Hiển thị các bài đăng có nhãn vuivui. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vuivui. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018

Sưu tầm quan điểm phép lưu cung trong đoán hạn của tác giả vuivui

Di cung và lưu tứ hoá xưa như trái đất. Người nào không biết, ấy chỉ là do không có hoặc chưa có duyên với nó mà thôi. Tôi thì từ xưa tới nay, luận tử vi, lúc nào mà chả dùng đến chúng.
Nó không những đơn giản mà còn đầy khiếm khuyết, cần phải được nhiều phương pháp khác bổ trợ một cách trực tiếp. Nói một cách đơn giản nhất, sự phối hợp, chẳng hạn như: phối phép lưu cung với phép lưu thái tuế và các sao lưu.
Trước hết nói về Đại vận 10 năm.
Nếu không lý đến vận trình, rõ ràng cung an mệnh, đúng là cung an mệnh của lá số xác định toàn bộ cuộc đời. Nói cách khác, cung an mệnh là một cung cuộc đời. Phải chăng, cung mà đại vận 10 năm nó nhập sẽ là cái gì?. Câu trả lời sẽ rất tự nhiên, nó chính là Cung Vận đại diện cho cung an Mệnh khi Mệnh "trôi" tới đó - đó là Mệnh Vận. Vây thì, khi mệnh trôi, tức là mệnh vận dịch chuyển, thì chẳng có lý do gì ngăn cản các cung khác không dịch chuyển theo theo cái thế tương quan bắt buộc. Theo lẽ đó, khi có mệnh vận, đương nhiên tương ứng sẽ có 11 cung vận là phụ mẫu vận, phúc vận, điền vận,....
Nếu chỉ dừng tới đại vận 10 năm. Sẽ rất là đơn giản, và cũng chẳng có gì đáng phải bàn. Vấn đề sẽ phức tạp hơn ở chỗ, khi ta xét đến vận lưu niên, rồi ứng dụng nó để đoán vận. Bởi vì khi xét vận lưu niên, chúng ta có ba cung: lưu niên đại vận, lưu niên tiểu vận và cung lưu thái tuế an vị. Có câu hỏi tự nhiên bật ra: Vậy trong ba cung này, cung nào sẽ là Mệnh vận lưu niên đây?
Thực ra câu trả lời này rất dễ, và cũng rất tự nhiên. Đó chính là cung Đại vận lưu niên (= Lưu mệnh/mện vận lưu niên). Cái lý rất đơn giản, bởi vì nó được khởi từ đại vận 10 năm tính đi. Khi cung đại vận lưu niên xuất hiện, bây giờ ta gọi là mệnh vận lưu niên cũng được. Đương nhiên, các cung lưu niên cũng sẽ xuất hiện theo đó. Có người nói rằng, xem như vậy thì dường như mỗi hạn ta đều có một lá số mới chồng lên lá số cũ. Mà muốn xem tới vận lưu niên, tức là ta đã có ba lá số chồng lên nhau. Đó là các lá số: Lá số đầu tiên là lá số tổng quát, lá số thứ hai là lá số lưu đại vận 10 năm, lá số thứ ba là lá số đại vận lưu niên. Cùng với nó có tiểu vận lưu niên và cung có thái tuế nhập. Thêm bao nhiêu sao lưu nữa thì... chúng ta sẽ tá hỏa bởi chỉ mới đoán đến vận lưu niên thôi mà đã quá ư là phức tạp. Làm sao xử lý được tới ba lá số chồng đống lên nhau. Rồi các sao sẽ được an vị thế nào?. Tại sao khi lá số lưu xoay chuyển như thế mà các sao lại "đứng ỳ ra đó", chỉ có một số sao là dịch chuyển, đó là các sao lưu mà thôi?.
Thực ra không phải như vậy. Đó là bởi vì, chúng ta đã có ý niệm sai ngay từ đầu rằng kết quả giải đoán đến vận lưu niên là đã có ba lá số chồng lên nhau. Cũng như bài toán lưu cung. Việc chứng minh hoàn toàn không đơn giản. Nhưng chúng ta có thể tạm đồng ý với nhau bởi vì những lý do sau:
- Lý, mệnh và vận phân ly. Theo ý kiến này, sự thiết lập ba lá số chồng lên nhau là tự nhiên, từ đó đương nhiên, người ta có thể xét chỉ một lá số lưu cuối cùng mà thôi. Nhưng sẽ khiên cưỡng, bởi vì từ đó phải tuyệt đối an sao lưu toàn bộ. Nhưng với những sao an theo năm thì còn có thể. Những sao an theo tháng, ngày giờ thì lấy cái gì để an đây?. Chả nhẽ lại suy từ ngũ hành của cung an mệnh vận?. Đây là điều bất khả do tính đa trị của nó, cũng như về lý rất khiên cưỡng.
- Lý, mệnh vận liên kết. Sẽ đưa tới sự lược bỏ rất lớn đối với các lá số lưu, khiến chúng ta, suy cho cùng kỳ lý – bởi sự không nắm được bản chất cấu trúc của tử vi – thì sẽ lược bỏ vô tội vạ, cuối cùng thì chẳng có một lá số lưu nào cả, hay chỉ là những cung lưu về mặt hình thức mà thôi.
Nhưng thực tế thì, cả hai lý trên đều đúng. Có điều, nghiêng hẳn bất cứ về cái lý nào, cũng đều cực đoan cả. Trong tử vi luận, khác với lý luận hay lô gíc thông thường của khoa học là khi suy luận giải các bài toán khoa học, người ta thường "làm quá" các giả thiết, hay các chứng cứ, cũng như điều kiện của bài toán để tìm ra lời giải của bài toán, thì tử vi luôn không được phép làm như vậy. Tại sao vậy. Giải thích nôm na rằng làm như vậy là vi phạm cái lý âm dương. Nhưng để hiểu được thì không đơn giản tý nào.
Quay trở lại hai lý trên, chúng ta đương nhiên phải chọn giải pháp "trung dung". Nhưng trung dung tới mức độ nào, lại còn phụ thuộc vào trình độ của tử vi gia. Ở trình độ này, người giải sẽ phải vận dụng thêm nhiều phép phối hợp khác. Một trong các phép đó, chính là bên cạnh lưu cung còn có lưu sao ( 9 sao lưu). Nên nhớ, cung tiểu hạn lưu niên và lưu thái tuế là do tự thân nó có, chứ không phải là sự phối hợp thêm do yêu cầu của bài toán lưu cung.
Theo lý đó, tử vi gia phải thiết lập một sự phối hợp sao cho việc giải đoán các biến cố sao cho biến cố được giải đoán phải có những biến cố không được phép xảy ra nhiều lần trong đời. 
Kết luận: tiểu vận lưu niên không phải là mệnh vận lưu niên, mà chỉ có đại vận lưu niên mới là mệnh vận lưu niên mà thôi.
Vậy luận cách từ mệnh vận cho thông tin của mệnh trong vận đó, vậy thì luận cách cục từ LNTH và Thái tuế thì cho ra thông tin về cái gì?.
Đây là câu hỏi tự nhiên, nhưng là câu hỏi mang tính chất rất trừu tượng, do đó mà câu trả lời cũng không thể hy vọng có tính chất rạch ròi, như hai chia hai bằng một được. Ta nên hiểu như thế này.
Phàm những gì được giải đoán từ lá số tất thảy đều thuộc về những biến cố cuộc đời của đương số. Đoán về mệnh vận dài hạn, cũng như mệnh vận ngắn hạn. Có khi đều cho ra những biến cố cụ thể, mà những biến cố đó chỉ xảy ra trong thời gian một năm, thậm chí còn thời gian ít hơn một năm, nghĩa là chỉ vài tháng thôi. Nhưng cho dù chỉ là vài tháng, chúng ta cũng chỉ thấy nó thể hiện trong đại vận 10 năm, vậy mà trong vận một năm hay nhiều năm trong đại vận đó lại chẳng thấy nó xảy ra. Nhưng rồi trong một năm nào đó, và trong năm đó, chỉ có vài tháng là xảy ra. Chúng ta nói rộng ra cho dễ hiểu, chẳng hạn có số nào đó bị tù đày, nhìn trên số tổng quát thấy rõ là số bị tù. Nhưng trong thực tế thì người có số chỉ bị tù vài năm thôi, chứ không bị tù cả đời. Và vài năm đó chỉ xảy ra trong đại vận nhất định nào đó mà thôi. Đó là một thực tế không thể phủ nhận được. Cho nên mới có câu hỏi: Số bị tù, nhưng khi nào mới bị tù?.
Đấy là nói về vận. Còn với LNTH và Lưu thái tuế thì hiểu thế nào?.
Trên tinh thần hiểu như trên khi nói tính tương đối của Vận, thì cái gọi là thông tin từ LNTH và LTT cũng là thông tin về Mệnh tại vận đó. Một sự tổng hợp thông tin có được từ cả ba cung đó, sẽ cho ta một bức tranh toàn diện hơn về các biến cố đối với mệnh trong bối cảnh toàn diện của các quan hệ mọi mặt của đời sống, hơn là khi mà ta chỉ khu trú, giới hạn trong việc xét thông tin mỗi một cung vận của mệnh. Vì thế, khi thấy một cách cục trong một cung, không nên võ đoán vội ra tiêu chí ngay, mà phải xem xét trên tổng thể, nếu thấy chúng xuất hiện với tần xuất nhiều lần thì tiêu chí, hay biến cố sẽ càng chắc chắn xảy ra. Thay vì chỉ có một lần xuất hiện ở một cung, mệnh vận lưu niên chẳng hạn, thì không nên vội kết luận. Điều này càng có ý nghĩa trong hóa giải. Chẳng hạn như mệnh vận lưu niên thấy tai nạn giao thông xảy ra, nhưng tiểu hạn lưu niên lại thấy được hóa giải và lưu thái tuế lại thấy chẳng hạn như vợ con yên bình thì có thể đoán quyết là tai nạn sẽ không xảy ra, mà chỉ hú hồn thôi, hoặc giả tai nạn có xảy ra nhưng nhẹ và được cứu thoát kỳ lạ,... Cho nên gặp những trường hợp đó rất khó nói ra, bởi khi nói ra rất dễ làm trò cười cho thiên hạ nghe giải đoán, hoặc lại bị cho là hù dọa lấy tiền, lấy danh,... mà không nói ra thì...đáng tiếc những trường hợp như thế lại gặp rất nhiều trong giải số.
------------------------------------------
Tuổi Canh thì tứ hóa sẽ là: Nhật - Vũ - Âm - Đồng, mà không phải là Nhật, Vũ, Đồng, Âm. Tuổi Nhâm là Lương - Vi - Thiên phủ - Vũ khúc. chứ không phải là Lương, Vi, Tả phù, Vũ khúc.
Tứ hóa, đơn giản chỉ là Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ Khí mà thôi. Không cần thiết phải vễ vời nào là cho rằng Lộc là hóa khí của mùa xuân, quyền là hóa khí của mùa hạ, khoa là hóa khí của mùa thu, kỵ là hóa khí của mùa đông. Để rồi từ đó tìm những tính chất của bốn mùa mà ghép cho tứ hóa. Từ đó dẫn tới nhiều tính lý của tứ hóa "lạ lẫm" mà người ta cứ thản nhiên chấp nhận.
phép thái tuế nhập quái cũng thế. Có rất nhiều khuyết tật. Thực chất, muốn dùng chuẩn phép này, phải thông tỏ phép chồng số và quay số. Nếu nhìn theo quan điểm toán học, thì phép thái tuế nhập quái chỉ là phép gần đúng thô nhất có thể có của phép chồng chập lá số mà thôi. Ví như 2,6 mà làm tròn số thành 3 vậy.

Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

Lá số mẫu - DLT#?



Lời giải của chú Vuivui

Lá số ĐLT chỉ đọc về tính tình, con người thì dễ, nhưng đọc về sự nghiệp, bản chất con người thì không dễ tý nào. Song nội quy diễn đàn – không nói về chính trị – mà lại cho thả cửa bàn về tử vi của những con người có dính líu đến chính trị, dính líu đến xã hội thì cuối cùng, làm sao cho đến đầu đến đũa. Khổ nỗi, mỗi khi tranh luận, người có ý tốt thì đều muốn ít nhất trong khả năng có thể là cố gắng làm sáng tổ một vài điều. Người không có ý tốt, thì chẳng nói làm gì, nhưng chắc chắn, với những quy định mâu thuẫn với thực tiễn như vậy, lại thấy đây là mảnh đất màu mỡ cho họ. Tôi bị mắc vào cái vòng luẩn quẩn này, nên mỗi khi "hạ bút" vài câu, cũng thấy như có ai đó làm công tác định hướng báo chí đang định hướng mình.

Thế nên, tôi xin nói trước, nếu có cái gì dính líu đến cái mà phải bị xóa thì cũng xin lỗi trước, và nếu do đó mà câu văn, cũng như ý tứ trở nên "bị rách" thì cũng đội mũ "phớt ăng lê" hộ cho.

Tôi cũng xin lỗi luôn vì cái sự dài dòng. Vì quả thật, tham gia vài câu về lá số này, không thể tránh khỏi có những ý liên quan đến thời thế và chính trị.

Lá số này xem về sự nghiệp, khó là ở chỗ. Có phú cách, bởi phủ tướng triều viên, nhưng lại chẳng phải là phú cách, do bị phá cách bởi tuần, kình hãm địa thủ mệnh cùng hao thủ tài. Đố ai dám bảo người này được hưởng phú cách là phủ tướng triều viên ?! Có quý cách mà cũng chẳng ra quý cách là cách vũ tham hóa quyền. Nhưng bị phá nặng bởi thân thủ như nói vũ tham thân cư vi hạ cách. Quả thực, nhiều người thấy cách này chứ không phải là không. Làm sao dám bảo đây là quý cách. Cả phú lẫn quý bị phá như thế, nhưng thực tế thì con người này, chí ít thì cũng là bộ trưởng. Cho dù cái bộ trưởng của một chính thể chẳng ra gì, nhưng ai cũng dám chắc rằng, ở cái chính thể này, dẫu làm thủ tướng như cái anh thủ tướng kia thì cũng chẳng danh giá gì, có chăng, nếu theo cái nhìn, đánh giá của lịch sử thì chỉ là cái danh nhơ nhớp, đời đời nguyền rủa, đó là vị trí hái ra tiền, là chỗ để tham nhũng béo bở – khi phân tích trên bàn cờ lý số, chúng ta sẽ thấy với cái lá số này, thì việc đặt nhân vật này vào vị trí này, cũng chẳng khác gì với việc đặt Phạm thanh Bình làm quản lý Vinashin, là người thủ đúng vai khai thác mỏ cho lợi ích của ai đó, mà nhắm mắt chúng ta cũng biết tiền thất thoát nó đổ về đâu. Cũng qua nhân vật này, bằng phân tích trên bản đồ lý số cũng thấy được cái "nhóm lợi ích" nó hình hài ra sao !

Quả thật, lá số này, phúc chế được tài, mệnh cũng lý được tài. Thân cư thê vũ tham thủ là vi hạ cách ngộ triệt lại hóa hay. Ít nhất cũng thấy vũ tham thủ thân thì hành vi ti tiện, keo bẩn, mà ngộ triệt thì không như vậy nữa, thậm chí chúng ta còn thấy đương số thể hiện những hành vi hào sảng, quang minh chính đại. Nhưng vũ tham đã thủ thân, dù ngộ triệt, chắc chắn cũng là người có hành vi rất tính toán và thủ lợi. Đà la Riêu hội họp thì thâm và âm độc. Hóa ra thân thủ vũ tham ngộ triệt lại hóa hay, thêm hóa quyền thì thành ra là kỳ cách. Nếu không có triệt thì dẫu hóa thành quyền cũng chỉ là loại tham lam, độc đoán mà sự nghiệp cũng chẳng có gì để mà thành có quyền có thế được. Nếu ví thử vũ tham thủ mệnh mà triệt xâm phạm thì lại chẳng ra gì. Hay là ở chỗ đó. Nhưng triệt nằm đó, thể nào thưở thiếu thời cũng lận đận về công danh. Mà mệnh lại thiên tướng hãm bị kình dương hãm kèm cặp thì chẳng danh giá gì. Mà với cái mệnh như thế, cái thân như vậy với quan cung rất chi tương hợp thì dám chắc rằng cái bằng ts đó là bằng đểu.

Mệnh có đào hì, ri lại có hỉ hồng là song hỉ trùng phùng hội hồng đào, mà chủ cung mệnh là thiên tướng thì đắc đào đắc kép, mình làm mình vui mà ra ngoài cũng làm thiên hạ vui, cùng với văn khúc thì có kém gì so với phường đào hát, múa rối, làm trò vui cho thiên hạ, thấy tấu thư ở quan nên mới đắc lợi cho quan nghiệp. Nhưng văn khúc ở vị trí sáng sủa thì cũng được đặt đúng nơi đúng chỗ cho có danh giá một chút. Cũng tầm cỡ của phường trò cho vua chúa đại quan thưởng lãm, chứ không phải là phường con hát lang thang. Được hàng loạt cát tinh hội tụ tại mệnh với anh thiên tướng hãm đóng vai khù khờ, gió chiều nào che chiều ấy, trong tay thủ con dao kình dương hãm – sẵn sàng chém lung tung – khi lên cơn say thì là loại người mua vui thiên hạ nhưng cũng được hưởng lắm ân sủng. Cho nên, với loại người – dao găm thủ, mà lại che dấu hành vi đê tiện, âm độc (đà riêu) thì người bình thường nên tránh xa. Chỉ những loại cùng hung, cực ác, cực kỳ đê tiện và tiểu nhân mới dùng được loại này thôi. Loại người này đội trên đạp dưới, nhưng có cái vỏ rất tốt là hòa đồng, quảng đại và vui vẻ. Bình thời thì sống chung cũng được, nhưng gặp việc thì mình sẽ là cái xác lót đường cho nó. Nhưng lá số này có đặc điểm, thân cư thê phản vi kỳ thì phu thê gắn bó, vợ có trách nhiệm với chồng và con cái, nhưng cuộc đời gắn rất chặt với vận số của đương số. Đương số là nam nhân, nên chuyện này là bình thường, không có gì là đặc trưng, nhưng nếu là nữ nhân thì vấn đề lại quan trọng, rất đặc trưng.

Tài cung thuộc phú cách bị phá, phúc lại chế tài, mệnh lý được tài thì đối với tiền bạc là kính nhi viễn chi, song tham tài không tránh khỏi. Cũng ví cái lý này mà đương số khởi sự từ cái nghề kế toán, nhưng sớm ra rời nó, song số vẫn giàu, với hao hãm ngộ tuần tại tài cung mà phú cách với cái thân phản vi kỳ thì cách tiêu tiền cũng là cái đáng để ý và cái sự giàu cũng có vấn đề đằng sau của nó.

Cái thân là quyền, đến hạn quyền lực của khôi việt, mệnh thân tương hợp, mệnh nhược thân cường thì đương nhiên sẽ phát, nhưng cái phát này có bởi hành vi chứ không bởi thực tài. Gặp cái thời hôn chúa và tham lam có tính tập thể thì sẽ phát huy tác dụng mà ngoi lên nhanh chóng. Đó là sinh phùng thời vậy.

Có người sẽ hỏi, cái cung quan bình thường như vậy thì làm sao leo tới như thế. Nhưng ngâm kỹ, nếu ta liên tưởng tới những câu chuyện có thật trong sử sách. Nói rằng, thưở trước, dưới thời các vua chúa trị vì thì hay có những phường trò, con hát làm vui cho vua chúa. Có những kẻ thuộc phường này "ngẫu nhiên" được vua hay chúa sủng ái. Gặp được hôn quân thì đúng là như cá gặp nước. Có kẻ nhờ vậy mà tận dụng cơ hội nhảy ra tham chính. Hoặc là được làm một quân cờ trong bàn cờ của nhóm lợi ích, hoặc là tận dụng lòng sủng ái của hôn quân mà leo cao, tiến xa, thậm chí nắm cả những vị trí then chốt, rường cột của quốc gia. Nên nói, quan cung này, đẹp thì chẳng đẹp, khí cũng chẳng có gì mà vượng. Nhưng nó được cái hợp cách, tương hợp với bố cục mệnh thân và phúc, thuộc vào cách phủ tướng triều viên, bị phá mà lại phản vi kỳ, thì là lợi đôi đường. Chứ người này thì lấy đâu ra cái Chí để bốn phương. Cũng chỉ là phương tham mồi mà thôi. Vậy nên sự nghiệp như vậy, vị trí với cái thời như thế này cũng chỉ rõ cho chúng ta thấy cái bản chất của một cái Đỉnh tham nhũng rất rõ ràng vậy.

Nhưng dường như trời cũng công bằng. Đó là lý số, chứ không phải cái thường lý, hay cái sự ... ở đời thực mà có thể mong muốn, hay từ chối, dù là tự nhiên hay cố cưỡng. Phúc cung bị cài lại Linh tinh hãm địa, Quan cung trấn giữ bới Hỏa tinh tối tăm u ám. Thiên ri cung thì nằm chắn ngang một Liêm Phá hãm địa với thiên hình đắc thủ tại đó, như một cái án sát tử tuyên sẵn cho đương số. Chỉ chực chờ khi xã hội đổi thay thì đương số lên thớt. Mà kình ở mệnh kê ngang cổ thiên tướng hãm địa bất tài vô tướng với đào hồng hỉ của phường con hát mẹ khen hay mà đà riêu thủ ở thân là cái hành vi bất tường vô phúc gây nên ác giả ác báo. Chứ không phải là thấy có tham lang tam hợp và xung chiếu với hỏa linh mà nghĩ rằng là cách tham hỏa linh phùng, tước chi hầu bá đâu. Vì rằng hỏa linh ở đây hãm địa, giao hội tương hợp với đà riêu kình liêm phá mình độc với người thì người cũng độc lại với mình. Hỏa linh là đoản thọ sát tinh, đóng ở quan và phúc thì khi họa tới, sự ngiệp tan tành, mà phúc cũng thê lương. Chứ đừng có nghĩ là tham nhũng được ít tiền, gửi nhà băng thụy sĩ là yên chí cho con cho cháu sau này, hay về hưu được khang kiện đâu. Lên trong vận này thì cũng xuống ở vận này. Mấy hồi.

Ngắm nhìn số này mà nghĩ tới sử sách, thấy cũng thật là tấu hợp. Sử cũ có ghi rằng, hễ cứ vào cái thời mà mà phường hề tham chính, thì y như rằng thời đó là hôn vua ám chúa ngự trì, cũng là thời mạt của vận nước vậy. Cấm có sai !!!

Bàn cờ lý số (như đã nói qua ở trên), nếu được phép thì cũng sẽ xin có đôi dòng. Song cũng còn phải chờ xem bài này có bị định hướng không cái đã.

Thân ái.
----------------------------------------


Mệnh đắc "Tài Ấm giáp Ấn", Thiên Tướng hội Thai Tọa, Phụ Cáo, Quang Quý
Thân đắc "Tam Hóa liên châu"
Di được Thiên Hình nhập miếu hội Xương Khúc Quyền
Phúc Tử Sát Xương Khúc Quyền Hình Linh

Tuy nhiên, Kình hãm nhập Mệnh cung, Quyền tại Thân lạc không vong gia Riêu Đà Kị, Phủ phùng Không Hao Hỏa Linh, vẫn thấy... không ổn. E rằng còn gì đó "bí ẩn" trong lá số này. 

Với một Thiên Tướng hãm gia cát tinh gia thêm Đào Hồng thì thường đúng cách giỏi chuyên môn, lại có khí chất văn nghệ sĩ, kể làm thầy giáo hay chuyên gia hợp cách. Tuy nhiên có lẽ Kình hãm nhập mệnh làm cho đương số không chấp nhận một cuộc đời bình thường, Thân lại Tham Vũ Quyền thì càng vậy, sức phấn đấu vượt bậc. Nếu đúng số này, e rằng không ổn cho hậu vận, Kình Dương Lực Sĩ, Quyền lạc không vong dường như đã báo trước.

Tuy nhiên Thiên Tướng ở cách cục đẹp thì vẫn chỉ nên làm phó. Ở đây Thiên Tướng hãm những cái đẹp của con người Thiên Tướng không còn nữa, gia thêm Kình, cộng thêm sự "đắc lực" (nào đó mà chưa rõ) mà trở thành con người thâm trầm, khôn ngoan, để có thể trèo cao, rồi ngã đau, cho đúng cái số Kình hãm, Quyền Đà Triệt. Chứ nếu ông ta cứ làm nho nhỏ thì làm sao mà có "tai hoạ khủng khiếp" của Kình hãm được.

Theo cụ Thái Thứ Lang: Thiên Tướng đồng cung Kình Dương là cách cục xấu, như dao kề trên cổ, thường có sự chẳng lành. Tuy nhiên cần phải xem sự chẳng lành là gì, bao giờ xảy ra, có chế hóa không. Tạm thời, nếu coi lá số này là đúng, TSTĐ tôi mới tạm chấp nhận rằng: Tài Ấm giáp Ấn, Tam Hóa liên châu, Tướng Thai Tọa Phụ Cáo Quang Quý Đào Hồng sẽ đưa đương số lên cao, để rồi Kình Lực hãm, Quyền Đà Triệt thực thi đúng ý nghĩa của nó, cho đúng số.

-----------------------------------


Lời giải chị Liên Hương

Các câu phú như "Vũ Khúc thủ thân vi hạ cách" hay "Tham Vũ tiền phú hậu bần vì phùng Kiếp Sát" hoàn toàn không sai. Thấy các câu phú sai vì chưa hiểu các điều kiện CẦN & ĐỦ của nó mà thôi!

Ví dụ câu phú thứ 2 ở trên chỉ được nêu "nghi vấn" khi nó là Tham Vũ Thìn Tuất và cũng cần có điều kiện CẦN & ĐỦ để xảy ra chứ không thể máy móc áp dụng được.

Trở về với lá số, để đủ yếu tố cần thiết kết luận thì cần phải CHÍNH CHỦ NHÂN LÁ SỐ ĐƯA LÊN hay người ĐƯA LÊN CÓ KHẢ NĂNG PHỎNG VẤN CHỦ NHÂN LÁ SỐ để tìm xem ĐIỂM CỐT LÕI LÁ SỐ LÀ Ở ĐÂU (?). Tìm xem cái gọi là "hạ cách" nó nằm ở khoảng nào trong "tiêu chuẩn". Như tiêu chuẩn nước uống trong sinh hóa có "cận trên", "cận dưới" hay là "điểm giữa" hoàn toàn khác nhau cả - Một ví dụ để minh họa. Trở về lá số:

- Cách Phủ Tướng, quan yếu lá bộ sao Cáo Phụ, Đường Phù quá độc đáo khi nằm ở Mệnh, ở đây chưa bàn tới Đào Hồng Hỉ và Hỏa Linh. Chỉ bộ sao trên là đủ! Nhưng đây lại có Khôi Việt quá độc đáo

- Và đây là người sớm được "thừa kế" nhiều thứ

- Cung an Thân có Vũ Tham - Có Triệt và Quyền và tam phương có Linh Hình ...Đặc biệt bộ Tham Vũ sửu mùi cực kỳ thích thú khi có Hình Linh đây là bộ sao làm nổi bật cho Tham Vũ, đã thế còn Khôi Việt. Nếu đứng từ phía Tử Sát càng độc đáo hơn nữa. Và "đứng từ đây" sẽ thấy nhiều điều lạ!

- Ngoài ra, nếu không cần biết ông ta là ai khi nhìn lá số Tôi nói ngay người này học vị, có chuyên môn sâu dạng chuyên gia chứ không đơn thuần là Tiến sĩ MLN! Và khả năng luồn lách tránh nguy cơ thuộc dạng siêu đẳng. Nếu một ngày nào đó ở Bộ ông ta có dự án nào được phản đối thì Ông ta sẽ xuất hiện câu nói là "chủ trương của Đ..." (tất nhiên nếu là số ông ta) thì không có gì ngạc nhiên cả!


Nói chung đây là người có khẩu tài, thích nói trạng, tạo được sức hút người khác khi nói và đặc biệt với phái nữ ...Một dạng tiến thân từ hoạt động phong trào. 

-------------------------------------------

mệnh có kình lực là chủ xây dựng sông đà
thân có song lộc là chủ dầu khí


-----------------------------------------------
Bác Hà Uyên:

Tuổi Canh song Lộc ngộ Hà
Cự Nhật đảo "thế" vì là Trường sinh
Quan cung Tuế Tướng độc hành
Coi người như rác Nô hiềm Thiên không.

Thảm đỏ trải sẵn rộng đường
Coi thường "nhân" "nghĩa" mấy hồi đường thông 



Tam hóa kia dân đen sao sánh?
Đường phù này hóa giải Thiên không !
Dẫu rằng vài chữ nói chơi
Sông đà đã gặp, nay ngồi ngôi cao 



Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Các bộ sao liên quan đến các nhà khoa học như trường hợp NBC (bài viết chú vuivui)

Trước hết tôi nói rõ, người nghiên cứu khoa học, dù nhận giải nobel hay fields cũng vậy không phải là người có lá số được xếp vào hạng phi thường cách theo thái thứ Lang. Chứ tôi không nói họ không phải là người phi thường. Nếu họ là những người phi thường, thời đương nhiên phải có lá số phi thường. Song những lá số phi thường này, từ xưa tới nay, chưa có sách vở nào đề cập đến nó cả. Từ xưa đến nay, chúng ta tuy không có những phân định về mặt nguyên tắc, nhưng cũng đều ngầm định mà hiểu với nhau rằng, có những nhà khoa học lớn và những nhà khoa học xuất sắc. Những nhà khoa học lớn là những người tiên phong, mang tầm vóc tư tưởng lớn, có học thuyết mang tính khai sáng. Nhưng nhà khoa học xuất sắc là những người có những công trình xuất sắc, giải được những bài toán đặc biệt, ...cho nên, chúng ta có thể thấy, có những nhà khoa học xuất sắc được giải thưởng lớn, mà cũng có những nhà khoa học lớn lại không có giải thưởng nào. Hoặc có nhà khoa học lớn lại được giải thưởng ở những công trình không phải tầm vóc của họ.

Chẳng hạn như Einstein, là nhà khoa học lớn, nhưng được giải thưởng Nobel về công trình hiệu ứng quang điện, trong khi tầm vóc của ông, ông là nhà vật lý lớn bởi lý thuyết hấp dẫn của ông. Khi phân biệt như vậy, ta dễ dàng thấy rằng, những nhà khoa học  lớn như vậy, mới chính là phi thường nhân, ứng với những lá số có phi thường cách. Còn những nhà khoa học xuất sắc, đương nhiên lá số của họ cũng sẽ có những cách cục đặc biệt, nhưng không thể là phi thường cách được. 

BCN là nhà toán học xuất sắc. Có thể so sánh trực tiếp, chứ không cần so sánh đâu xa, ngay với Robert Langlands cũng không thể so được. Có thể nói, BCN vẫn chỉ là một người giải toán. Một người giải toán xuất sắc, có số may mắn được thế giới đánh giá đúng giá trị của công trình bởi giải thưởng Fields. Tôi không biết Langlands có được giải thưởng fields hay không. Nhưng cho dù không được, cũng không vì thế mà liệt Langlands dưới hạng tài năng só với BCN được. Tầm vóc tài năng hai con người này khác hẳn nhau. Một người khai phá và mở ra chân trời mới, có tầm vóc tư tưởng lớn. Một người là anh thợ cày, cày trên những thửa ruộng đất cằn sỏi đá. Thành thử, có thể xem Langlands là phi thường nhân toán học, nhưng BCN thì không thể xem là phi thường nhân toán học được, mà là nhà toán học xuất sắc. 

Xem xét như vậy, việc định ra lá số sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Như 12 lá số trong ngày 28/06 dương lịch ấy, không thể tìm đâu ra một lá số phi thường được. Cho dù đó là số phi thường không theo cách xác định của VDTTL. 

Ta hãy xem xét liệt kê tiêu chuẩn số mà Thất Sát đã kê toa: 

-Ngoài lý TPVT Khoa Quyền Lộc sặc sỡ, thì Sát tinh đắc cách. 

Trước hết, một nhà Khoa học hàng đầu, có nhiều công trình sáng tạo, có tính cách mạng thì không thể có bộ TPVT làm chủ được. Cho dù có được KQL (Khoa Quyền Lộc) sặc sỡ bao nhiêu đi nữa. Tại sao vậy. Đã gọi là làm chủ, thì cách cục đó, hay bộ đó phải là chủ đạo, chi phối mệnh người có số. Ta biết, bộ này là bộ chính tắc, mang tính quy cũ, theo lề lối truyền thống. Với chính trị thì những người này rất hạp, rất tốt bởi sự phụng sự thiên hạ, đưa tới những sự phát triển ổn định của xã hội. Bộ này rất ghét cách mạng, rất ghét sự thay đổi mang tính cách mạng, sự lật đổ. Có đặc điểm trung thành với truyền thống, sự cống hiến cho sự phát triển tuyền thống, chứ không làm đảo lộn nó bằng những cải cách cách mạng, dù chỉ là trong tư duy. Vì vậy, bộ này càng hội cát tinh, càng sặc sỡ bao nhiêu thì tính "bảo thủ" càng lớn bấy nhiêu. Trong nckh muốn sáng tạo, rất kỵ điều này.

Nhưng Sát tinh đắc cách thì được. Nhưng chỉ với sát tinh đắc cách thôi, thì nặng về kỹ thuật, thừa hành, cho dù tính thực hành đó có sáng tạo bao nhiêu đi chăng nữa, cũng chỉ trở thành một Edixon hay Faraday mà thôi

-Mang VCD. Những người này thông minh thì có thông minh, nhưng chỉ là VCD thì chỉ là loại khôn vặt. Song ở những người này có những đặc tính cần có của người nckh, sáng  tạo khoa học, lý thuyết gia. Đó là sự mẫn cảm, nhạy cảm hơn bình thường. Song cần nhớ rằng, không phải cứ người có sự nhạy cảm thì phải là VCD. Sự nhạy cảm của người VCD thường buông lung, bất định, nên sự tham gia của tư duy logic là rất hạn chế. Ở họ, nếu không có những cách cục định hướng tư duy thì chỉ co thể làm nghệ thuật mà thôi. 

-Không Kiếp. Kể cả đắc hay hãm, với người làm KH thì đặc biệt tốt. Nhưng chỉ với KK thôi thì không được. Bộ này phải được "chỉ huy" bới lực lượng khác mới phát huy tính cách mạng, sáng tạo phi thường được. Tuy nhiên, chớ có vì thế mà cho rằng có Phá quân đi với KK là hay !. Bởi bộ này chỉ hay với cách mạng xã hội mà thôi, do bản chất Phá quân phiêu lưu, lông bông bất định, lại là sao lớn, rất khó có sao định hướng được nó. Ở cấp độ NBC, thì bộ này không hợp lý. Đối với một nhà Khoa học có KK tham gia, nếu có cách cục thích ứng thì nhà khoa học đó sẽ là nhà khoa học lớn. Còn như không có KK mà thay vào bộ khác thì cũng không ênn cơm cháo gì, nếu có Thiên không Kiếp sát thì cũng chỉ tới tầm xuất sắc mà thôi. Cho nên, khi xem xét một lá số của một nhà KH mà có KK tham gia, thời phải rất cẩn thận, bởi rất dễ lầm lẫn một kẻ Khùng với một Nhà Khoa Học Vĩ Đại. 

-Chính tinh cực hãm hay cực miếu. Điều này chung chung quá, nó có cũng đúng mà không có cũng chẳng sai. Khó có thể dùng để luận được chính xác một lá số. 

Bài sau, Tôi sẽ liệt những tiêu chuẩn trên lý số cho một người làm khoa học, và tầm vóc của các tiêu chuẩn đó. 

Ta biết rằng, mỗi con người đều có tư duy logic và tư duy sáng tạo. Ở mỗi loại người trong xã hội, trình độ lý luận và mức độ sáng tạo có khác nhau. Có người nặng về lý luận, có người nặng về sáng tạo. Người nặng về lý luận, tư duy logic chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn tư duy sáng tạo thì thường hành nghề luật, thầy cãi, làm chính trị, ... 

Tư duy logic mà nặng thực hành thì thường làm kỹ thuật, thực nghiệm. Tư duy sáng tạo chiếm tỷ trọng cao thì thường có thiên hướng văn học nghệ thuật. Người nghiên cứu khoa học không hẳn nghiêng về phía tư duy logic chiếm tỷ trọng cao, cũng không hẳn nghiêng về phía tư duy sáng tạo chiếm ưu thế. Ở những người làm công tác nghiên cứu khoa học, thường thì cả tư duy logic và tư duy sáng tạo đều ở tầm mức cao độ. Khiến cho đứng ở góc độ nào cũng không thể liệt họ về một bên này hay bên kia. 

Nói như thế, không có nghĩa là bất cứ nhà khoa học nào cũng đầy đủ tư duy logic và tư duy sáng tạo. Cũng có những nhà khoa học nặng về tư duy logic thuần túy và cũng có những nhà khoa học thiên về tư duy sáng tạo. Nhưng với những nhà khoa học loại này, có những đặc điểm rất dễ nhận ra, và có một sự phân loại đơn giản, mà lại rất chính xác. 

Ở những nhà khoa học nặng tư duy logic, thì óc sáng tạo  của họ bị vùi lấp. Những nhà khoa học này, có thể kiến thức họ bao la, họ đọc thiên kinh vạn quyển, nói năng, trình bày khúc chiết, chặt chẽ. Có thể nói, cái gì họ cũng biết. Nếu đi học, thường họ là những người học rất giỏi, thầy cô và bạn bè thán phục với những thành tích học tập rất cao. Nhưng đứng ở góc độ của người làm khoa học mà có phát minh, sáng chế, thì sẽ nói họ như là những người: Cái gì cũng biết, nhưng thật sự là họ chả biết cái gì cả. Thật thế, nói tới sách vở thì họ có thể trích lục, sao dẫn chính xác, đầy đủ không thể chế được. Nhưng trao đổi với họ những vấn đề còn đang là hóc búa, hay chưa được nghiên cứu, hay còn mới mẻ, thì họ ngọng. Họ có thể trở thành những giáo sư, những nhà sư phạm giỏi, nhưng cả đời chẳng có phát minh nào cả. Nhưng đừng nói họ không thể có những công trình. Nói thế là sai. Bởi họ vẫn có, thậm chí những công trình có tầm vóc. Chẳng hạn như đó là những công trình có tính biên tập, khảo cứu, hệ thống hóa. Với những người này, những lĩnh vực thích hợp là khảo cứu lịch sử, viết sách giáo khoa, kể cả khoa học tự nhiên và xã hội, biên tập đại bách khoa toàn thư, ... 

Ở những nhà khoa học nặng tư duy sáng tạo, thì đó là những nhà phát minh, những chuyên gia về ý tưởng. Họ có thể trình bày những ý tưởng, những đề án phát minh lớn lao. Song 10 may ra được 1, bởi những tư duy buông lung, mà người ta hay gọi đó là trí tưởng tượng phong phú. Ở những người này, thời đi học, họ thường là những học sinh bướng bỉnh, khó bảo, bất phục, được đánh giá là rất thông minh, nhưng thành tích học tập thường không ổn định, nhiều môn, ngành họ phải chấp nhận thành tích rất yếu, nhưng có những môn, ngành họ có thành tích xuất chúng, ít người bì kịp. 

Làm một nhà khoa học thực thu, nhất thiết phải có cả hai. Và tầm vóc của nhà khoa học đó tương ứng với tầm mức của cả hai loại tư duy này. Thế nhưng, oái oăm thay, hai loại tư duy này xung đột nhau, chèn ép nhau. Ở trong cùng một con người, với tầm vóc thấp thì chúng còn cùng tồn tại. Nhưng ở trình độ cao thì chúng khó mà dung nhau, khó mà đồng thời cùng có những thể hiện xuất sắc. Bởi môt bên tư duy logic là loại tư duy bảo thủ, trói buộc, lệ thuộc. Còn tư duy sáng tạo là loại tư duy cách mạng, cải cách, phá bỏ những lệ thuộc, không chịu sự ràng buộc. Loại tư duy này rất cần sự mẫn cảm, sự nhạy bén. Vì thế, khi phát triển tới trình độ cao – không nhất thiết là do được đào tạo, mà phần lớn có được bởi năng khiếu bẩm sinh – thì nước lửa không dung nhau. 

Khi người nghiên cứu khoa học, cho dù là tương lai, có tầm vóc tư duy lớn. Ở họ, thiên nhiên, hay nói là trời cho, đã cho họ một đường "thoát" ra khỏi sự xung đột của hai loại tư duy đó. Đường thoát đó, chính là sự thăng hoa, mà người đời gọi đó là sự thăng hoa của trí tuệ. Khi trí tuệ của họ thăng hoa, hiệu ứng này nó liên hệ với những biểu hiện của khả năng, tính tình, cá tính đặc biệt. Có người thì có năng lực thể hiện âm nhạc – như Einstein, có người thể hiện ra khả năng làm thơ, có người làm họa, nặn tượng, có người thể hiện ra sự ở sinh lý. 

Tuy nhiên, sự thể hiện loại này cần phải phân biệt với nhiều loại khác, chẳng hạn như họ không phải là người dâm dật, cũng không phải là loại tiện dâm, ..mà ở họ, chỉ đó là sự thăng hoa về sinh lý, một sự háo sắc đặc biệt, thông qua thể hiện những si cuồng bão táp trong tình yêu. Họ yêu mãnh liệt, tôn thờ tình yêu, yêu ngấu nghiến, nhưng không phải bởi sức lực tràn trề, mà đó là bởi sự ham muốn đặc biệt mạnh mẽ. Cũng có kẻ thăng hoa ở lĩnh vực khác, như thích tranh biện, đấu trí với đời, như làm những việc chẳng giống ai, nghịch thường, chống lại cả nhân loại, xã hội – kể cả làm mafia. Phương tây xem xét những người như thế, và phát hiện ra rằng, họ thường dễ mắc những bệnh như là Thống phong chẳng hạn.

Có một điểm cần lưu ý, những người có biểu hiện như vậy, chưa chắc đã là người nckh, nhưng những người làm công tác nckh mà có những biểu hiện xuất sắc như vậy thì họ có những tiền đề của một nhà khoa học lớn. 

Tử vi xem xét vấn đề này rất sâu sắc và rất cụ thể. Nhưng để có thể xem xét được, thời phải có phương pháp giải đoán, chí ít cũng phải giải được bài toán, vấn nạn của tử vi. Đó là bài toán sinh cùng năm tháng ngày giờ, bài toán sinh đôi, sinh ba, sinh tư, ...bài toán sinh cùng tứ trụ – cách nhau 60 năm, ... Theo lý, như từ trước tới nay, chúng ta đều biết, tổng toàn bộ số lá số khả dĩ chỉ có khoảng trên dưới nửa triệu. Nhưng số người trên trái đất này cỡ khoảng 6 tỷ người. Số người sinh ra cùng một giờ trên toàn trái đất, là bất định. Khi ấy, theo lẽ thường, số người có cùng một lá số là bất định, mặc dù về con số trung bình là xác định cỡ 12000 người. Nhưng bản chất nó vốn là bất định. Một khi bài toán này không giải được, thì khả năng phân biệt tầm vóc tư duy như trình bày ở trên là bất định. Bởi vậy, trở ngại này phải được khắc phục. 

Lý thuyết mệnh chủ, cho phép một lá số có nhiều cuộc đời. Về lý thuyết, số cuộc đời ứng với một lá số, tuy đã có giới hạn, bởi số lượng sao và tổ hợp khả dĩ của các sao trong một lá số là giới hạn, nhưng đó là một số rất lớn, và số mệnh chủ cụ thể, vốn có bản chất là bất định. Con số giới hạn mệnh chủ khả dĩ, chỉ là về mặt thực tế, chứ về mặt lý thuyết, nó có thể được bổ sung đến vô hạn, bởi trên phương diện lý thuyết, số lượng sao trong lá số tử vi, không có gì ngăn chặn nó chỉ có từng ấy sao như chúng ta đã biết hiện nay. 

Với lý thuyết mệnh chủ, chúng ta hoàn toàn có thể khảo sát bài toán về Giới NCKH.



-----------------




Ở phần trước, tôi có đề cập tới hai loại tư duy, xung đột nhau, nhưng lại cùng tồn tại trong một con người. Ở tầm vóc cao, sự xung đột này được hóa giải bới sự thăng hoa. 


Kết luận này được phát biểu, sẽ có nhiều người nghi ngờ mà đặt câu hỏi: Tại sao lại là thăng hoa mà không phải là được hóa giải bởi những biến hóa khác, những thể hiện ở dưới dạng khác mà không phải là thăng hoa ?. Như đã mô tả sơ lược ở trên, sự thăng hoa đó biểu hiện qua như: Sự bộc lộ về khả năng âm nhạc, thơ văn, nghệ thuật, hay những cá tính khác thường về sinh lý, tình cảm. ... Điều này không phải là sự suy đoán, mà đó là từ thực tiễn. Chúng ta hoàn toàn có thể nghiệm chứng bằng những thực tê. Chẳng hạn, chúng ta tưởng tượng như sau: Có một người bị bắt, nhốt trong lao tù. Khi ấy, họ sẽ đối mặt với những xung đột lớn trong tâm lý. Thứ nhất, người ta sẽ ở trong trạng thái trói buộc, tù túng. Và khát vọng tự do sẽ trỗi dậy trong con người của họ. Khát vọng tự do càng lớn, thì sự cảm nhận về tù túng, trói buộc càng cao. Hai thứ tình cảm này xung đột nhau dữ dội. Từ đó sẽ xảy ra những trường hợp sau. 

-Người đó sẽ rơi vào khủng hoảng tâm sinh ly. Một trong hai trạng thái đó là tuyệt vọng đến hóa điên, tâm trí mất khả năng kiểm soát, thần kinh trở nên hỗn loạn. Trạng thái nữa là sự suy sụp, khuất phục trước hoàn cảnh hiện tại, cũng dẫn đến những thể hiện tuyệt vọng. Cả hai, đó là những trạng thái của người đã bị mất thăng bằng. 

-Người đó vẫn giữ vững được tinh thần. Nhưng ở họ, chúng ta sẽ thấy. Rất phổ biến như khi họ bị biệt giam, để hóa giải tình trạng xung đột, họ hát to lên, hát nhiều, đến mức cai ngục những tưởng họ bị điên. Nhưng không phải, đó là liệu pháp tinh thần của họ. Có người thì tỉ mẩn làm những việc không đâu như lau chùi chỗ mình cư ngụ rất sạch sẽ, nhặt từng hạt bụi, lau đến bóng loáng, sạch như không thể sạch hơn được nữa, tỉ mẫn theo dõi những con kiến, đếm đi đếm lại, ...khiến cho người bình thường khi nhìn thấy thế, cũng tưởng là họ điên. Có người thì đánh cờ trong tưởng tượng, có người thì làm thơ – cho dù là thơ con cóc, ... đó chính là những liệu pháp hóa giải xung đột tâm lý của họ. Chúng ta có thể nghiệm chứng qua những thực tế mà chúng ta đã thấy. Như tôi thì đã thực chứng, chẳng hạn qua trường hợp GS Đoàn Viết Hoạt hát lên trong những ngày bị biệt giam. Nữ anh hùng Võ thị Sáu, hát lên khi ra pháp trường, ... Nhiều lắm, đếm không hết. 

Quay trở lại hình thái của hai loại tư duy này. Cần nhớ rằng, chúng song song tồn tại trong mỗi con người. Chỉ là ít hay nhiều, lệch hay cân bằng. Khi tư duy logic chiếm ưu thế, chúng ta có những con người bảo thủ. Họ có thể rất giỏi, uy tín cao. Song sự nghiệp của họ ở đỉnh cao thì không thể sáng chói. Hay nói cách khác, họ không bao giờ đạt đến tầm vóc đỉnh cao trí tuệ của nhân loại được. Họ chỉ có thể là những con Gà to, đẹp mã trong một đàn gà, chứ không thể trở thành những con Công, con Phượng được. 

Khi tư duy sáng tạo chiếm ưu thế. Họ cũng có thể rất giỏi, nhưng là giỏi ở một lĩnh vực hẹp nào đó, nhiều sáng kiến, tư duy độc đáo. Song sự phát triển thường thái quá mà dẫn đến phóng túng, thiểu kiểm soát, thành ra thường có những ý tưởng điên rồ, không tưởng, thiếu thực tế, và trên hết, khả năng hiện thực hóa rất khó khăn. 

Một sự cân bằng giữa hai loại tư duy này là một trạng thái cân bằng, nhưng thể hiện bởi sự khác thường trong tâm sinh lý. Với những người làm công tác nghiên cứu khoa học. Cả ba trạng thái đều khả di, đó là loại tư duy logic chiếm ưu thê, tư duy sáng tạo chiếm tỷ lượng cao hơn, và loại cân bằng được hai loại tư duy trên. Chỉ những người cân bằng được hai loại tư duy trên mới cho ra được những nhà khoa học xuất sắc, phi thường. Ở chủ đề này, chúng ta xem xét những nhà nckh loại đó. 

Tư duy logic đòi hỏi sự chặt chẽ, có tính tổ chức, quy trình thực hiện và hành động đều được sắp đặt có thứ tự, theo những quy tắc, thể chế. Tư duy có điều khiển, có lớp lang, ... 

Tư duy sáng tạo đòi hỏi sự nhạy bén, mẫn cảm, tính tự do, thoáng đạt. Không bị rằng buộc, hay trói buộc bởi những định kiến, không bảo thủ, mà luôn hướng tới sự sáng tạo, tìm ra cái mới. Vì thế, với họ, những người này khi tư duy, họ như chìm vào miên man, như nhập vào, hóa thân vào đối tượng mà họ đang quán xét. Có thể nói khi đó, họ như "nhập đồng" vậy. Ở họ, ta nói họ là những người có Ngộ tính cao. Sự hiểu biết của họ, đó là sự Giác Ngộ. 

Người nckh, khi có cả hai, họ là những người có dấu hiệu phi thường nhân. 

Trong tử vi, rất may là có tất cả những hệ sao này. 

Hệ sao Giác Ngộ. 

-Trước hết phải kể đó là các sao Không – Vong. Tử vi có Lục kông – vong, đó là những sao: Địa không, Địa kiếp. Tuần, Triệt. Thiên không, Kiếp sát. Tuy nhiên, mức độ, hay tầm vóc có sự phân loại, và sự khác biet rất rõ ràng. Như sao Không thì ngộ tính chiếm ưu thế so với sao Vong. Có thể nói, khi nói đến ngộ tính, người ta nghĩ đến các sao không là chính. Sao vong, có chăng chỉ có sao Triệt là còn có ý nghĩa. Còn địa kiếp và kiếp sát, ngộ tính của nó tập trung vào sự thăng hoa vô hạn của cá tính, như kiếp sát thì nóng nảy vô hạn, địa kiếp thì hung hãn vô độ. Khi đạt tới sự thăng hoa, ngộ tính xuất hiện. Song đáng tiếc, dù cho ngộ tính xuất hiện, thì hậu quả đã xảy ra, nên người đời chẳng có mấy khi còn có thể chứng kiến sự kiện giác ngộ của những sao này. Chỉ khi những sao này có sao kiềm chế, thì ngộ tính của chúng mới thể hiện. Đó là những điểm chói sáng, như ánh chớp trong bầu trời đêm vậy. 

Xem xét trên thang bậc của sự giác ngộ, thì bậc nhất phải là hai sao Địa không và Địa kiếp. Thứ mới đến Tuần và Triệt, sau cùng là Thiên không, Kiếp sát. Nếu như sự phân loại này được phân theo chủ nghĩa kinh nghiệm, thì có thể nhiều người sẽ phản đối, bởi vì họ có thể cho rằng, thiên không mới là sao giác ngộ bậc nhất, kế đến thì thường thấy là tuần không, sau chót là địa không. Nhưng thực thì không phải như vậy. Đó chỉ là do bởi ở họ, chưa thấy rõ bản chất và nguồn gốc của các sao Không này. Đồng thời, trong khi xem xét các trường hợp cụ thể, phương pháp luận giải cũng không hẳn đã chuẩn xác, theo đó mà có những minh chứng chuẩn xác về từng sao !. 

Tôi tuy không trình bày cụ thể bản chất và nguồn gốc của các sao không này ra đây. Nhưng có một lối có thể chỉ rõ và dễ dàng hiểu được hơn. Đó là, như chúng ta đều biết thiên không – câm đèn chạy trước ô tô. Địa không – đại nghịch bất đạo. Tuần không – trung dung. Cứ như thứ bậc hay cấp độ đó mà xét, địa không là mạnh nhất, tuân không trung dung mạnh nhì, và thiên không đứng cuối bảng, chỉ xem như là sự giác ngộ. Khi đó, chúng ta hiểu rằng, cấp độ của địa không là sáng tạo, nên người có địa không mà hỏng, là khùng khùng, điên điên, hành vi chả giống ai. Nên mới nói, phi thường là ở chỗ này, bất phi thường nhân thì thành khùng nhân. Với tuần không, chỉ có thể đưa người ta tới những bậc chân nhân, thấu hiểu lẽ biến hóa của trời đất. Với thiên không con người có thể giác ngộ. 

Sự phân loại này chỉ là tương đối trên một bình diện về thang bậc mạnh yếu, chứ không thể nói người tuần không, hay địa không thì không giác ngộ, cũng như người thiên không thì khó có sáng tạo. Bởi vậy, 6 sao này, quan trọng nhất là ba sao Không, đối với tư duy, chủ về sự sáng tạo, giác ngộ. 

-Hai sao Nhật Nguyệt. 

Cũng là hai sao sáng tạo, nhưng ở hai sao này, sự sáng tạo không cực đoan như các sao Không Vong. Ở chúng có sự hài hòa, nên mang tính triết lý rất cao, đồng thời có tính mẫn cảm, sự nhạy bén mà ta thường gọi đó là những thông minh đĩnh ngộ, học một biết 10. 

-Các sao mẫn cảm: Đó là các sao như: Đào, Hồng, Thai, Thiên riêu, Hóa khoa, Hóa kỵ, Khúc, Xương, Đà la, Phục binh, Thiên cơ, thiên mã, Thât sát. ... 

Tuy nhiên, các sao này có khác nhau, đối với giơi nckh thì các sao có trọng lượng là: Thiên riêu, Đà la, Khoa, Kỵ, Phục. Xếp theo thứ tự thì Riêu, Phục, Khoa, Kỵ, Đà. 

Nghệ thuật thì có Hồng, Đào, Xương, Khúc đứng đầu bảng Có thể có nhiều người sẽ bảo rằng tôi phân loại theo cảm tính. Nhưng như đã trình bày với các sao không, thì sự phân loại ở đây cũng theo tiêu chuẩn xuất phát từ nguồn gốc các sao vậy. 

Hệ sao Logic. 

Điển hình là các Sao: 
Thiên hình, Thái tuế, Liêm trinh, Cự môn, Thái dương, Thiên lương, Khốc, Hư, ... 

Riêng với những người làm Toán, không thể không có những sao: Thiên hình, Thái tuế, Cự, Liêm trong kết cấu mệnh. 

Thái dương khi làm chủ đối với người làm nckh thì sẽ có thiên hướng, triết học, Vật lý, kỹ thuật, hoặc nếu làm trong ngành Hóa thì đó phải là Hóa Lý. Hoặc văn chương, nghệ thuật tùy theo sự gia hội thêm các sao. 

Sơ lược là như vậy. 

Khi xét một con người cụ thể, ta phải có sự phối hợp, giao hội các sao, các thế đứng cũng như nhiều sự phối chế khác nữa. Trên cơ sở lý mệnh chủ thì sự phối hợp mới rõ ràng được.