Đầu Năm Mậu Tuất
77 - TẢN MẠN ĐẦU NĂM MẬU TUẤT.
Chào xuân Mậu Tuất cùng các bạn trên trang Ký Sự Phía Bên Kia Không Gian Chiều Thứ Tư. Chúng ta cùng tán gẫu đầu năm làm động lực nhé. Nếu tính theo Ngũ Can Tuất, thì Mậu Tuất thuộc về “con chó đá”!
Thoạt nghe cũng lạ tai! Bởi như Giáp Tuất là chó gỗ (Mộc), Bính Tuất rõ là chó lửa (Hỏa) đi rồi còn gì? Vậy xét tiếp Canh Tuất là chó sắt (Kim) và Nhâm Tuất đành là chó nước (Thủy) thôi vậy. Thế nên Mậu Tuất, ắt chúng ta phải xem là chó đá (Thổ) các bạn nhé!
Nếu như dòng sử thiêng của giống nòi Thần Tiên, trót đã đa mang nặng gánh thiên thư với thiên tượng Hòn Vọng Phu nơi ải bắc Lạng sơn thì; Tại Nam môn quan cũng đáp lại tượng Hòn Phu Tử ở Kiên Giang, cùng ngóng chờ thời khắc giống nòi đoàn viên sau bao ngàn năm chia lìa. Thế nên văn hóa của dân tộc này cũng kịp có một trang huyền tích của Con Chó Đá cho đủ được gọi là đèo bòng vậy!
Một con chó ngóng chủ trong trang sử của dân tộc, suốt bao ngàn năm cũng hóa đá mà trung thành cùng đôi tượng chủ đang mãi lạc nhau!? Mong lắm thay. Con chó đá của năm nay, rũ bụi rêu phong của thời gian từng phủ lấp ký ức dân tộc Việt. Bất chợt vẫy đuôi, mừng chủ về đến đúng thời điểm mà ngàn năm giống nòi đã từng ngóng chờ trong linh cảm của núi sông bao đời qua. Chúng ta cũng đã từng biết được rằng; Con Chó Đá ngóng chủ trong trang sử thiêng của người Việt đó. Chỉ đứng lên vẫy đuôi mừng, khi chủ đã được ghi danh trong sách trời là đỗ Trạng Nguyên mà thôi. Bằng không, chó đá vẫn trơ như tượng phỗng mà ngồi ngóng mãi cùng năm tháng…, một cách trung thành miệt mài theo thiên ý.
Chúng ta cùng nhau dò tìm lại dấu vết xưa kia, kể từ khi giống nòi Bách Việt phải lưu lạc vì chiến tranh do tham vọng của thiên hạ. Vậy thì mấy ai hôm nay, trong nhóm Bách Việt đó. Biết được rằng chúng ta đã từng lạc mất dòng Lang Việt, trong giai đoạn nào đó của quá khứ đầy tang thương vốn đong đầy oan khốc. Từ đó, dẫn đến nhánh rẽ của dòng sử thiêng mà phải lạc mất một trong những tộc đầu dòng như thế?! Bởi tộc Lang Việt vốn lấy linh vật Thiên Lang làm linh hiệu (logo)!!! Nguồn gốc có diễn biến nơi đầu nguồn dòng sử của giống nòi Bách Việt, được tôi mô tả lại cùng các bạn như sau:
Các bạn riêng trên trang này đã biết qua giai đoạn khi Hoàng Đế thôn tính xong Thần Nông và Xi Vưu thì đã thành dân chung một nước. Tôi có nhắc đến việc hai tộc Phục Hy và Xi Vưu kết duyên cùng tộc Hoàng Đế (Hữu Hùng) thì được gọi là Hoa Trung (dẫn đến tên gọi như Trung Hoa ngày nay. Do ý từ chữ Trung Hòa mà ra). Khi Hoàng Đế gả con về với Xi Vưu thì được gọi là Hoa Hạ. Bằng như gả cho Phục Hy thì là Hoa Thượng. Thế nhưng ở đây chúng ta chưa bàn đến chuyện dòng của Phục Hy gả về cho Xi Vưu! Đó chính là dòng mà sử xưa gọi là Lang Việt, Điền Việt. Cho nên cái huyền tích Ngưu Lang Chức Nữ, cũng là để ám chỉ đến sự kiện này mà ra cả!
Để các bạn có thể hình dung sâu hơn nữa về cội nguồn. Tôi lại phải giới thiệu sơ qua cái gốc của sự việc đó, có nguyên nhân như sau:
Trong “Kỷ Tam Nguyên” mà ta quen gọi là Tam Tài ban đầu đó. Ta thấy có 3 dòng là Hữu Hùng, Xi Vưu và Phục Hy. Trong đó, thì họ Hồng Bàng của Xi Vưu mới là Cổ Thiên Tử mà thôi. Khi Hữu Hùng chiếm được thì mới tự lạm xưng là Hoàng Đế như ta đã biết. Thế nhưng trong giai đoạn của dòng sử xa mờ này. Khó có một ai có thể nhận ra được là;
Cha của Hoàng Đế là dòng về Thiếu Điển. Vậy cha của Chiến Thần Xi Vưu chính là dòng thuộc Thái Điển rồi vậy. Thế nhưng cha của Phục Hy là thuộc phả hệ của dòng nào? Giai đoạn mà tôi đang nhắc đến cùng các bạn ở đây chính là giai đoạn của cái gọi là Kỷ Nhị Nguyên phân lập. Cho nên, chưa có sự hiện diện của dòng Phục Hy. Đây là một sự thật mà trong thiên thư ghi chép một cách rất rõ ràng.
Bởi vì ta chỉ biết trong Kỷ Tam Nguyên, có sự hiện diện của Tam Tộc là Xi Vưu, Hoàng Đế, Phục Hy đại diện cho nguyên lý Tam Dương. Về Tam Âm là Kim Mẫu Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ và Nữ Oa Nương Nương. Từ đây, ta đều manh nha hiểu được ra rằng; Nữ Oa là vợ của Phục Hy, Tây Vương Mẫu là vợ của Hoàng Đế và Tiên Huyền Nữ là vợ của Xi Vưu. Đó là bộ Tam âm Tam dương của buổi ban đầu khởi nguồn mọi dòng sử của toàn miền quá khứ thuở hồng hoang này.
Ta không biết được rằng Phục Hy vốn lại là một thuộc quyền dưới trướng của Tây Vương Mẫu trong cung Diêu Trì mà ra. Sau khi Kim Mẫu theo về với Hoàng Đế, thì Phục Hy cũng theo mà cùng ngụ trong gò Hiên Viên của Tòa Bắc Đẩu. Chính vì sau đó, trộm tuyệt kỹ Dao Cầm mà xảy ra việc Hoàng Đế phát hiện, phải cất thân chinh phạt Thần Nông. Rồi từ đó kéo theo đến việc thôn tính Xi Vưu. Từ đây khiến dẫn đến loạn lạc ra khắp thiên hạ đến tận hôm nay, khi chúng ta đang cùng tham luận những tản mạn này. Ta không được lầm lẫn giữa Hiên Viên là Phục Hy với Hữu Hùng là Hoàng Đế. Và sau này sử mới gọi chung là Hiên Viên Hoàng Đế, Cộng Chủ, Cộng Công, hoặc Viêm Hoàng tử tôn là một. Đó chính là sự chủ đích lập lờ đánh lận con đen của họ mà ra. Không hề có việc đế Du Võng mãi tận đời thứ 8 nào, thêm thắt để lạc được vào đây cả. Mọi sai lạc này là từ Ngô Sĩ Liên bày ra một cách vô lối.
Việc Nữ Oa từng gieo cả quả núi về phía của Chiến Thần Xi Vưu khi xưa mà sử của họ còn ghi lại. Vậy thì đời của Đế Du Võng, thuộc hàng Chút, Chít đời thứ 8 nào lại dám cả gan hiện diện nơi đây cho được. Lại còn là con của Đế Lai thì càng phải xóa kịch bản này đi nhanh hơn mà thôi. Bởi điều đó thật khôi hài lắm thay. Lại câu Cộng Chủ mà Tư Mã Thiên có nhắc đến đối với Cổ Thiên tử Xi Vưu. Chính là Hoàng Đế và Thần Nông chứ không phải là Du Võng bao giờ cả. Vậy trận Phản Tuyền, chính là trận đánh mà Hoàng Đế đã diệt Thần Nông mà thôi.
Ta thấy, cái gọi là Viễn Đông Bác Cổ của người Pháp đó. Không đủ để lạm bàn đến huyền sử của dòng Bách Việt cho nổi là một sự thật rồi vậy. Bởi vì cái nhìn nông cạn của họ vẫn bị che khuất từ bức màn của Ngô Sĩ Liên là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mà thôi. Dĩ nhiên lối mòn đó sẽ dẫn tư duy của các học giả lẫn sử gia người Pháp đến với sử ký của Tư Mã Thiên mà thôi. Tóm lại; Người Pháp, không hề đủ khả năng để quan sát cũng như đánh giá đến cội nguồn của dân tộc Việt Nam này cho được. Thật đáng buồn thay cho giống nòi. Bởi không ít những thế hệ trước đây, từng du học bên Pháp. Đã có những quan điểm lai căn về cội nguồn của Dân Tộc Việt Nam hôm nay.
Cho nên ta thấy dòng Lang Việt với linh tượng Thiên Lang đó. Người Trung Quốc đã gọi là dòng Sói Lang! Thế nhưng họ không thể nào che được một sự thật là dòng Hoàng Đế lẫn Xi Vưu vẫn gọi là Thần Nhị Lang. Dĩ nhiên với quan điểm của Tiên Đạo thì Hạo Thiên Khuyển phải là của Nhị Lang Thần mà không khác chủ cho được. Tề Thiên, nhất thiết phải sợ Hạo Thiên Khuyển.
Tản mạn mãi những giềng mối rối loạn, phủ lấp như thế. Chúng ta mới có thể bàn thảo đến con chó đá hôm nay trong huyền sử của dân tộc, trước ngưỡng cửa của năm Mậu Tuất này cho được.
Về tộc Lang Việt trong Bách Việt đó. Xưa kia sử sách từng có ghi chép lại là nước Dạ Lang, Thiên Độc, Tang Kha, Phù Đồ… Vì thế cho nên ta mới thấy nước Phù Tang hay Phù Nam là ý ám chỉ đến dòng Lang Việt của nước Dạ Lang này. Đa số đã bị lạc mất tông tích của dòng tộc này nói chung. Đã từng có rất hiếm những học giả, sử gia cứ ngỡ rằng họ đã bị tuyệt chủng cùng với Nước Điền Việt trong giai đoạn Nhà Hán đô hộ 1000 năm mất đi rồi. Bởi vì khi Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt của Triệu Đà. Đã từng có âm mưu liên kết cùng nước Dạ Lang, sau mới có thể đánh úp được nước Nam Việt của Triệu Đà khi xưa.
Ta thấy sử xưa chỉ thoáng nhắc nhớ đến đại loại như Hoài Nam…, Nam Hoa… Người Việt đến nay vẫn nhắc trong sự tiếc thương da diết cho giống nòi này qua những ca điệu Nam Ai, Nam Bình của miền Trung. Hay như khúc Dạ Cổ Hoài Lang của người miền Nam vậy. Thế nhưng có mấy ai hiểu được những lời ca ai oán đó, cốt là để thương nhớ về dòng Lang Việt này, đã từng thất lạc giống nòi trong quá khứ khi xưa bởi chiến tranh. Ta có thể xét thấy sự kiện dẫn đến loạn lạc vì chiến tranh, không phải từ trận Trác Lộc. Mà là từ giai đoạn Nhà Thương vượt qua sông Dương Tử. Đánh vào nước Xích Quỹ của Kinh Dương Vương nơi Hồ Động Đình và Hồ Phiên Dương mà ra.
Tiếp đến là sự loạn lạc thứ hai xảy ra là khi Tần Thủy Hoàng đánh vào vùng Ngũ Lĩnh. Khi đó các tộc bao gồm Kinh Việt, Dương Việt, Thường Việt, Mân Việt, Lang Việt, Điền Việt, Tây Âu, Âu Việt, Lạc Việt… đang sinh sống toàn vùng phía bờ nam sông Dương Tử. Chính giai đoạn này mà dòng Bách Việt với địa phận của Nước Điền Việt, giáp với Miến Điện và Ai Lao. Họ đã di tản ra các nước quanh vùng, kể cả Ấn Độ. Do dòng Thường Việt, Dương Việt là chủ đạo từ dòng Mẹ (Tiên Huyền Nữ). Thế nên dòng này đã hòa huyết với toàn vùng khi đấy.
Khảo luận nơi đây, buộc chúng ta phải xem xét kỹ càng hơn giai đoạn ly tán này của giống nòi Bách Việt như sau: Giai đoạn này chính là giai đoạn Xuân Thu, thuộc Đông Chu. Đồng thời cũng chính là lúc Phật Thích Ca tại thế ở Ấn Độ. Với dòng Thường Việt, dòng có và hiểu rất rõ về di ấn của Quy Tàng Dịch đang lưu cư bên đó (di tản từ chiến tranh Nhà Thương). Và việc Đề Bà Đạt Đa cùng với Kiều Trần Như tức tốc dò tìm sang Việt Nam như tôi từng có nhắc đến là hoàn toàn hợp logic. Bởi dò theo dấu chân của Kiều Trần Như, thì sẽ thấy trước khi đến nước Phù Nam trong giai đoạn đó. Kiều Trần Như đã từng đi qua nước Dạ Lang (Phù Đồ) của dòng Lang Việt. Không phải ngẫu nhiên mà thiên ý định cho A Nan khi mất đi, đã nguyện hóa thành giống Quạ. Một loài chim chỉ chờ ngày 7 tháng 7 hằng năm. Chỉ một lòng đội đá, bắc cầu cho sự chia cắt của Ngưu Lang và Chức Nữ đâu các bạn ạ!
Lại một nhóm Thường Việt khác, vốn có nguồn gốc từ Âu Cơ (Âu Việt). Từ nước Chiêm Thành, Phù Nam, hòa huyết ra các nước Cát Miệt (Cao Miên, Campuchia), Thái Lan, Malaysia… Nói chung họ là dòng Thường Việt, Dương Việt, Âu Việt mà ngày nay ta gọi là Thái, Tráng (Choang)… Về người Thái Lan, vốn được hòa huyết cùng người bản xứ là Cát Miệt với Thái của dòng Thường Việt, Dương Việt này mà ra. Thế nên ta không lấy làm ngạc nhiên gì cho mấy, khi biết các nước này có chung gen di truyền và cùng một tiếng nói cội nguồn của người Thái, Tráng tại Việt Nam.
Vấn đề là Nước Dạ Lang, sau khi bị Nhà Hán xóa mất trong quá khứ lịch sử. Dòng Lang Việt này hiện nay, đang lưu lạc nơi đâu? Bởi xét tượng trời theo Thiên Thư thì con Chó Đá, vẫn đang ngóng chủ một cách trung thành trong văn hóa của người Việt Nam hôm nay. Theo thiên tượng đó, thì dòng Lang Việt chưa hề tuyệt chủng bao giờ cả!!! Vậy nếu ta xét kể từ khi Bà Âu Cơ dẫn 50 con định cư từ Chiêm Thành trở vào. Trong giống nòi lúc đó bao gồm các dòng như; Thường Việt, Dương Việt, Âu Việt…, thuộc hệ Mẹ (Cửu Lê). Và các dòng Lang Việt, Kinh Việt, Lạc Việt…, thuộc hệ Cha (Tam Miêu). Vậy Lang Việt đang lẫn lộn trong Miêu Việt, thuộc dân tộc Kinh ngày nay.
Thế nên dòng Thiên Lang đó. Vẫn mãi trung thành mà ngóng chủ, đến nỗi hóa đá trong văn hóa của người Việt! Năm nay cũng đã đúng là năm của Chó Đá (Mậu Tuất)!! Không biết chó đá có vẫy đuôi mừng chủ về kịp thời điểm hay không? Mà cũng không biết chủ đã về đến hay chưa? Hay còn phải chịu nhiều oan khuất nào nữa? Khiến cho sự ngóng chờ cơ nghiệp ngàn năm của dân tộc, vẫn mãi mỏi mòn ngóng trông…
Bởi cái gương xưa còn đó; Chủ nay e chăng việc “chưa đỗ ông nghè, đã đe làng tổng”, mà phải lặng tiếng giữa thời t*o loạn… Khiến nên dân tộc vẫn mãi mong chờ trong khắc khoải từng ngày qua đi…, qua đi…, qua đi…
Mong lắm thay!
Bởi Dậu đã thủng, rào đã thưa…, Chó có sủa dồn… chăng?!
Vẫn, nén tiếng..., thở dài… ngao ngán…
Chào xuân Mậu Tuất cùng các bạn trên trang Ký Sự Phía Bên Kia Không Gian Chiều Thứ Tư. Chúng ta cùng tán gẫu đầu năm làm động lực nhé. Nếu tính theo Ngũ Can Tuất, thì Mậu Tuất thuộc về “con chó đá”!
Thoạt nghe cũng lạ tai! Bởi như Giáp Tuất là chó gỗ (Mộc), Bính Tuất rõ là chó lửa (Hỏa) đi rồi còn gì? Vậy xét tiếp Canh Tuất là chó sắt (Kim) và Nhâm Tuất đành là chó nước (Thủy) thôi vậy. Thế nên Mậu Tuất, ắt chúng ta phải xem là chó đá (Thổ) các bạn nhé!
Nếu như dòng sử thiêng của giống nòi Thần Tiên, trót đã đa mang nặng gánh thiên thư với thiên tượng Hòn Vọng Phu nơi ải bắc Lạng sơn thì; Tại Nam môn quan cũng đáp lại tượng Hòn Phu Tử ở Kiên Giang, cùng ngóng chờ thời khắc giống nòi đoàn viên sau bao ngàn năm chia lìa. Thế nên văn hóa của dân tộc này cũng kịp có một trang huyền tích của Con Chó Đá cho đủ được gọi là đèo bòng vậy!
Một con chó ngóng chủ trong trang sử của dân tộc, suốt bao ngàn năm cũng hóa đá mà trung thành cùng đôi tượng chủ đang mãi lạc nhau!? Mong lắm thay. Con chó đá của năm nay, rũ bụi rêu phong của thời gian từng phủ lấp ký ức dân tộc Việt. Bất chợt vẫy đuôi, mừng chủ về đến đúng thời điểm mà ngàn năm giống nòi đã từng ngóng chờ trong linh cảm của núi sông bao đời qua. Chúng ta cũng đã từng biết được rằng; Con Chó Đá ngóng chủ trong trang sử thiêng của người Việt đó. Chỉ đứng lên vẫy đuôi mừng, khi chủ đã được ghi danh trong sách trời là đỗ Trạng Nguyên mà thôi. Bằng không, chó đá vẫn trơ như tượng phỗng mà ngồi ngóng mãi cùng năm tháng…, một cách trung thành miệt mài theo thiên ý.
Chúng ta cùng nhau dò tìm lại dấu vết xưa kia, kể từ khi giống nòi Bách Việt phải lưu lạc vì chiến tranh do tham vọng của thiên hạ. Vậy thì mấy ai hôm nay, trong nhóm Bách Việt đó. Biết được rằng chúng ta đã từng lạc mất dòng Lang Việt, trong giai đoạn nào đó của quá khứ đầy tang thương vốn đong đầy oan khốc. Từ đó, dẫn đến nhánh rẽ của dòng sử thiêng mà phải lạc mất một trong những tộc đầu dòng như thế?! Bởi tộc Lang Việt vốn lấy linh vật Thiên Lang làm linh hiệu (logo)!!! Nguồn gốc có diễn biến nơi đầu nguồn dòng sử của giống nòi Bách Việt, được tôi mô tả lại cùng các bạn như sau:
Các bạn riêng trên trang này đã biết qua giai đoạn khi Hoàng Đế thôn tính xong Thần Nông và Xi Vưu thì đã thành dân chung một nước. Tôi có nhắc đến việc hai tộc Phục Hy và Xi Vưu kết duyên cùng tộc Hoàng Đế (Hữu Hùng) thì được gọi là Hoa Trung (dẫn đến tên gọi như Trung Hoa ngày nay. Do ý từ chữ Trung Hòa mà ra). Khi Hoàng Đế gả con về với Xi Vưu thì được gọi là Hoa Hạ. Bằng như gả cho Phục Hy thì là Hoa Thượng. Thế nhưng ở đây chúng ta chưa bàn đến chuyện dòng của Phục Hy gả về cho Xi Vưu! Đó chính là dòng mà sử xưa gọi là Lang Việt, Điền Việt. Cho nên cái huyền tích Ngưu Lang Chức Nữ, cũng là để ám chỉ đến sự kiện này mà ra cả!
Để các bạn có thể hình dung sâu hơn nữa về cội nguồn. Tôi lại phải giới thiệu sơ qua cái gốc của sự việc đó, có nguyên nhân như sau:
Trong “Kỷ Tam Nguyên” mà ta quen gọi là Tam Tài ban đầu đó. Ta thấy có 3 dòng là Hữu Hùng, Xi Vưu và Phục Hy. Trong đó, thì họ Hồng Bàng của Xi Vưu mới là Cổ Thiên Tử mà thôi. Khi Hữu Hùng chiếm được thì mới tự lạm xưng là Hoàng Đế như ta đã biết. Thế nhưng trong giai đoạn của dòng sử xa mờ này. Khó có một ai có thể nhận ra được là;
Cha của Hoàng Đế là dòng về Thiếu Điển. Vậy cha của Chiến Thần Xi Vưu chính là dòng thuộc Thái Điển rồi vậy. Thế nhưng cha của Phục Hy là thuộc phả hệ của dòng nào? Giai đoạn mà tôi đang nhắc đến cùng các bạn ở đây chính là giai đoạn của cái gọi là Kỷ Nhị Nguyên phân lập. Cho nên, chưa có sự hiện diện của dòng Phục Hy. Đây là một sự thật mà trong thiên thư ghi chép một cách rất rõ ràng.
Bởi vì ta chỉ biết trong Kỷ Tam Nguyên, có sự hiện diện của Tam Tộc là Xi Vưu, Hoàng Đế, Phục Hy đại diện cho nguyên lý Tam Dương. Về Tam Âm là Kim Mẫu Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ và Nữ Oa Nương Nương. Từ đây, ta đều manh nha hiểu được ra rằng; Nữ Oa là vợ của Phục Hy, Tây Vương Mẫu là vợ của Hoàng Đế và Tiên Huyền Nữ là vợ của Xi Vưu. Đó là bộ Tam âm Tam dương của buổi ban đầu khởi nguồn mọi dòng sử của toàn miền quá khứ thuở hồng hoang này.
Ta không biết được rằng Phục Hy vốn lại là một thuộc quyền dưới trướng của Tây Vương Mẫu trong cung Diêu Trì mà ra. Sau khi Kim Mẫu theo về với Hoàng Đế, thì Phục Hy cũng theo mà cùng ngụ trong gò Hiên Viên của Tòa Bắc Đẩu. Chính vì sau đó, trộm tuyệt kỹ Dao Cầm mà xảy ra việc Hoàng Đế phát hiện, phải cất thân chinh phạt Thần Nông. Rồi từ đó kéo theo đến việc thôn tính Xi Vưu. Từ đây khiến dẫn đến loạn lạc ra khắp thiên hạ đến tận hôm nay, khi chúng ta đang cùng tham luận những tản mạn này. Ta không được lầm lẫn giữa Hiên Viên là Phục Hy với Hữu Hùng là Hoàng Đế. Và sau này sử mới gọi chung là Hiên Viên Hoàng Đế, Cộng Chủ, Cộng Công, hoặc Viêm Hoàng tử tôn là một. Đó chính là sự chủ đích lập lờ đánh lận con đen của họ mà ra. Không hề có việc đế Du Võng mãi tận đời thứ 8 nào, thêm thắt để lạc được vào đây cả. Mọi sai lạc này là từ Ngô Sĩ Liên bày ra một cách vô lối.
Việc Nữ Oa từng gieo cả quả núi về phía của Chiến Thần Xi Vưu khi xưa mà sử của họ còn ghi lại. Vậy thì đời của Đế Du Võng, thuộc hàng Chút, Chít đời thứ 8 nào lại dám cả gan hiện diện nơi đây cho được. Lại còn là con của Đế Lai thì càng phải xóa kịch bản này đi nhanh hơn mà thôi. Bởi điều đó thật khôi hài lắm thay. Lại câu Cộng Chủ mà Tư Mã Thiên có nhắc đến đối với Cổ Thiên tử Xi Vưu. Chính là Hoàng Đế và Thần Nông chứ không phải là Du Võng bao giờ cả. Vậy trận Phản Tuyền, chính là trận đánh mà Hoàng Đế đã diệt Thần Nông mà thôi.
Ta thấy, cái gọi là Viễn Đông Bác Cổ của người Pháp đó. Không đủ để lạm bàn đến huyền sử của dòng Bách Việt cho nổi là một sự thật rồi vậy. Bởi vì cái nhìn nông cạn của họ vẫn bị che khuất từ bức màn của Ngô Sĩ Liên là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mà thôi. Dĩ nhiên lối mòn đó sẽ dẫn tư duy của các học giả lẫn sử gia người Pháp đến với sử ký của Tư Mã Thiên mà thôi. Tóm lại; Người Pháp, không hề đủ khả năng để quan sát cũng như đánh giá đến cội nguồn của dân tộc Việt Nam này cho được. Thật đáng buồn thay cho giống nòi. Bởi không ít những thế hệ trước đây, từng du học bên Pháp. Đã có những quan điểm lai căn về cội nguồn của Dân Tộc Việt Nam hôm nay.
Cho nên ta thấy dòng Lang Việt với linh tượng Thiên Lang đó. Người Trung Quốc đã gọi là dòng Sói Lang! Thế nhưng họ không thể nào che được một sự thật là dòng Hoàng Đế lẫn Xi Vưu vẫn gọi là Thần Nhị Lang. Dĩ nhiên với quan điểm của Tiên Đạo thì Hạo Thiên Khuyển phải là của Nhị Lang Thần mà không khác chủ cho được. Tề Thiên, nhất thiết phải sợ Hạo Thiên Khuyển.
Tản mạn mãi những giềng mối rối loạn, phủ lấp như thế. Chúng ta mới có thể bàn thảo đến con chó đá hôm nay trong huyền sử của dân tộc, trước ngưỡng cửa của năm Mậu Tuất này cho được.
Về tộc Lang Việt trong Bách Việt đó. Xưa kia sử sách từng có ghi chép lại là nước Dạ Lang, Thiên Độc, Tang Kha, Phù Đồ… Vì thế cho nên ta mới thấy nước Phù Tang hay Phù Nam là ý ám chỉ đến dòng Lang Việt của nước Dạ Lang này. Đa số đã bị lạc mất tông tích của dòng tộc này nói chung. Đã từng có rất hiếm những học giả, sử gia cứ ngỡ rằng họ đã bị tuyệt chủng cùng với Nước Điền Việt trong giai đoạn Nhà Hán đô hộ 1000 năm mất đi rồi. Bởi vì khi Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt của Triệu Đà. Đã từng có âm mưu liên kết cùng nước Dạ Lang, sau mới có thể đánh úp được nước Nam Việt của Triệu Đà khi xưa.
Ta thấy sử xưa chỉ thoáng nhắc nhớ đến đại loại như Hoài Nam…, Nam Hoa… Người Việt đến nay vẫn nhắc trong sự tiếc thương da diết cho giống nòi này qua những ca điệu Nam Ai, Nam Bình của miền Trung. Hay như khúc Dạ Cổ Hoài Lang của người miền Nam vậy. Thế nhưng có mấy ai hiểu được những lời ca ai oán đó, cốt là để thương nhớ về dòng Lang Việt này, đã từng thất lạc giống nòi trong quá khứ khi xưa bởi chiến tranh. Ta có thể xét thấy sự kiện dẫn đến loạn lạc vì chiến tranh, không phải từ trận Trác Lộc. Mà là từ giai đoạn Nhà Thương vượt qua sông Dương Tử. Đánh vào nước Xích Quỹ của Kinh Dương Vương nơi Hồ Động Đình và Hồ Phiên Dương mà ra.
Tiếp đến là sự loạn lạc thứ hai xảy ra là khi Tần Thủy Hoàng đánh vào vùng Ngũ Lĩnh. Khi đó các tộc bao gồm Kinh Việt, Dương Việt, Thường Việt, Mân Việt, Lang Việt, Điền Việt, Tây Âu, Âu Việt, Lạc Việt… đang sinh sống toàn vùng phía bờ nam sông Dương Tử. Chính giai đoạn này mà dòng Bách Việt với địa phận của Nước Điền Việt, giáp với Miến Điện và Ai Lao. Họ đã di tản ra các nước quanh vùng, kể cả Ấn Độ. Do dòng Thường Việt, Dương Việt là chủ đạo từ dòng Mẹ (Tiên Huyền Nữ). Thế nên dòng này đã hòa huyết với toàn vùng khi đấy.
Khảo luận nơi đây, buộc chúng ta phải xem xét kỹ càng hơn giai đoạn ly tán này của giống nòi Bách Việt như sau: Giai đoạn này chính là giai đoạn Xuân Thu, thuộc Đông Chu. Đồng thời cũng chính là lúc Phật Thích Ca tại thế ở Ấn Độ. Với dòng Thường Việt, dòng có và hiểu rất rõ về di ấn của Quy Tàng Dịch đang lưu cư bên đó (di tản từ chiến tranh Nhà Thương). Và việc Đề Bà Đạt Đa cùng với Kiều Trần Như tức tốc dò tìm sang Việt Nam như tôi từng có nhắc đến là hoàn toàn hợp logic. Bởi dò theo dấu chân của Kiều Trần Như, thì sẽ thấy trước khi đến nước Phù Nam trong giai đoạn đó. Kiều Trần Như đã từng đi qua nước Dạ Lang (Phù Đồ) của dòng Lang Việt. Không phải ngẫu nhiên mà thiên ý định cho A Nan khi mất đi, đã nguyện hóa thành giống Quạ. Một loài chim chỉ chờ ngày 7 tháng 7 hằng năm. Chỉ một lòng đội đá, bắc cầu cho sự chia cắt của Ngưu Lang và Chức Nữ đâu các bạn ạ!
Lại một nhóm Thường Việt khác, vốn có nguồn gốc từ Âu Cơ (Âu Việt). Từ nước Chiêm Thành, Phù Nam, hòa huyết ra các nước Cát Miệt (Cao Miên, Campuchia), Thái Lan, Malaysia… Nói chung họ là dòng Thường Việt, Dương Việt, Âu Việt mà ngày nay ta gọi là Thái, Tráng (Choang)… Về người Thái Lan, vốn được hòa huyết cùng người bản xứ là Cát Miệt với Thái của dòng Thường Việt, Dương Việt này mà ra. Thế nên ta không lấy làm ngạc nhiên gì cho mấy, khi biết các nước này có chung gen di truyền và cùng một tiếng nói cội nguồn của người Thái, Tráng tại Việt Nam.
Vấn đề là Nước Dạ Lang, sau khi bị Nhà Hán xóa mất trong quá khứ lịch sử. Dòng Lang Việt này hiện nay, đang lưu lạc nơi đâu? Bởi xét tượng trời theo Thiên Thư thì con Chó Đá, vẫn đang ngóng chủ một cách trung thành trong văn hóa của người Việt Nam hôm nay. Theo thiên tượng đó, thì dòng Lang Việt chưa hề tuyệt chủng bao giờ cả!!! Vậy nếu ta xét kể từ khi Bà Âu Cơ dẫn 50 con định cư từ Chiêm Thành trở vào. Trong giống nòi lúc đó bao gồm các dòng như; Thường Việt, Dương Việt, Âu Việt…, thuộc hệ Mẹ (Cửu Lê). Và các dòng Lang Việt, Kinh Việt, Lạc Việt…, thuộc hệ Cha (Tam Miêu). Vậy Lang Việt đang lẫn lộn trong Miêu Việt, thuộc dân tộc Kinh ngày nay.
Thế nên dòng Thiên Lang đó. Vẫn mãi trung thành mà ngóng chủ, đến nỗi hóa đá trong văn hóa của người Việt! Năm nay cũng đã đúng là năm của Chó Đá (Mậu Tuất)!! Không biết chó đá có vẫy đuôi mừng chủ về kịp thời điểm hay không? Mà cũng không biết chủ đã về đến hay chưa? Hay còn phải chịu nhiều oan khuất nào nữa? Khiến cho sự ngóng chờ cơ nghiệp ngàn năm của dân tộc, vẫn mãi mỏi mòn ngóng trông…
Bởi cái gương xưa còn đó; Chủ nay e chăng việc “chưa đỗ ông nghè, đã đe làng tổng”, mà phải lặng tiếng giữa thời t*o loạn… Khiến nên dân tộc vẫn mãi mong chờ trong khắc khoải từng ngày qua đi…, qua đi…, qua đi…
Mong lắm thay!
Bởi Dậu đã thủng, rào đã thưa…, Chó có sủa dồn… chăng?!
Vẫn, nén tiếng..., thở dài… ngao ngán…
Không gian chiều thứ 4? Khai thác các chiều không thời gian
76 - KHAI THÁC CÁC CHIỀU KHÔNG – THỜI GIAN…
Cuộc du hành trên trang Ký Sự này. Sau khi vượt qua các vũ trụ của Ma Trận, cuối cùng cũng đã đưa chúng ta đến miền ranh giới của độ mông hạn ảnh!...
Nơi chân trời sự kiện này. Nhân loại chúng ta vấp phải sự cố mà mô hình của trật tự tự nhiên đặt ra là yêu cầu giải bài toán không - thời gian gồm có bao nhiêu chiều cả thảy! Bởi vì đó chính là chiếc vé thông hành, để chúng ta có thể du hành vào vùng biến cố địa phương tương lai được!! Vì thế, trước cánh cổng của giai đoạn, Tạo Hóa đang kiểm soát vé…!!!
Vậy các du hành viên độc giả, nhất định phải cùng hướng dẫn viên tôi; Quan sát, thảo luận, nhận định đối tượng Không – Thời gian bị quan sát đó. Bắt đầu từ những gì dưới đây, sau hai dấu chấm xuống dòng là…
Chúng ta phải quay trở lại vị trí ban đầu là biểu đồ của Friedmann với mô hình không – thời gian 2 chiều. Tiến hành quan sát toàn miền…, và thao lược lại sự hình thành vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện trật tự các chiều như sau:
Chúng ta ôn lại mô hình hình thành của vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện của “Chất Điểm” tại vị trí của số 0 trong hình 1. Trong hình thứ 2 thì diễn tả rằng; Chất điểm tuy trong trạng thái chân như bất động nguyên thủy. Thế nhưng thời gian vẫn đang trôi qua… Thế cho nên ta thấy theo chiều tung (quy định là chiều của thời gian), có tượng vận hành hướng lên…, để diễn tả thời gian đang vận hành.
Cứ thế, chiều mũi tên vận hành hướng lên mãi theo thời gian… Thế nên trong hình 2, tôi diễn tả tính đồng thời trong đó là ta quan sát thấy sự vận hành của thời gian đến khoảng cách mà thời điểm xuất hiện vị trí của số 1! Điều này cũng có nghĩa là thời điểm của vũ trụ ban đầu đó, trạng thái mô phỏng và phản ảnh chỉ có 1 chiều. Dĩ nhiên chiều thời gian là xuất hiện đầu tiên.
Do có tính chu kỳ, cho nên tại thời điểm của chu kỳ. Thời gian 1 chiều đó tự nhiên phải lập lại. Thế nên cái lý, do lập lại tại điểm 0 ban đầu. Chiều không gian vốn có tính đồng nhất, nên bắt buộc phải đồng nhất cùng chiều thời gian mà hình thành chiều không gian theo chiều hoành trên biểu đồ của hình 3. Và ta xét thấy trong thời điểm mà chu kỳ thời gian 1 chiều lập lại đó. Vũ trụ hình thành theo trật tự tự nhiên là không gian chiều thứ 2 ra đời. Trong hình 3 này, tất nhiên tôi cũng lấy số 2 làm biểu thị cho chiều không gian để ám chỉ chỉ trạng thái không - thời gian 2 chiều ban đầu của mô hình vũ trụ hình thành thuở sơ khai.
Cuối cùng, hiễn nhiên là hình 4 diễn tả sự hình thành của mô hình vũ trụ ban đầu với mô hình của không – thời gian 2 chiều. Điều này mô tả chính xác với biểu đồ không – thời gian của Friedmann không khác. Cũng bởi cái lý số 4 là số thành. Thế cho nên các bạn thấy trong hình thứ 4 này, tôi đã thay ngôn ngữ số thành ngôn ngữ của ký tự.
Với biểu đồ đã trình bày vừa qua như ở trên. Tôi diễn tả chiều tung là chiều của thời gian 1 chiều theo mũi tên hướng lên. Từ A đến B là khoảng cách (x) mà thời gian vận hành để hình trong vũ trụ sơ khởi. Và chiều hoành với vị trí từ A đến C được xem là khoảng cách của không gian chiều thứ 2 tiếp theo trật tự tự nhiên của mô hình Tạo Hóa. Vì thế nên biểu đồ của Friedmann này là mô hình của không – thời gian 2 chiều mà thôi. Trong đó thì không gian 1 chiều, và thời gian là 1 chiều. Vậy điều tiếp đến là chúng ta phải tìm xem chiều không gian thứ 2 trong mô hình của không – thời gian 3 chiều đang tiềm ẩn ở đâu trong biểu đồ này?
Ta cũng biết không gian và thời gian vốn có tính đồng nhất trong đó. Vậy ta xem xét đối với một trong 2 chiều thì chiều không gian thứ 2 không thể tiềm ẩn trong chiều hoành, vốn là chiều không gian thứ 1 ban đầu cho được. Mà nó phải tiềm ẩn theo chiều của thời gian là chiều tung trong mô hình. Nguyên tắc hình thành ban đầu là xuất hiện chiều thời gian vận hành trước. Cho nên ta cũng xem xét và lược lại sự hình thành vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện trật tự các chiều tại vị trí có khả năng tiềm ẩn của chiều thời gian như sau:
Vẫn trung thành theo nguyên tắc cũng như trật tự của sự hình thành đó của mô hình tự nhiên. Với hình 1, lúc này đã được trình bày đúng với biểu đồ không – thời gian 2 chiều của Friedmann. Cho nên các bạn cũng quan sát thấy hình thành các ký tự A, B, C là bởi: Khi ta xem xét trong chiều dọc (chiều thời gian) thì ta phải đọc ngang. Cho nên lúc này phải bố trí ký tự theo trật tự của sự thành quả chứ không phải là cái lý của nguyên nhân nữa. Do ta đang tiến hành xem xét và khai thác chiều không gian thứ 3, đang tiềm ẩn trong chiều thời gian thứ 1 chứ không phải ở chiều không gian thứ 2. Và các bạn cũng đừng quên đây cũng chính là cái lý của Dịch vậy.
Vậy tôi sẽ trình bày sự khai thác đó, các bạn tiếp tục quan sát tiến trình tiếp diễn được lập luận lý của nó như sau:
Các bạn cũng đã biết rằng tại vị trí của A, chính là vị trí mà ta đã xác định được là vị trí gốc của không – thời gian rồi. Như thế, nếu xét trong khoảng cách của chiều không gian đó thì; Điểm B chính là vị trí “điểm ngọn”, so với “điểm gốc” của không gian. Và khi ta chuyển vị trí quan sát qua góc độ của chiều thời gian thì cũng đồng một mô hình mà tự nhiên phản ảnh như thế. Cho nên từ A đến C cũng có nghĩa là vị trí điểm gốc và ngọn của chiều thời gian trong mô hình cơ bản chung.
Do không – thời gian vốn là đồng nhất. Thế nên ta nối một đường thẳng từ điểm ngọn của chiều không gian tại B và chiều thời gian tại C lại với nhau. Ta chia đôi giữa đường thẳng của hai chiều không – thời gian đó để xác định vị trí tâm của hai chiều tại điểm d. Tiếp đến, thì sự diễn đạt trong hình 2 là ta nối một đường thẳng tại vị trí gốc của không thời gian đến vị trí tâm của không – thời gian. Ta sẽ xác định được chiều thứ 3 phải xuất hiện. Và hình 3 như ở trên, là mô tả đến sự hình thành của mô hình không – thời gian 3 chiều hoàn thiện từ buổi ban đầu của vũ trụ cơ bản tự nhiên không khác được.
Từ đây, ta rút ra được một kết luận rằng: Không gian chiều thứ 3 sẽ xuất hiện tại vị trí giữa tâm của không – thời gian 2 chiều. Có nguyên nhân phát triển dựa trên nền tảng tại điểm gốc của không – thời gian.
Với những gì mà tôi trình bày vừa qua ở trên. Chúng ta nhận thấy một mô hình thực tại của vũ trụ sơ khởi hình thành ban đầu với trật tự các chiều từ 1, 2, 3 trong đó một cách cơ bản nhất định. Điều này như một quyết định khai tử mô hình không - thời gian hình thành ban đầu của Thuyết Big Bang. Nó vốn chỉ được sinh ra từ sự hư cấu của một giả định không xác định. Là quan điểm chung đã hình thành từ sự xác xuất của Thuyết Lượng Tử đương thời khi đó mà thôi. Đây quả thật là cả một sự vô lý mà tôi rất lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Khi Thuyết Big Bang nổ ra là đã có đủ 3 chiều không gian bao gồm cả chiều thứ 4 là thời gian trong đó rồi!
Sự đột tử từ Thuyết Big Bang qua kiến giải sự hình thành vũ trụ ban đầu như ở trên. Sẽ khiến cho mô hình không – thời gian của Lý Thuyết Dây, chỉ là sự hoài thai giả định trong tư tưởng của các nhà bác học mà thôi. Bằng như các nhà khoa học không chấp nhận sự tận thế đầu tiên xảy ra trong thế giới của khoa học. Không đành lòng nhìn tòa công trình Big Bang, bị nhấn chìm dưới đáy đại đương của kỷ nguyên mới là một thực tại. Tôi cũng nương theo sự nuối tiếc đó mà bố trí lại thực tại của mô hình không – thời gian của vũ trụ ban đầu đó. Và mở một lối thoát làm cứu cánh như sau:
Do tiến trình hình thành các chiều không – thời gian của vũ trụ ban đầu, vốn có trật tự tự nhiên như thế (1, 2, 3). Sự hình thành chiều thứ nhất trong mô hình của vũ trụ sơ khởi ban đầu là thời gian. Những thực tại ý thức này, hoàn toàn không có trong ý niệm của Thuyết Big Bang nữa! Vậy tôi sẽ đưa những điều thực tại này tồn tại vào khoảng thời gian từ giây 0, sau vụ nổ Big Bang đến thời điểm của 10^-33. Thời điểm mà quan điểm của Thuyết Big Bang gọi là “thời kỳ lạm phát”. Ta thấy xu hướng các nhà khoa học lạm dụng quy tắc; “Được phép bỏ qua những yếu tố không lý giải, để đủ được gọi là khoa học” này như một cơn nghiện kinh niên. Hoặc tôi sử dụng môt góc ngôn ngữ mô tả khác là; Như một căn bệnh nan y di truyền trên thân thể của Thuyết Lượng Tử, và lây lan dần trên diện tư tưởng rộng của tương lai.
Tóm lại; Cái thời gian sơ khai của vũ trụ ban đầu mà Thuyết Big Bang gọi là thời kỳ vũ trụ lạm phát đó. Chính là thời kỳ vũ trụ trong tuổi ấu thơ! Các nhà khoa học, với quan điểm đuổi theo những giá trị của vật chất. Đã bỏ qua giai đoạn thời gian này, giống như đã đánh cắp mất đi tuổi ấu thơ ban đầu của vũ trụ vậy!! Thế nên nhân loại chúng ta không hề biết gì đến những diễn biến từ thuở ban đầu của vũ trụ đó cho được. Thế nên thời kỳ ấu thơ của vũ trụ mà tôi vừa mở lối cho Thuyết Big Bang tìm về đó. Sẽ là một cứu cánh cho nền khoa học, nếu các nhà chuyên môn tìm về…
Với quan điểm của người Việt xưa nay. Thời kỳ ban đầu đó, được gọi là tuổi ấu thơ của vũ trụ. Là tuổi Thần Tiên! Bởi vì tuổi ấu thơ ban đầu đó lại chính là thế giới Thần Tiên của Tiểu Vũ Trụ, của tất cả vũ trụ nhân loại chúng ta. Nhân loại chúng ta vì mãi theo đuổi những giá trị vật chất mà đã vô tình đánh mất thế giới Thần Tiên này trong quá khứ của tâm khảm rồi vậy.
Và dân tộc Việt lại chính là giống nòi của Thần Tiên! Thế cho nên giống nòi này; Hiểu rõ những giá trị thực tại nào, tiềm ẩn trong thế giới của xứ sở Thần Tiên đó.
Điều này; Lại cũng là một thực tại tự nhiên của Tạo Hóa, không khác.
Cuộc du hành trên trang Ký Sự này. Sau khi vượt qua các vũ trụ của Ma Trận, cuối cùng cũng đã đưa chúng ta đến miền ranh giới của độ mông hạn ảnh!...
Nơi chân trời sự kiện này. Nhân loại chúng ta vấp phải sự cố mà mô hình của trật tự tự nhiên đặt ra là yêu cầu giải bài toán không - thời gian gồm có bao nhiêu chiều cả thảy! Bởi vì đó chính là chiếc vé thông hành, để chúng ta có thể du hành vào vùng biến cố địa phương tương lai được!! Vì thế, trước cánh cổng của giai đoạn, Tạo Hóa đang kiểm soát vé…!!!
Vậy các du hành viên độc giả, nhất định phải cùng hướng dẫn viên tôi; Quan sát, thảo luận, nhận định đối tượng Không – Thời gian bị quan sát đó. Bắt đầu từ những gì dưới đây, sau hai dấu chấm xuống dòng là…
Chúng ta phải quay trở lại vị trí ban đầu là biểu đồ của Friedmann với mô hình không – thời gian 2 chiều. Tiến hành quan sát toàn miền…, và thao lược lại sự hình thành vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện trật tự các chiều như sau:
Chúng ta ôn lại mô hình hình thành của vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện của “Chất Điểm” tại vị trí của số 0 trong hình 1. Trong hình thứ 2 thì diễn tả rằng; Chất điểm tuy trong trạng thái chân như bất động nguyên thủy. Thế nhưng thời gian vẫn đang trôi qua… Thế cho nên ta thấy theo chiều tung (quy định là chiều của thời gian), có tượng vận hành hướng lên…, để diễn tả thời gian đang vận hành.
Cứ thế, chiều mũi tên vận hành hướng lên mãi theo thời gian… Thế nên trong hình 2, tôi diễn tả tính đồng thời trong đó là ta quan sát thấy sự vận hành của thời gian đến khoảng cách mà thời điểm xuất hiện vị trí của số 1! Điều này cũng có nghĩa là thời điểm của vũ trụ ban đầu đó, trạng thái mô phỏng và phản ảnh chỉ có 1 chiều. Dĩ nhiên chiều thời gian là xuất hiện đầu tiên.
Do có tính chu kỳ, cho nên tại thời điểm của chu kỳ. Thời gian 1 chiều đó tự nhiên phải lập lại. Thế nên cái lý, do lập lại tại điểm 0 ban đầu. Chiều không gian vốn có tính đồng nhất, nên bắt buộc phải đồng nhất cùng chiều thời gian mà hình thành chiều không gian theo chiều hoành trên biểu đồ của hình 3. Và ta xét thấy trong thời điểm mà chu kỳ thời gian 1 chiều lập lại đó. Vũ trụ hình thành theo trật tự tự nhiên là không gian chiều thứ 2 ra đời. Trong hình 3 này, tất nhiên tôi cũng lấy số 2 làm biểu thị cho chiều không gian để ám chỉ chỉ trạng thái không - thời gian 2 chiều ban đầu của mô hình vũ trụ hình thành thuở sơ khai.
Cuối cùng, hiễn nhiên là hình 4 diễn tả sự hình thành của mô hình vũ trụ ban đầu với mô hình của không – thời gian 2 chiều. Điều này mô tả chính xác với biểu đồ không – thời gian của Friedmann không khác. Cũng bởi cái lý số 4 là số thành. Thế cho nên các bạn thấy trong hình thứ 4 này, tôi đã thay ngôn ngữ số thành ngôn ngữ của ký tự.
Với biểu đồ đã trình bày vừa qua như ở trên. Tôi diễn tả chiều tung là chiều của thời gian 1 chiều theo mũi tên hướng lên. Từ A đến B là khoảng cách (x) mà thời gian vận hành để hình trong vũ trụ sơ khởi. Và chiều hoành với vị trí từ A đến C được xem là khoảng cách của không gian chiều thứ 2 tiếp theo trật tự tự nhiên của mô hình Tạo Hóa. Vì thế nên biểu đồ của Friedmann này là mô hình của không – thời gian 2 chiều mà thôi. Trong đó thì không gian 1 chiều, và thời gian là 1 chiều. Vậy điều tiếp đến là chúng ta phải tìm xem chiều không gian thứ 2 trong mô hình của không – thời gian 3 chiều đang tiềm ẩn ở đâu trong biểu đồ này?
Ta cũng biết không gian và thời gian vốn có tính đồng nhất trong đó. Vậy ta xem xét đối với một trong 2 chiều thì chiều không gian thứ 2 không thể tiềm ẩn trong chiều hoành, vốn là chiều không gian thứ 1 ban đầu cho được. Mà nó phải tiềm ẩn theo chiều của thời gian là chiều tung trong mô hình. Nguyên tắc hình thành ban đầu là xuất hiện chiều thời gian vận hành trước. Cho nên ta cũng xem xét và lược lại sự hình thành vũ trụ ban đầu với sự xuất hiện trật tự các chiều tại vị trí có khả năng tiềm ẩn của chiều thời gian như sau:
Vẫn trung thành theo nguyên tắc cũng như trật tự của sự hình thành đó của mô hình tự nhiên. Với hình 1, lúc này đã được trình bày đúng với biểu đồ không – thời gian 2 chiều của Friedmann. Cho nên các bạn cũng quan sát thấy hình thành các ký tự A, B, C là bởi: Khi ta xem xét trong chiều dọc (chiều thời gian) thì ta phải đọc ngang. Cho nên lúc này phải bố trí ký tự theo trật tự của sự thành quả chứ không phải là cái lý của nguyên nhân nữa. Do ta đang tiến hành xem xét và khai thác chiều không gian thứ 3, đang tiềm ẩn trong chiều thời gian thứ 1 chứ không phải ở chiều không gian thứ 2. Và các bạn cũng đừng quên đây cũng chính là cái lý của Dịch vậy.
Vậy tôi sẽ trình bày sự khai thác đó, các bạn tiếp tục quan sát tiến trình tiếp diễn được lập luận lý của nó như sau:
Các bạn cũng đã biết rằng tại vị trí của A, chính là vị trí mà ta đã xác định được là vị trí gốc của không – thời gian rồi. Như thế, nếu xét trong khoảng cách của chiều không gian đó thì; Điểm B chính là vị trí “điểm ngọn”, so với “điểm gốc” của không gian. Và khi ta chuyển vị trí quan sát qua góc độ của chiều thời gian thì cũng đồng một mô hình mà tự nhiên phản ảnh như thế. Cho nên từ A đến C cũng có nghĩa là vị trí điểm gốc và ngọn của chiều thời gian trong mô hình cơ bản chung.
Do không – thời gian vốn là đồng nhất. Thế nên ta nối một đường thẳng từ điểm ngọn của chiều không gian tại B và chiều thời gian tại C lại với nhau. Ta chia đôi giữa đường thẳng của hai chiều không – thời gian đó để xác định vị trí tâm của hai chiều tại điểm d. Tiếp đến, thì sự diễn đạt trong hình 2 là ta nối một đường thẳng tại vị trí gốc của không thời gian đến vị trí tâm của không – thời gian. Ta sẽ xác định được chiều thứ 3 phải xuất hiện. Và hình 3 như ở trên, là mô tả đến sự hình thành của mô hình không – thời gian 3 chiều hoàn thiện từ buổi ban đầu của vũ trụ cơ bản tự nhiên không khác được.
Từ đây, ta rút ra được một kết luận rằng: Không gian chiều thứ 3 sẽ xuất hiện tại vị trí giữa tâm của không – thời gian 2 chiều. Có nguyên nhân phát triển dựa trên nền tảng tại điểm gốc của không – thời gian.
Với những gì mà tôi trình bày vừa qua ở trên. Chúng ta nhận thấy một mô hình thực tại của vũ trụ sơ khởi hình thành ban đầu với trật tự các chiều từ 1, 2, 3 trong đó một cách cơ bản nhất định. Điều này như một quyết định khai tử mô hình không - thời gian hình thành ban đầu của Thuyết Big Bang. Nó vốn chỉ được sinh ra từ sự hư cấu của một giả định không xác định. Là quan điểm chung đã hình thành từ sự xác xuất của Thuyết Lượng Tử đương thời khi đó mà thôi. Đây quả thật là cả một sự vô lý mà tôi rất lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Khi Thuyết Big Bang nổ ra là đã có đủ 3 chiều không gian bao gồm cả chiều thứ 4 là thời gian trong đó rồi!
Sự đột tử từ Thuyết Big Bang qua kiến giải sự hình thành vũ trụ ban đầu như ở trên. Sẽ khiến cho mô hình không – thời gian của Lý Thuyết Dây, chỉ là sự hoài thai giả định trong tư tưởng của các nhà bác học mà thôi. Bằng như các nhà khoa học không chấp nhận sự tận thế đầu tiên xảy ra trong thế giới của khoa học. Không đành lòng nhìn tòa công trình Big Bang, bị nhấn chìm dưới đáy đại đương của kỷ nguyên mới là một thực tại. Tôi cũng nương theo sự nuối tiếc đó mà bố trí lại thực tại của mô hình không – thời gian của vũ trụ ban đầu đó. Và mở một lối thoát làm cứu cánh như sau:
Do tiến trình hình thành các chiều không – thời gian của vũ trụ ban đầu, vốn có trật tự tự nhiên như thế (1, 2, 3). Sự hình thành chiều thứ nhất trong mô hình của vũ trụ sơ khởi ban đầu là thời gian. Những thực tại ý thức này, hoàn toàn không có trong ý niệm của Thuyết Big Bang nữa! Vậy tôi sẽ đưa những điều thực tại này tồn tại vào khoảng thời gian từ giây 0, sau vụ nổ Big Bang đến thời điểm của 10^-33. Thời điểm mà quan điểm của Thuyết Big Bang gọi là “thời kỳ lạm phát”. Ta thấy xu hướng các nhà khoa học lạm dụng quy tắc; “Được phép bỏ qua những yếu tố không lý giải, để đủ được gọi là khoa học” này như một cơn nghiện kinh niên. Hoặc tôi sử dụng môt góc ngôn ngữ mô tả khác là; Như một căn bệnh nan y di truyền trên thân thể của Thuyết Lượng Tử, và lây lan dần trên diện tư tưởng rộng của tương lai.
Tóm lại; Cái thời gian sơ khai của vũ trụ ban đầu mà Thuyết Big Bang gọi là thời kỳ vũ trụ lạm phát đó. Chính là thời kỳ vũ trụ trong tuổi ấu thơ! Các nhà khoa học, với quan điểm đuổi theo những giá trị của vật chất. Đã bỏ qua giai đoạn thời gian này, giống như đã đánh cắp mất đi tuổi ấu thơ ban đầu của vũ trụ vậy!! Thế nên nhân loại chúng ta không hề biết gì đến những diễn biến từ thuở ban đầu của vũ trụ đó cho được. Thế nên thời kỳ ấu thơ của vũ trụ mà tôi vừa mở lối cho Thuyết Big Bang tìm về đó. Sẽ là một cứu cánh cho nền khoa học, nếu các nhà chuyên môn tìm về…
Với quan điểm của người Việt xưa nay. Thời kỳ ban đầu đó, được gọi là tuổi ấu thơ của vũ trụ. Là tuổi Thần Tiên! Bởi vì tuổi ấu thơ ban đầu đó lại chính là thế giới Thần Tiên của Tiểu Vũ Trụ, của tất cả vũ trụ nhân loại chúng ta. Nhân loại chúng ta vì mãi theo đuổi những giá trị vật chất mà đã vô tình đánh mất thế giới Thần Tiên này trong quá khứ của tâm khảm rồi vậy.
Và dân tộc Việt lại chính là giống nòi của Thần Tiên! Thế cho nên giống nòi này; Hiểu rõ những giá trị thực tại nào, tiềm ẩn trong thế giới của xứ sở Thần Tiên đó.
Điều này; Lại cũng là một thực tại tự nhiên của Tạo Hóa, không khác.
Không gian chiều thứ 4? Truy Lùng giá trị thực tại tiểm ẩn
75 - TRUY LÙNG… GIÁ TRỊ THỰC TẠI TIỀM ẨN
Với tiêu đề của bài viết này. Các bạn thấy rằng câu Truy Lùng Giá Trị Thực Tại Tiềm Ẩn cũng có giá trị như là giá trị của một chân lý thực tại thất lạc vậy!
Các bạn chỉ hình dung rằng những giá trị đó chưa bao giờ hiển lộ, kể từ ngày Tạo Hóa gây hình vũ trụ cho đến hôm nay rồi. Chí ít thì trong giới hạn của 100 năm qua nơi đỉnh cao của nền khoa học vật lý. Biết bao nhà bác học cũng đã thay nhau chuyển giao cái ước mơ miên vĩ đó cho các thế hệ nối tiếp…, cứ thế mà chuyển giao… và chuyển giao…
Thế nên trong trang này. Chúng ta đang cùng nhau thảo luận đến sự việc hầu như là không tưởng, đối với nhân loại xưa nay nói chung. Đó là một lý tưởng, chúng ta hãy cố gắng dấn thêm nơi đoạn cuối để vượt qua cái sa mạc này nhé. Vậy chúng ta lại tiếp tục cuộc trường chinh..., khai thác suối nguồn đã lạc mạch. Thế hệ hôm nay, nếu một khi đã được hé lộ phần nào đó của thiên cơ. Chúng ta không có thể chấp nhận được việc; Tại sao dân tộc Do Thái với Kinh Thánh, họ đã khơi nguồn được cái mạch giếng giữa sa mạc khô cằn như thế. Khiến nên hằng năm, các giáo chúng có chung một cội nguồn vẫn hành hương về trung đông để tưởng nhớ...
Vậy thì không có lý do gì mà dân tộc Việt hôm nay đã tìm được Kinh Dịch cùng giống nòi thất lạc rồi, mà lại không có thể khơi được mạch suối nguồn chân lý đã tắc dòng từ trong quá khứ xa của dòng Sử Thần Tiên cho được?!
Mở bài với vài dòng mài dũa sĩ khí dân tộc lại như thế cho thêm tinh nhuệ. Chúng ta tiếp tục cuộc du hành thôi các bạn nhé:
Qua tham khảo bài Cửu Cung, chúng ta tích lũy thêm những giá trị tri kiến để quay trở lại quan sát chi tiết hơn đối với Ma Trận cấp 9x9 vừa qua một cách toàn diện các góc độ có được như sau:
Bây giờ, khi các bạn quan sát lại hai biểu đồ vừa nêu ở trên đây. Các bạn thấy đó chính là hai mô hình diễn đạt với những quỹ đạo tương tác cơ bản nhất mà chúng ta đã biết rồi. Thế nhưng vấn đề phát sinh là với mô hình của Ma trận cấp 9x9 trên đây. Mô hình này chỉ có đáp ứng được tất cả là 16 Ma trận có giá trị cùng một đáp số 369 mà thôi! Yêu cầu đòi hỏi đáp ứng hàng trăm Ma Trận (9x9) tương xứng là có khiếm khuyết nhất định cho mô hình cơ bản tổng thể rồi. Là bởi:
Xét theo nguyên lý của Dịch thì hệ thống Tam Tài có trật tự số sinh là 1 – 2 – 3. Nguyên lý này được thể hiện như câu… một sinh hai, hai sinh ba..., và ba sinh… vạn vật! Điều này cũng có nghĩa số 4 là “số thành” rồi vậy. Thế nên ta xét thấy Ma Trận các cấp của hệ số dương như 3, 5, 7, là đã vận hành qua 3 bước rồi. Vậy cho nên bước thứ 4 là phải biến, mà hóa ra khác đi nữa! Từ đây suy ra số 3 đã là giới hạn mà ta quen gọi với thuật ngữ chuyên môn là chân trời sự cố. Điều này được phản ảnh như không gian 3 chiều, và chiều thứ 4 là phải tiềm ẩn đi trong mô hình của không gian đó vậy. Là ở về phía bên kia của chân trời sự cố. Vùng biến cố địa phương! Thế nên quỹ đạo vận hành của 3 vùng không gian này là không còn giá trị ứng dụng được nữa. Đã thế, tôi lại thiết kế một mô hình của Ma Trận cấp 9x9 với một quỹ đạo khác và không khác đó (theo lý tính của Thuyết Lượng Tử bao gồm cả Dịch Lý) như sau:
Với mô hình Ma Trận cấp 9x9 mà tôi vừa nêu ra ở trên. Các bạn quan sát thấy tổng các quỹ đạo vẫn có đáp số là 369. Mặc dù mô hình này đã thay đổi hệ thống số và tương tác qua các quỹ đạo khả dĩ khác đi, so với Ma Trận mà ta đã được biết! Tuy nhiên đối với mô hình này. Chúng ta đã đáp ứng được hàng trăm mô hình tương quan như yêu cầu đã được đặt ra và đòi hỏi là đồng bộ cùng mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên là như thế!
Thế nhưng vấn đề rắc rối lại phát sinh là hệ thống Tam Tài đòi hỏi mô hình của trật tự thứ 3 cho đủ cơ bản của Thiên – Địa – Nhân!!! Đã thế, chúng ta phải giải quyết cho đến cùng. Bởi nhân loại đang cần một mô hình của tương lai thật sự cơ bản một cách tuyệt đối. Các bạn tiếp tục tham khảo tôi lại phải thiết kế thêm một mô hình của Ma Trận khác đi nữa như sau:
Với mô hình này, tôi đã cho các hệ thống số phân tán đúng nghĩa của thuật ngữ Ma Trận Phân Tán trong toàn miền không – thời gian của vũ trụ cuối đó. Các bạn vẫn thấy được giá trị bảo toàn là 369 cho toàn vùng, không khác!
Sự phức tạp lúc này đã được đẩy lên đến đỉnh điểm của mô hình đang được xem xét đến. Bởi vì chúng ta nhận thấy nơi không – thời gian cuối cấp của hệ thống số này. Cứ mỗi một trong 3 mô hình Ma trận cơ bản như thế, lại còn kiêm hàng loạt những mô hình của Ma trận cơ bản khác (!?) , bên trong đó nữa. Những mô hình vũ trụ trong vũ trụ! Sự biến hóa trong các vũ trụ Ma Trận làm lạc lối tư duy là có thật. Hiện cảnh mô hình của Tạo Hóa đã được mở ra trước mắt của nhân loại chúng ta như thế. Hy vọng nào cho nhân loại chúng ta xác định được đâu là một mô hình thực tại cơ bản duy nhất?
Bắt buộc thời điểm này của sự khai thác mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên. Ta phải tìm cho ra và xác định cho bằng được mô hình Ma Trận cơ bản nhất trong những điều cơ bản rồi vậy!!! Bởi vì thế giới mà nhân loại chúng ta đang sống và tồn tại trong đó. Chỉ có duy nhất một mô hình vận hành mà thôi. Chúng ta thấy rằng, khảo luận cùng với những gì đã được tôi đưa ra cho đến thời điểm này. Thật sự những thực tại cơ bản này đã bỏ rơi tư duy của các nhà khoa học lại rất xa lắm rồi.
Các bạn thấy sự biến hóa muôn hình vạn trạng nơi mô hình của vũ trụ cuối với Ma Trận cấp 9x9 là thật sự gây sốc cho tư duy chung của chúng ta. Ý thức bắt buộc chúng ta thêm một lần nữa phải quay trở ra khỏi những vũ trụ của Ma Trận đấy mà kiểm điểm lại toàn miền của cái gọi là giá trị thực tại tiềm ẩn. Trong cuộc du hành này, chúng ta đang đứng trước ranh giới của cái gọi là “mông hạn ảnh” rồi. Là cái điều mà thuật ngữ chuyên môn của các nhà khoa học hiện nay gọi với tên “chân trời sự cố”. Để vượt qua miền chân trời sự cố đó, chúng ta phải xem xét lại những công cụ, thiết bị khai thác lần cuối cho cuộc du hành ở phía trước nhé. Bởi với những giá hiện có cho đến thời điểm này. Chúng ta chưa đủ thiết bị cần thiết để vượt qua ranh giới của miền chân trời sự cố trước mắt này.
Điều tôi muốn nói đến đó, chính là vị trí quan sát thứ 3 trong không – thời gian mà chúng ta chưa xác định được. Qua đó, để ta có thể đứng vào góc độ đấy mà quan sát mô hình vũ trụ toàn miền thực tại và phi thực tại. Chúng ta cùng nhau kiểm điểm thực lực lại lần cuối cho cuộc vượt biên vũ trụ các bạn nhé:
Trong ký ức chung của tất cả nhân loại chúng ta xưa nay; Mãi mãi tồn tại câu nói “Chỉ có thời gian mới có thể trả lời tất cả”. Thế mà chẳng một ai ý thức thực tại câu phát biểu này mà xem xét toàn diện về giá trị của nó cả! Nhất định hôm nay chúng ta phải mổ xẻ đối tượng thời gian này xem xét bản thể của nó ra sao. Sau đó, ta mới có thể ứng dụng công cụ này vào khai thác mô hình của Vũ trụ Ma Trận phân tán cho được. Chắc chắn đây sẽ là câu trả lời cuối cùng và chính xác nhất. Bởi vì; Nếu như mô hình của Ma Trận nào diễn tả bản thể của thời gian trong đó. Thì mô hình đấy, chính là Ma Trận mang mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên cơ bản nhất rồi vậy. Thế nhưng thời gian vốn lại đồng nhất cùng không gian! Vậy điều cần phải xem xét trước hết phải là đối tượng không – thời gian gồm có cả thảy bao nhiêu chiều đang tiềm ẩn trong đó.
Ta nhất định phải giải cho bằng được bài toán hóc búa này mới có hy vọng hiểu biết được đối tượng thời gian đang tiềm ẩn trong chiều không gian nào của toàn vùng không gian vũ trụ thực tại. Vậy trong bài viết tiếp theo sau: Các bạn cùng tôi khai thác mô hình vũ trụ gồm có bao nhiêu chiều không gian mà giai đoạn của thời gian đòi hỏi phải xác định được. Được thế, ta mới có thể bắt buộc đối tượng thời gian phải trả lời theo đòi hỏi mà nhân loại đang yêu cầu.
Và đó cũng là yêu cầu mà Tạo Hóa đòi hỏi nhân loại chúng ta phải giải quyết. Sau đến, mới có thể vượt qua giới hạn của sự vô hạn trong mô hình vũ trụ tự nhiên được.
Mong các bạn có mặt đúng điểm hẹn. Để cùng tham gia quan sát tôi khai thác mô hình của không – thời gian thực tại tiềm ẩn trong bài viết về “sự kiện phải đến” tiếp theo sau…
Với tiêu đề của bài viết này. Các bạn thấy rằng câu Truy Lùng Giá Trị Thực Tại Tiềm Ẩn cũng có giá trị như là giá trị của một chân lý thực tại thất lạc vậy!
Các bạn chỉ hình dung rằng những giá trị đó chưa bao giờ hiển lộ, kể từ ngày Tạo Hóa gây hình vũ trụ cho đến hôm nay rồi. Chí ít thì trong giới hạn của 100 năm qua nơi đỉnh cao của nền khoa học vật lý. Biết bao nhà bác học cũng đã thay nhau chuyển giao cái ước mơ miên vĩ đó cho các thế hệ nối tiếp…, cứ thế mà chuyển giao… và chuyển giao…
Thế nên trong trang này. Chúng ta đang cùng nhau thảo luận đến sự việc hầu như là không tưởng, đối với nhân loại xưa nay nói chung. Đó là một lý tưởng, chúng ta hãy cố gắng dấn thêm nơi đoạn cuối để vượt qua cái sa mạc này nhé. Vậy chúng ta lại tiếp tục cuộc trường chinh..., khai thác suối nguồn đã lạc mạch. Thế hệ hôm nay, nếu một khi đã được hé lộ phần nào đó của thiên cơ. Chúng ta không có thể chấp nhận được việc; Tại sao dân tộc Do Thái với Kinh Thánh, họ đã khơi nguồn được cái mạch giếng giữa sa mạc khô cằn như thế. Khiến nên hằng năm, các giáo chúng có chung một cội nguồn vẫn hành hương về trung đông để tưởng nhớ...
Vậy thì không có lý do gì mà dân tộc Việt hôm nay đã tìm được Kinh Dịch cùng giống nòi thất lạc rồi, mà lại không có thể khơi được mạch suối nguồn chân lý đã tắc dòng từ trong quá khứ xa của dòng Sử Thần Tiên cho được?!
Mở bài với vài dòng mài dũa sĩ khí dân tộc lại như thế cho thêm tinh nhuệ. Chúng ta tiếp tục cuộc du hành thôi các bạn nhé:
Qua tham khảo bài Cửu Cung, chúng ta tích lũy thêm những giá trị tri kiến để quay trở lại quan sát chi tiết hơn đối với Ma Trận cấp 9x9 vừa qua một cách toàn diện các góc độ có được như sau:
Bây giờ, khi các bạn quan sát lại hai biểu đồ vừa nêu ở trên đây. Các bạn thấy đó chính là hai mô hình diễn đạt với những quỹ đạo tương tác cơ bản nhất mà chúng ta đã biết rồi. Thế nhưng vấn đề phát sinh là với mô hình của Ma trận cấp 9x9 trên đây. Mô hình này chỉ có đáp ứng được tất cả là 16 Ma trận có giá trị cùng một đáp số 369 mà thôi! Yêu cầu đòi hỏi đáp ứng hàng trăm Ma Trận (9x9) tương xứng là có khiếm khuyết nhất định cho mô hình cơ bản tổng thể rồi. Là bởi:
Xét theo nguyên lý của Dịch thì hệ thống Tam Tài có trật tự số sinh là 1 – 2 – 3. Nguyên lý này được thể hiện như câu… một sinh hai, hai sinh ba..., và ba sinh… vạn vật! Điều này cũng có nghĩa số 4 là “số thành” rồi vậy. Thế nên ta xét thấy Ma Trận các cấp của hệ số dương như 3, 5, 7, là đã vận hành qua 3 bước rồi. Vậy cho nên bước thứ 4 là phải biến, mà hóa ra khác đi nữa! Từ đây suy ra số 3 đã là giới hạn mà ta quen gọi với thuật ngữ chuyên môn là chân trời sự cố. Điều này được phản ảnh như không gian 3 chiều, và chiều thứ 4 là phải tiềm ẩn đi trong mô hình của không gian đó vậy. Là ở về phía bên kia của chân trời sự cố. Vùng biến cố địa phương! Thế nên quỹ đạo vận hành của 3 vùng không gian này là không còn giá trị ứng dụng được nữa. Đã thế, tôi lại thiết kế một mô hình của Ma Trận cấp 9x9 với một quỹ đạo khác và không khác đó (theo lý tính của Thuyết Lượng Tử bao gồm cả Dịch Lý) như sau:
Với mô hình Ma Trận cấp 9x9 mà tôi vừa nêu ra ở trên. Các bạn quan sát thấy tổng các quỹ đạo vẫn có đáp số là 369. Mặc dù mô hình này đã thay đổi hệ thống số và tương tác qua các quỹ đạo khả dĩ khác đi, so với Ma Trận mà ta đã được biết! Tuy nhiên đối với mô hình này. Chúng ta đã đáp ứng được hàng trăm mô hình tương quan như yêu cầu đã được đặt ra và đòi hỏi là đồng bộ cùng mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên là như thế!
Thế nhưng vấn đề rắc rối lại phát sinh là hệ thống Tam Tài đòi hỏi mô hình của trật tự thứ 3 cho đủ cơ bản của Thiên – Địa – Nhân!!! Đã thế, chúng ta phải giải quyết cho đến cùng. Bởi nhân loại đang cần một mô hình của tương lai thật sự cơ bản một cách tuyệt đối. Các bạn tiếp tục tham khảo tôi lại phải thiết kế thêm một mô hình của Ma Trận khác đi nữa như sau:
Với mô hình này, tôi đã cho các hệ thống số phân tán đúng nghĩa của thuật ngữ Ma Trận Phân Tán trong toàn miền không – thời gian của vũ trụ cuối đó. Các bạn vẫn thấy được giá trị bảo toàn là 369 cho toàn vùng, không khác!
Sự phức tạp lúc này đã được đẩy lên đến đỉnh điểm của mô hình đang được xem xét đến. Bởi vì chúng ta nhận thấy nơi không – thời gian cuối cấp của hệ thống số này. Cứ mỗi một trong 3 mô hình Ma trận cơ bản như thế, lại còn kiêm hàng loạt những mô hình của Ma trận cơ bản khác (!?) , bên trong đó nữa. Những mô hình vũ trụ trong vũ trụ! Sự biến hóa trong các vũ trụ Ma Trận làm lạc lối tư duy là có thật. Hiện cảnh mô hình của Tạo Hóa đã được mở ra trước mắt của nhân loại chúng ta như thế. Hy vọng nào cho nhân loại chúng ta xác định được đâu là một mô hình thực tại cơ bản duy nhất?
Bắt buộc thời điểm này của sự khai thác mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên. Ta phải tìm cho ra và xác định cho bằng được mô hình Ma Trận cơ bản nhất trong những điều cơ bản rồi vậy!!! Bởi vì thế giới mà nhân loại chúng ta đang sống và tồn tại trong đó. Chỉ có duy nhất một mô hình vận hành mà thôi. Chúng ta thấy rằng, khảo luận cùng với những gì đã được tôi đưa ra cho đến thời điểm này. Thật sự những thực tại cơ bản này đã bỏ rơi tư duy của các nhà khoa học lại rất xa lắm rồi.
Các bạn thấy sự biến hóa muôn hình vạn trạng nơi mô hình của vũ trụ cuối với Ma Trận cấp 9x9 là thật sự gây sốc cho tư duy chung của chúng ta. Ý thức bắt buộc chúng ta thêm một lần nữa phải quay trở ra khỏi những vũ trụ của Ma Trận đấy mà kiểm điểm lại toàn miền của cái gọi là giá trị thực tại tiềm ẩn. Trong cuộc du hành này, chúng ta đang đứng trước ranh giới của cái gọi là “mông hạn ảnh” rồi. Là cái điều mà thuật ngữ chuyên môn của các nhà khoa học hiện nay gọi với tên “chân trời sự cố”. Để vượt qua miền chân trời sự cố đó, chúng ta phải xem xét lại những công cụ, thiết bị khai thác lần cuối cho cuộc du hành ở phía trước nhé. Bởi với những giá hiện có cho đến thời điểm này. Chúng ta chưa đủ thiết bị cần thiết để vượt qua ranh giới của miền chân trời sự cố trước mắt này.
Điều tôi muốn nói đến đó, chính là vị trí quan sát thứ 3 trong không – thời gian mà chúng ta chưa xác định được. Qua đó, để ta có thể đứng vào góc độ đấy mà quan sát mô hình vũ trụ toàn miền thực tại và phi thực tại. Chúng ta cùng nhau kiểm điểm thực lực lại lần cuối cho cuộc vượt biên vũ trụ các bạn nhé:
Trong ký ức chung của tất cả nhân loại chúng ta xưa nay; Mãi mãi tồn tại câu nói “Chỉ có thời gian mới có thể trả lời tất cả”. Thế mà chẳng một ai ý thức thực tại câu phát biểu này mà xem xét toàn diện về giá trị của nó cả! Nhất định hôm nay chúng ta phải mổ xẻ đối tượng thời gian này xem xét bản thể của nó ra sao. Sau đó, ta mới có thể ứng dụng công cụ này vào khai thác mô hình của Vũ trụ Ma Trận phân tán cho được. Chắc chắn đây sẽ là câu trả lời cuối cùng và chính xác nhất. Bởi vì; Nếu như mô hình của Ma Trận nào diễn tả bản thể của thời gian trong đó. Thì mô hình đấy, chính là Ma Trận mang mô hình thực tại của vũ trụ tự nhiên cơ bản nhất rồi vậy. Thế nhưng thời gian vốn lại đồng nhất cùng không gian! Vậy điều cần phải xem xét trước hết phải là đối tượng không – thời gian gồm có cả thảy bao nhiêu chiều đang tiềm ẩn trong đó.
Ta nhất định phải giải cho bằng được bài toán hóc búa này mới có hy vọng hiểu biết được đối tượng thời gian đang tiềm ẩn trong chiều không gian nào của toàn vùng không gian vũ trụ thực tại. Vậy trong bài viết tiếp theo sau: Các bạn cùng tôi khai thác mô hình vũ trụ gồm có bao nhiêu chiều không gian mà giai đoạn của thời gian đòi hỏi phải xác định được. Được thế, ta mới có thể bắt buộc đối tượng thời gian phải trả lời theo đòi hỏi mà nhân loại đang yêu cầu.
Và đó cũng là yêu cầu mà Tạo Hóa đòi hỏi nhân loại chúng ta phải giải quyết. Sau đến, mới có thể vượt qua giới hạn của sự vô hạn trong mô hình vũ trụ tự nhiên được.
Mong các bạn có mặt đúng điểm hẹn. Để cùng tham gia quan sát tôi khai thác mô hình của không – thời gian thực tại tiềm ẩn trong bài viết về “sự kiện phải đến” tiếp theo sau…
Không gian chiều thứ 4? Tam Kỳ Lục Nghi
74 - TAM KỲ LỤC NGHI
… “Có khúc mắc một chút trong ‚’’ biểu đồ thế cục của tam kỳ lục nghi ( trong Kỳ môn độn giáp) là, đối với cung Khảm thì hiện nay đang bố trí là các tiết khí là Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn là hết cung Khảm, nhưng trên đồ hình của thầy đưa lên thì cung Khảm lại bắt đầu từ Tý là tiết Đông chí, đến Tiểu hàn, Đại hàn thì lại chuyển sang vị trí của Sửu thuộc cung Cấn một cung là tiết Đại hàn, Thầy có thể giảng về sự khác nhau đó được không ạh".
Trước hết, chúng ta cùng nhau tham luận những ý mà tôi sẽ nêu ra như sau:
Đầu tiên trên trang này bàn đến việc chúng ta lạc mất cội nguồn bao gồm lịch sử, văn hóa và giống nòi Thần Tiên. Quan sát rộng ra…, Nền khoa học cũng đang lạc mất nguyên nhân! Rồi tôn giáo cũng lạc luôn cả chân lý của đạo từ thuở tạo thiên lập địa mà các giáo chủ thay nhau chuyển kiếp…, mong vãn hồi trật tự đã mãi rối loạn theo năm tháng. Từ đó khiến nên quy luật của vũ trụ phải đến hồi phải đào thải, tận diệt.
Tuy nhiên, đến thời điểm này. Chúng ta đã cùng nhau xác định được 2 vị trí thực tại, tiềm ẩn trong mô hình trật tự tự nhiên của vũ trụ rồi. Đó là một thành quả nhất định đã đạt được cho quan điểm cũng như tư duy chung của chúng ta. Các bạn nhớ bước chân đầu tiên chúng ta tìm hiểu ở chốn mà tôi gọi là Thiên nhai Hải giác. Vậy Thiên Nhai có nghĩa là Chân Trời và Hải Giác là Góc Biển rồi vậy.
Thế nên từ đây suy ra…; Nếu liên tưởng đến đồ hình của mô hình không – thời gian đơn thuần, cơ bản nhất có mẫu tương quan với biểu đồ của Cửu Cung trong Dịch Lý nói chung. Và ta quan sát thấy đối với vùng chân trời thì sự kiện chất điểm phải xuất hiện tại vị trí của Sao Bắc Đẩu. Thuộc về vị trí của cung Khảm (khởi thủy) phía trên của biểu đồ là tuyệt đối. Tất nhiên để đối lập với trật tự tự nhiên đó, miền hải phận phải có định xứ nguyên nhân tại vị trí gốc của không – thời gian là ở vào hướng Tây Nam của đồ hình. Ta có thể tham lược lại biểu đồ đó như sau:
Vậy căn cứ vào nền tảng cơ sở này. Tôi sẽ bố trí cùng các bạn, mô hình của Kỳ Môn Độn Giáp vào biểu đồ đó với trật tự tự nhiên như sau:
Các bạn còn nhớ tôi thường nói câu “định phương, lập hướng” trong những bài viết trước đây! Cho nên quan sát biểu đồ trên đây thì trong hình thứ nhất vốn là âm tính. Thế nên ta bố trí trật tự của Tứ Lập theo 4 Tiết Chính trong năm, phải ở vào vị trí của 4 góc này. Tất nhiên các bạn thấy trong hình hai là Tứ Phương với vị trí của 4 Tiết chính khác nữa, vốn thuộc dương tính nên phải có vị trí như thế mà không thể sai lạc cho được. Tất nhiên đó là 8 tiết chính trong 24 Tiết của một năm mà ta quen nghe gọi là Bát Tiết. Dĩ nhiên chúng ta đều đã biết trong Bát Tiết này thì Tiết Đông Chí thuộc khởi sơ khí của đầu năm. Đồng thời vị trí đó phải là Cung Khảm, nên cũng gọi là Khởi Thủy vậy.
Do mỗi Tiết, ứng với các Cung và số như; Khảm=1, Khôn=2, Chấn=3, Tốn=4, Kiền=6, Đoài=7, Cấn=8, Ly=9. Phù hợp với Bát Quái của Lạc Thư. Trong quy luật của Bát Tiết thì cứ mỗi Tiết chính lại kiêm hai Tiết phụ trong cùng một cung đó như sau:
Qua sự bố trí theo trật tự ở trên. Ta thấy cứ một trong 8 tiết chính thì đều kiêm 2 tiết phụ trong đó. Và cứ 3 tiết (tam tài) là cơ cấu hình thành bên trong của một Cung Quái như Kiền, Khảm v.v… Ta không có thể bố trí một cách tùy tiện, mất trật tự của mô hình tự nhiên cho được. Về nguyên tắc này, tôi cũng đã có bố trí trong hình “Thái Cực Tượng Đồ của Nước Việt Nam Trong Kỷ Nguyên Mới” ở trang các bài trước đấy. Cung Khảm nhất định kiêm 3 tiết Đông Chí – Tiểu Hàn – Đại Hàn không khác được. Bằng không, ta không có thể nào mà lập Kỳ Môn Độn Giáp cho được. Nếu cố lập nữa, ắt cũng không thể nào dụng cho được cả. Bởi nó đã sai với mô hình vốn có của vũ trụ vận hành từ cội rễ rồi.
Ta nắm được cái gốc nguyên nhân cũng như nền tảng cơ sở của trật tự quy luật này. Tác giả nào viết sai trật tự của mô hình tự nhiên này là ta nhất định biết là sai ngay tức khắc. Bằng như họ cố cãi nữa! Ta đủ biết phải làm sao rồi vậy. Thế nên; Sách không còn đủ giá trị để minh chứng đúng sai nữa rồi vậy. Do ta đã biết cũng như hiểu thấu sự việc từ nguyên nhân của những sự việc đó, vốn là như thế rồi.
Khi ta bố trí một đồ bàn Bát Quái hay Bát Môn như xưa nay. Thì những giá trị này là hoàn toàn không có chữ. Vậy ta phải biết đọc cả chỗ không có chữ này trong sự tưởng tượng của tư duy nữa. Thế nên mới có sự việc như: Cùng một đồ hình, mà tại sao người này nhìn vào lại “thấy” nhiều giá trị thông tin hơn người khác là chính ổ chỗ “không có chữ” này mà ra cả. Vậy kết quả là cùng nhìn như nhau, thế nhưng giá trị lại lệ thuộc vào cái vốn tri thức mà mỗi người đã tích lũy trước đó, khiến nên có khác thành quả đạt được.
Cái sự học này mới gọi là “tư tưởng học thuật”. Mắt nhìn không thể nào thấu cho được rồi. Bởi những giá trị ngôn ngữ đó là hoàn toàn vô hình cả thảy. Thế nên mới gọi là Thiên Cơ. Không phải che hay giấu đi giống như cái học của thế nhân. Cứ phơi bày ra trước mắt cả đấy, chẳng ai có thể học hay lấy đi đâu cho được cả. Bởi có chữ nào đâu mà phải che với giấu!? Đó là ta đã Lĩnh Hội được tư tưởng của học thuật này.
Dĩ nhiên, nếu ta bố trí những trật tự như trên sai lạc quy luật đi. Tất nhiên ta không có thể vận dụng nó cho được. Bằng như cố khai thác, ta phải mất công sức đến hết cả một đời mà vẫn chưa có thể biết cũng như lĩnh hội nổi học thuật này cho được. Những tình trạng như thế, đã xảy ra không biết bao nhiêu cho thế nhân chúng ta xưa nay, một khi ai đó khai thác đề tài này.
Và sau đây, tôi mới có thể ứng dụng mà khai thác cùng các bạn tham khảo như sau:
Tính từ khởi thủy là tại Cung Khảm. Bởi khí đầu năm vận hành tại vị trí của Tiết Đông Chí. Vốn là dương khí, nên vận hành hết nửa vòng là đến hết tiết mang chủng thuộc thuận hành. Ta cũng biết đó thuộc là phần dương, theo mô hình lưỡng nghi của Thái Cực. Rồi từ tiết Hạ chí đến hết tiết Đại Tuyết thuộc âm, nên vận hành theo chiều nghịch.
Thế nên căn cứ vào số 1 tại cung Khảm làm thế cuộc đầu tiên. Từ đó ta tính đi… và kết hợp những giá trị của nơi không chữ trong tư duy như: Một năm có 24 Tiết. Cứ 2 tiết vào 1 tháng là hợp với 12 tháng trong năm. Lại 2 tháng vào 1 Khí, thành ra 6 Khí cả thảy. Lại 1 Tiết có 3 Hậu, 1 Hậu có 5 ngày. Vậy 72 Hậu x 5 ngày = 360 ngày trong 1 năm trọn. Vậy ta tính nữa năm đầu, tính từ tiết đông chí là có 36 thế cuộc vận hành theo dương thế. Cho nên:
Vậy dương thì hành âm nên ta lấy số 1 của Cung Khảm làm kỳ thứ nhất là thượng nguyên, Thiên lý, Ất kỳ, v.v… những giá trị có liên quan. Cộng với số của Lão âm là 6. Thế nên ta có cuộc thứ hai là số 7, vận hành theo quy luật của trung nguyên thế. Và cuối cùng thì lại 7 + 6 nữa là được 13. Ta lại lấy đó trừ cho số 9 là Lão Dương, ta sẽ được 13-9=4. Đó chính là số của cuộc thế hạ nguyên mà ta đã thấy như 1 – 7 – 4 trên biểu đồ của Tam Kỳ Lục Nghi.
Một ví dụ điển hình như; Nếu các bạn đang đọc bài này vào từ ngày thứ 20 đến hết ngày 25 tháng này (âl). Là ta phải căn cứ vào số của Tam Kỳ Lục nghi của Tiết Đại Hàn mà lập thế cuộc kỳ môn số 9 (thuộc vận hành theo thế cuộc trung nguyên) trong tất cả 72 thế trận Kỳ Môn Độn Giáp. Ta có thể theo thế cục đó mà tính tùy theo là 5 ngày , 5 tháng, 5 năm v.v…, cho từng sự kiện muốn ứng dụng mà xem xét. Đó là lệ chung. Tuy nhiên cũng tránh gặp phải các bạn khác lại thắc mắc, vội đả kích. Nên tôi lưu ý rằng: Năm nay là năm Nhuận, nên Kỳ Môn rất khó tính. Thế nên ta phải dụng đến phép Siêu Thần, Tiếp Khí mới bố trận chính xác được. Là học thuật khó nhất trong Kỳ Môn Độn Giáp. Bởi ngày 19 trở đi đã là chuyển ra thế cục khác mất rồi. Do tháng nhuận tác động mà ra lạc Tiết, Khí đi hết. Thế nên thay vì cục số 9 như thường lệ đó. Ta phải lập cục thế số 8 mới chính xác được! Phức tạp vô cùng. Tôi tạm lưu ý như thế, kẻo lại làm rối các bạn lên hết mà không nắm bắt được. Chu Du ngày xưa thua Khổng Minh chính là bởi yếu tố này mà tính không ra Gió đổi hướng trong trận Xích Bích đấy.
Từ đây ta mới có thể hiểu ra được rằng: Cái đàn mà Khổng Minh lập ngày đó để hú gió gọi mưa chỉ là đòn hỏa mù mà thôi. Bởi không ai có thể hiểu nguyên cớ này cho nổi, cứ hồ nghi. E họ trễ nải việc binh, nên phải giả lập cái đàn như thế để mọi người không dám xem thường mà trễ nải việc binh. Người đời không hiểu thấu cơ sự, nên lại cho rằng Khổng Minh có khả năng khiến cả quỷ thần mà điều cả gió, khiển lẫn mưa! Lại dìu dắt nhau vào sự mê tín cả một lượt. Từ đây mới dẫn đến những sự việc học đòi theo mà lập đàn, cắm cờ xanh đỏ, rồi bấm độn, đọc thần chú, đốt bùa mà gây rối loạn hết cả thiên hạ đi hết một lượt. Tôi mà kể đến chuyện “sái đậu thành binh” ra đây nữa là… Các bạn phải lăn quay ra mà ôm bụng, cười lau nước mắt không kịp với các vở diễn hề đối với thiên cơ luôn đấy. Nói sao hết việc thế nhân đại loạn mà gây rối trật tự xã hội mãi xưa nay.
Tôi nhắc thêm về Tam Kỳ Lục Nghi có nghĩa là: Kỳ Môn là chu kỳ của thời gian vận hành qua 8 Cửa. Trong đó thì Can Giáp phải độn trong mô hình của Cửu Cung đó. Và Tam Kỳ cũng có nghĩa như thế. Là 3 chu kỳ của thời gian vận hành mà vạn vật đều nhất loạt chịu sự tác động chung trong cùng một quy luật đó mà biến hóa theo. Đó là Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Ý nghĩa của thuật này phối vào với ý của Thập Thiên Can như sau:
Do Giáp đã độn (Độn Giáp), cho hợp với 9 cung. Vậy ta tính từ 1 là Ất, 2 Bính, 3 Đinh. Ta gọi đây là Tam Kỳ. Chu kỳ thứ nhất thì gọi là Ất Kỳ, thuộc thượng nguyên cuộc thế. Chu kỳ thứ hai là Bính Kỳ, là trung nguyên cuộc. Và chu kỳ thứ ba là Đinh kỳ với hạ nguyên vậy. Số can còn lại, được tính từ Mậu đến Quý là 6 Can cả thảy. Ta gọi đó là Lục Nghi. Nghi ở đây có nghĩa là Ngôi, là chỉ vị trí của Can đó. Đấy là ý nghĩa của thuật ngữ Tam Kỳ Lục Nghi mà học thuật Kỳ Môn Độn Giáp sử dụng.
Vậy ta thấy, trong một Tiết, đã có tất cả 3 sự vận hành theo tam lý trong đó rồi. Vậy tính chi tiết ra thì ta có 1 kỳ là 5 ngày bằng 1 Hậu. Thời gian tính như ngày xưa thì 12 giờ là 1 ngày. Ta có 12 giờ x 5 ngày = 60 giờ! Điều này có nghĩa là Một nguyên với 60 năm, tương ứng với chu kỳ vận hành của 60 Hoa Giáp là trọn đủ 1 vòng. Mô hình đó đã phản ảnh một cách chi ly trong khoảng thời gian của 1 Hậu với 60 giờ rồi. Như thế, ta có thể nắm diễn biến sự việc trong có thể nói được là từng phút rồi vậy. Thậm chí, có thể tính đến từng sát na như lời phật từng có nói đến. Những giá trị của cái gọi là sát na đó. Hôm nay nhân loại chúng ta mới có thể bám kịp cùng vận tốc của ánh sáng mà có thể chi phối được tốc độ của một đầu đạn hạt nhân đã rời bệ phóng, vốn mang đầy tham vọng của loài người.
Tất nhiên; Ta biết được lúc nào mà đầu đạn đó đang đi vào vùng mà chu kỳ của không - thời gian thuộc Cửa Tử. Thiên La đang đợi sẵn… Lưới trời lồng lộng mà thế nhân khó có thể thoát cho được rồi vậy.
… “Có khúc mắc một chút trong ‚’’ biểu đồ thế cục của tam kỳ lục nghi ( trong Kỳ môn độn giáp) là, đối với cung Khảm thì hiện nay đang bố trí là các tiết khí là Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn là hết cung Khảm, nhưng trên đồ hình của thầy đưa lên thì cung Khảm lại bắt đầu từ Tý là tiết Đông chí, đến Tiểu hàn, Đại hàn thì lại chuyển sang vị trí của Sửu thuộc cung Cấn một cung là tiết Đại hàn, Thầy có thể giảng về sự khác nhau đó được không ạh".
Trước hết, chúng ta cùng nhau tham luận những ý mà tôi sẽ nêu ra như sau:
Đầu tiên trên trang này bàn đến việc chúng ta lạc mất cội nguồn bao gồm lịch sử, văn hóa và giống nòi Thần Tiên. Quan sát rộng ra…, Nền khoa học cũng đang lạc mất nguyên nhân! Rồi tôn giáo cũng lạc luôn cả chân lý của đạo từ thuở tạo thiên lập địa mà các giáo chủ thay nhau chuyển kiếp…, mong vãn hồi trật tự đã mãi rối loạn theo năm tháng. Từ đó khiến nên quy luật của vũ trụ phải đến hồi phải đào thải, tận diệt.
Tuy nhiên, đến thời điểm này. Chúng ta đã cùng nhau xác định được 2 vị trí thực tại, tiềm ẩn trong mô hình trật tự tự nhiên của vũ trụ rồi. Đó là một thành quả nhất định đã đạt được cho quan điểm cũng như tư duy chung của chúng ta. Các bạn nhớ bước chân đầu tiên chúng ta tìm hiểu ở chốn mà tôi gọi là Thiên nhai Hải giác. Vậy Thiên Nhai có nghĩa là Chân Trời và Hải Giác là Góc Biển rồi vậy.
Thế nên từ đây suy ra…; Nếu liên tưởng đến đồ hình của mô hình không – thời gian đơn thuần, cơ bản nhất có mẫu tương quan với biểu đồ của Cửu Cung trong Dịch Lý nói chung. Và ta quan sát thấy đối với vùng chân trời thì sự kiện chất điểm phải xuất hiện tại vị trí của Sao Bắc Đẩu. Thuộc về vị trí của cung Khảm (khởi thủy) phía trên của biểu đồ là tuyệt đối. Tất nhiên để đối lập với trật tự tự nhiên đó, miền hải phận phải có định xứ nguyên nhân tại vị trí gốc của không – thời gian là ở vào hướng Tây Nam của đồ hình. Ta có thể tham lược lại biểu đồ đó như sau:
Vậy căn cứ vào nền tảng cơ sở này. Tôi sẽ bố trí cùng các bạn, mô hình của Kỳ Môn Độn Giáp vào biểu đồ đó với trật tự tự nhiên như sau:
Các bạn còn nhớ tôi thường nói câu “định phương, lập hướng” trong những bài viết trước đây! Cho nên quan sát biểu đồ trên đây thì trong hình thứ nhất vốn là âm tính. Thế nên ta bố trí trật tự của Tứ Lập theo 4 Tiết Chính trong năm, phải ở vào vị trí của 4 góc này. Tất nhiên các bạn thấy trong hình hai là Tứ Phương với vị trí của 4 Tiết chính khác nữa, vốn thuộc dương tính nên phải có vị trí như thế mà không thể sai lạc cho được. Tất nhiên đó là 8 tiết chính trong 24 Tiết của một năm mà ta quen nghe gọi là Bát Tiết. Dĩ nhiên chúng ta đều đã biết trong Bát Tiết này thì Tiết Đông Chí thuộc khởi sơ khí của đầu năm. Đồng thời vị trí đó phải là Cung Khảm, nên cũng gọi là Khởi Thủy vậy.
Do mỗi Tiết, ứng với các Cung và số như; Khảm=1, Khôn=2, Chấn=3, Tốn=4, Kiền=6, Đoài=7, Cấn=8, Ly=9. Phù hợp với Bát Quái của Lạc Thư. Trong quy luật của Bát Tiết thì cứ mỗi Tiết chính lại kiêm hai Tiết phụ trong cùng một cung đó như sau:
Qua sự bố trí theo trật tự ở trên. Ta thấy cứ một trong 8 tiết chính thì đều kiêm 2 tiết phụ trong đó. Và cứ 3 tiết (tam tài) là cơ cấu hình thành bên trong của một Cung Quái như Kiền, Khảm v.v… Ta không có thể bố trí một cách tùy tiện, mất trật tự của mô hình tự nhiên cho được. Về nguyên tắc này, tôi cũng đã có bố trí trong hình “Thái Cực Tượng Đồ của Nước Việt Nam Trong Kỷ Nguyên Mới” ở trang các bài trước đấy. Cung Khảm nhất định kiêm 3 tiết Đông Chí – Tiểu Hàn – Đại Hàn không khác được. Bằng không, ta không có thể nào mà lập Kỳ Môn Độn Giáp cho được. Nếu cố lập nữa, ắt cũng không thể nào dụng cho được cả. Bởi nó đã sai với mô hình vốn có của vũ trụ vận hành từ cội rễ rồi.
Ta nắm được cái gốc nguyên nhân cũng như nền tảng cơ sở của trật tự quy luật này. Tác giả nào viết sai trật tự của mô hình tự nhiên này là ta nhất định biết là sai ngay tức khắc. Bằng như họ cố cãi nữa! Ta đủ biết phải làm sao rồi vậy. Thế nên; Sách không còn đủ giá trị để minh chứng đúng sai nữa rồi vậy. Do ta đã biết cũng như hiểu thấu sự việc từ nguyên nhân của những sự việc đó, vốn là như thế rồi.
Khi ta bố trí một đồ bàn Bát Quái hay Bát Môn như xưa nay. Thì những giá trị này là hoàn toàn không có chữ. Vậy ta phải biết đọc cả chỗ không có chữ này trong sự tưởng tượng của tư duy nữa. Thế nên mới có sự việc như: Cùng một đồ hình, mà tại sao người này nhìn vào lại “thấy” nhiều giá trị thông tin hơn người khác là chính ổ chỗ “không có chữ” này mà ra cả. Vậy kết quả là cùng nhìn như nhau, thế nhưng giá trị lại lệ thuộc vào cái vốn tri thức mà mỗi người đã tích lũy trước đó, khiến nên có khác thành quả đạt được.
Cái sự học này mới gọi là “tư tưởng học thuật”. Mắt nhìn không thể nào thấu cho được rồi. Bởi những giá trị ngôn ngữ đó là hoàn toàn vô hình cả thảy. Thế nên mới gọi là Thiên Cơ. Không phải che hay giấu đi giống như cái học của thế nhân. Cứ phơi bày ra trước mắt cả đấy, chẳng ai có thể học hay lấy đi đâu cho được cả. Bởi có chữ nào đâu mà phải che với giấu!? Đó là ta đã Lĩnh Hội được tư tưởng của học thuật này.
Dĩ nhiên, nếu ta bố trí những trật tự như trên sai lạc quy luật đi. Tất nhiên ta không có thể vận dụng nó cho được. Bằng như cố khai thác, ta phải mất công sức đến hết cả một đời mà vẫn chưa có thể biết cũng như lĩnh hội nổi học thuật này cho được. Những tình trạng như thế, đã xảy ra không biết bao nhiêu cho thế nhân chúng ta xưa nay, một khi ai đó khai thác đề tài này.
Và sau đây, tôi mới có thể ứng dụng mà khai thác cùng các bạn tham khảo như sau:
Tính từ khởi thủy là tại Cung Khảm. Bởi khí đầu năm vận hành tại vị trí của Tiết Đông Chí. Vốn là dương khí, nên vận hành hết nửa vòng là đến hết tiết mang chủng thuộc thuận hành. Ta cũng biết đó thuộc là phần dương, theo mô hình lưỡng nghi của Thái Cực. Rồi từ tiết Hạ chí đến hết tiết Đại Tuyết thuộc âm, nên vận hành theo chiều nghịch.
Thế nên căn cứ vào số 1 tại cung Khảm làm thế cuộc đầu tiên. Từ đó ta tính đi… và kết hợp những giá trị của nơi không chữ trong tư duy như: Một năm có 24 Tiết. Cứ 2 tiết vào 1 tháng là hợp với 12 tháng trong năm. Lại 2 tháng vào 1 Khí, thành ra 6 Khí cả thảy. Lại 1 Tiết có 3 Hậu, 1 Hậu có 5 ngày. Vậy 72 Hậu x 5 ngày = 360 ngày trong 1 năm trọn. Vậy ta tính nữa năm đầu, tính từ tiết đông chí là có 36 thế cuộc vận hành theo dương thế. Cho nên:
Vậy dương thì hành âm nên ta lấy số 1 của Cung Khảm làm kỳ thứ nhất là thượng nguyên, Thiên lý, Ất kỳ, v.v… những giá trị có liên quan. Cộng với số của Lão âm là 6. Thế nên ta có cuộc thứ hai là số 7, vận hành theo quy luật của trung nguyên thế. Và cuối cùng thì lại 7 + 6 nữa là được 13. Ta lại lấy đó trừ cho số 9 là Lão Dương, ta sẽ được 13-9=4. Đó chính là số của cuộc thế hạ nguyên mà ta đã thấy như 1 – 7 – 4 trên biểu đồ của Tam Kỳ Lục Nghi.
Một ví dụ điển hình như; Nếu các bạn đang đọc bài này vào từ ngày thứ 20 đến hết ngày 25 tháng này (âl). Là ta phải căn cứ vào số của Tam Kỳ Lục nghi của Tiết Đại Hàn mà lập thế cuộc kỳ môn số 9 (thuộc vận hành theo thế cuộc trung nguyên) trong tất cả 72 thế trận Kỳ Môn Độn Giáp. Ta có thể theo thế cục đó mà tính tùy theo là 5 ngày , 5 tháng, 5 năm v.v…, cho từng sự kiện muốn ứng dụng mà xem xét. Đó là lệ chung. Tuy nhiên cũng tránh gặp phải các bạn khác lại thắc mắc, vội đả kích. Nên tôi lưu ý rằng: Năm nay là năm Nhuận, nên Kỳ Môn rất khó tính. Thế nên ta phải dụng đến phép Siêu Thần, Tiếp Khí mới bố trận chính xác được. Là học thuật khó nhất trong Kỳ Môn Độn Giáp. Bởi ngày 19 trở đi đã là chuyển ra thế cục khác mất rồi. Do tháng nhuận tác động mà ra lạc Tiết, Khí đi hết. Thế nên thay vì cục số 9 như thường lệ đó. Ta phải lập cục thế số 8 mới chính xác được! Phức tạp vô cùng. Tôi tạm lưu ý như thế, kẻo lại làm rối các bạn lên hết mà không nắm bắt được. Chu Du ngày xưa thua Khổng Minh chính là bởi yếu tố này mà tính không ra Gió đổi hướng trong trận Xích Bích đấy.
Từ đây ta mới có thể hiểu ra được rằng: Cái đàn mà Khổng Minh lập ngày đó để hú gió gọi mưa chỉ là đòn hỏa mù mà thôi. Bởi không ai có thể hiểu nguyên cớ này cho nổi, cứ hồ nghi. E họ trễ nải việc binh, nên phải giả lập cái đàn như thế để mọi người không dám xem thường mà trễ nải việc binh. Người đời không hiểu thấu cơ sự, nên lại cho rằng Khổng Minh có khả năng khiến cả quỷ thần mà điều cả gió, khiển lẫn mưa! Lại dìu dắt nhau vào sự mê tín cả một lượt. Từ đây mới dẫn đến những sự việc học đòi theo mà lập đàn, cắm cờ xanh đỏ, rồi bấm độn, đọc thần chú, đốt bùa mà gây rối loạn hết cả thiên hạ đi hết một lượt. Tôi mà kể đến chuyện “sái đậu thành binh” ra đây nữa là… Các bạn phải lăn quay ra mà ôm bụng, cười lau nước mắt không kịp với các vở diễn hề đối với thiên cơ luôn đấy. Nói sao hết việc thế nhân đại loạn mà gây rối trật tự xã hội mãi xưa nay.
Tôi nhắc thêm về Tam Kỳ Lục Nghi có nghĩa là: Kỳ Môn là chu kỳ của thời gian vận hành qua 8 Cửa. Trong đó thì Can Giáp phải độn trong mô hình của Cửu Cung đó. Và Tam Kỳ cũng có nghĩa như thế. Là 3 chu kỳ của thời gian vận hành mà vạn vật đều nhất loạt chịu sự tác động chung trong cùng một quy luật đó mà biến hóa theo. Đó là Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Ý nghĩa của thuật này phối vào với ý của Thập Thiên Can như sau:
Do Giáp đã độn (Độn Giáp), cho hợp với 9 cung. Vậy ta tính từ 1 là Ất, 2 Bính, 3 Đinh. Ta gọi đây là Tam Kỳ. Chu kỳ thứ nhất thì gọi là Ất Kỳ, thuộc thượng nguyên cuộc thế. Chu kỳ thứ hai là Bính Kỳ, là trung nguyên cuộc. Và chu kỳ thứ ba là Đinh kỳ với hạ nguyên vậy. Số can còn lại, được tính từ Mậu đến Quý là 6 Can cả thảy. Ta gọi đó là Lục Nghi. Nghi ở đây có nghĩa là Ngôi, là chỉ vị trí của Can đó. Đấy là ý nghĩa của thuật ngữ Tam Kỳ Lục Nghi mà học thuật Kỳ Môn Độn Giáp sử dụng.
Vậy ta thấy, trong một Tiết, đã có tất cả 3 sự vận hành theo tam lý trong đó rồi. Vậy tính chi tiết ra thì ta có 1 kỳ là 5 ngày bằng 1 Hậu. Thời gian tính như ngày xưa thì 12 giờ là 1 ngày. Ta có 12 giờ x 5 ngày = 60 giờ! Điều này có nghĩa là Một nguyên với 60 năm, tương ứng với chu kỳ vận hành của 60 Hoa Giáp là trọn đủ 1 vòng. Mô hình đó đã phản ảnh một cách chi ly trong khoảng thời gian của 1 Hậu với 60 giờ rồi. Như thế, ta có thể nắm diễn biến sự việc trong có thể nói được là từng phút rồi vậy. Thậm chí, có thể tính đến từng sát na như lời phật từng có nói đến. Những giá trị của cái gọi là sát na đó. Hôm nay nhân loại chúng ta mới có thể bám kịp cùng vận tốc của ánh sáng mà có thể chi phối được tốc độ của một đầu đạn hạt nhân đã rời bệ phóng, vốn mang đầy tham vọng của loài người.
Tất nhiên; Ta biết được lúc nào mà đầu đạn đó đang đi vào vùng mà chu kỳ của không - thời gian thuộc Cửa Tử. Thiên La đang đợi sẵn… Lưới trời lồng lộng mà thế nhân khó có thể thoát cho được rồi vậy.