Hiển thị các bài đăng có nhãn alexphong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn alexphong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Chế hóa trong tử vi (Alexphong)

Lục sát tinh gồm có 3 cặp sao: Không Kiếp, Hỏa Linh, và Kình Đà. 

Không Kiếp chuyên khắc phá Tử Phủ. Trong khi Tử Phủ không hề ngại Hỏa Linh. Không Kiếp hại Tử Phủ đại diện thế lực chính quy, nhưng rất hợp Phá Quân âm thủy về tính chất cũng như ngũ hành. Thứ nhì, là hợp Thiên Tướng dương thủy về tính lý nhưng ngũ hành kém hợp hơn Phá Quân vì âm dương sai khác nên khắc chế không hiệu quả. Hơn nữa, dù sao Thiên Tướng cũng là chính quy, khó có thể hợp sự vô nguyên tắc của Không Kiếp như Phá Quân được. 

Muốn chế Không Kiếp, phải dùng Quang Quý. Chế được rồi muốn hóa được ra thành công thành quả thì phải có Khôi Việt. Cho nên chế hóa Không Kiếp cần Quang Quý Khôi Việt. Nói chế hóa cũng không hẳn đúng, mà thực ra đó là cách cục mà sát tinh thành công, tính sát đắc dụng mà quý hiển.

Hỏa Linh thì có khác một chút, có thể nói cùng Không Kiếp tạo thành cặp phản đề. Hỏa Linh là hỏa nhưng có tượng là ngọn lửa, tức ít ra còn có lúc là lửa thật, chứ không phải hỏa khí hỏa tính như Không Kiếp. Cho nên gán Hỏa Linh cho dương, Không Kiếp cho âm không phải không có lý. Hỏa Linh là khắc tinh của Cơ Nguyệt Đồng Lương, bộ sao thủy mộc có tính chất ôn hòa lương thiện. Gặp Hỏa Linh như đồng khô cỏ cháy, như người lương thiện nhưng suốt ngày cáu bẳn thành ra khó nói là lương thiện. Nhưng Hỏa Linh hợp với Tham Lang. Hỏa Linh là ngọn lửa cho tham vọng của Tham Lang bùng cháy. Với phụ tinh, Hỏa Tinh là khắc tinh của Bạch Hổ, nhưng khắc tinh ở đây không phải chế hóa con hổ này mà làm con hổ này phát điên cắn phá lung tung. Cho nên nếu thấy Hổ lại thấy Hỏa Tinh là coi chừng tác họa của Hổ. Khi đó, cần có Thiên Phúc thì có thể hóa giải được họa Hỏa Tinh+Bạch Hổ.  Muốn chế hóa Hỏa Linh, cần dùng Thai Tọa Quan Phúc. Ở đây Quan Phúc để chế, có thể chế bớt hỏa tính của Hỏa Tinh. Thai Tọa để hóa, có thể đưa tổ hợp Quan Phúc Hỏa Linh đến thành công.

Đến đây, ta nắm vững được cách chế hóa tứ sát thuộc hành hỏa là Hỏa Linh Không Kiếp. Nhưng đừng nhầm thuốc nọ cho bệnh kia. Dùng Khôi Việt cho Hỏa Linh, và dùng Quan Phúc cho Không Kiếp là đại họa râu ông nọ cắm cằm bà kia. Sự đời nhiều thứ hao hao, sai một li là đi một dặm. Khôi Việt Hỏa Linh là cách cục sét đánh đỉnh đầu, trời đã phải đánh thì biết nó trái lý âm dương tới mức nào. Còn Quan Phúc Không Kiếp là những Quan Phúc phải chịu thử thách ghê gớm (theo lý của tác giả VDTT) đạo đức làm người, chứ không phải những thầy tu đạo mạo như Quan Phúc Hỏa Linh. Tu là phải có đèn nến hương khói. 

Cuối cùng là bộ Kình Đà. Bản chất sát tinh của Kình Đà có khác so với tứ sát còn lại. Với chính tinh, Kình Đà là khắc tinh của Nhật Nguyệt, nhưng rất hợp với Thất Sát. Vì Kình Đà chủ sự sai lệch, đứng hai bên Lộc Tồn chủ sự chuẩn mực. Đà là muộn quá, còn Kình là sớm quá. Đà là tự kỷ còn Kình là tăng động. Đều không hợp với Nhật Nguyệt. Nhật Nguyệt định thời gian thì phải chuẩn mực cần đi với Lộc Tồn, đi với Kình Đà thì đồng hồ sai, lịch xé nhầm. Xét về ngũ hành thì tính hợp và khắc của tinh đẩu rất phong phú đa dạng. 

Mỗi chính tinh quản một cặp sao. Phá thì quản Không Kiếp, Tham thì quản Hỏa Linh, Sát thì quản Kình Đà. Nhưng Hỏa Linh Không Kiếp đều có các bộ sao đi kèm để đưa đến thành công là Thai Tọa Quan Phúc và Quang Quý Khôi Việt, còn với Kình Đà là gì.

Với Kình Đà, là bộ Long Phượng. Trong đó, Kình Dương hợp với Các, vì Kình là bay lên, Phượng là đôi cánh, bay lên mà không có cánh thì lượn làm sao. Đà La hợp với Bạch Hổ vì Đà La là chìm xuống nằm xuống, mãnh hổ nằm phục xuống rình con mồi và trốn thợ săn. 

Thất Sát hợp Kình Đà cho thấy bộ Sát Phá Tham rất hợp Long Phượng Hổ Cái. Ta biết Sát Phá Tham có thể coi là điểm trũng của lá số tử vi, nơi hàm chứa những gì xấu xa tội lỗi nhất, nếu Tử Phủ là đỉnh núi cao thì Sát Phá Tham là vũng lầy, cho nên Sát Phá Tham rất cần thành công (Phượng Các) để khẳng định mình hữu dụng, rất cần chính danh (Long Trì Bạch Hổ) để được thừa nhận mình là quân chính quy chứ không phải bọn trộm cướp võ biền. Sát Phá Tham khát khao Long Phượng Hổ Cái hơn bất cứ nhóm sao nào khác. Điều đó ẩn chứa sau sự chế hóa của Kình Đà.

Tử Phủ Vũ Tướng cần Tuế Hổ Phù, sự chính danh, sự chính thống của vương triều hơn bao giờ hết. Tử Phủ Vũ Tướng không cần tiền, không cần quyền, chỉ cần chính danh. Chính danh sẽ có quyền tiền. 

Sát Phá Tham cần Phượng Các, sự thành công từ gian khó, sự thành công từ đối nghịch. Đối nghịch Tang Tuế Điếu mà không có thành công thì nói không ai nghe. Phản truyền thống, phản trào lưu mà không có thành công thì không ai ủng hộ. Nên với Sát Phá Tham thì Phượng Các mới là ưa thích nhất, thứ nhì mới là Tuế Hổ Phù. Cho thấy bộ Tang Phượng hành động rất mạnh mẽ, mạnh mẽ nhất trong vòng thái tuế.

Thái Dương, Cự Môn cần Thiên Không, thích tam minh Đào Hồng Hỷ. Lại như Nhật Nguyệt, ta hỏi Nhật Nguyệt có hợp với Long Phượng Hổ Cái. Câu trả lời là không. Vì Nhật Nguyệt không hợp Kình Đà, càng ghét Diêu Đà Kỵ tam ám làm lu mờ ánh sáng của Nhật Nguyệt. 

Thái Dương cần tam minh Đào Hồng Hỷ, bên đó lấp ló ẩn hiện Thiên Không. Thái Dương cần Thiên Không, cần khoảng trống, cần khoảng trời để tỏa sáng hơn là Long Phượng Hổ Cái. Người xưa ẩn ý để Thiếu Dương cùng Thiên Không để phò trợ cho Thái Dương, lại nói xa gần cả Đào Hồng Hỷ là tam minh.

Thái Âm, cùng bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, thích Âm Long Trực, thích tứ Đức. Tục ngữ hay gọi là âm đức là vì thế. Cự Nhật cần sáng, sáng mới là cốt yếu của Nhật, sau đó mới cần đức. Thái Âm cần tứ đức, đức mới là nền tảng của Nguyệt, sau đó mới cần sáng. Cho nên, nếu Thái Dương đi cùng tứ đức, Thái Âm đi cùng tam minh thì cũng tốt nhưng xếp sau trường hợp Dương Minh và Nguyệt Đức.

Thái Dương cần tam minh, thiên không.
Thái Âm cần tứ đức, thiếu âm.

Chỉ có một thứ duy nhất hạn chế được cả lục sát tinh và tam ám. Đó là Không Vong.

-----------------------------------

Linh Tinh đi cùng Đà La hai sao âm, tượng là sét giáng xuống hoặc anh linh sa xuống. Còn Hỏa Tinh dương phải đi với Kình Dương dương ngọn lửa bốc lên cao. Chứ không thể Linh Tinh Kình Dương một âm một dương trái khoáy, tia sét phóng ngược lên trời, Hỏa Tinh Đà La một âm một dương trái khoáy ngọn lửa bốc chui xuống thấp được. Cho nên trong cách cục kinh điển có cách cục Xương Linh Đà Vũ chứ không có Xương Linh Kình Vũ hay Xương Hỏa Đà Vũ. Người am hiểu sẽ tự hỏi vì sao trong cách cục Xương Linh Đà Vũ chỉ có sao Văn Xương là sao dương, còn lại toàn sao âm ?

Cơ bản độc giả cần phân biệt: đồng bọn và người yêu. Đồng bọn phải cùng tính âm dương cùng sở thích như bóng đá, lý số, ăn nhậu thì chơi với nhau mới thú, chứ đồng bọn mà người thích bóng đá kẻ thích bóng chày thì không nói chuyện với nhau được. Còn người yêu và người phối ngẫu phải trái tính âm dương, bổ khuyết cho nhau, người thâm trầm thì hay yêu người hoạt ngôn, người phóng khoáng thì hay yêu người ngăn nắp, đó là phối. Trong tử vi tam hợp là đồng bọn, nhị hợp là phối ngẫu.

Phải nắm thật vững tính âm dương của đồng bọn và người yêu mới hiểu được cách phối sao.

Quang Quý không hề là đạo đức, chỉ là sự may mắn, sự giác ngộ. Đạo đức do các sao tứ đức thủ diễn.

-------------------------------------

các sao thổ như tử vi, thiên lương ít sợ hóa kỵ vì lẽ thổ khắc thủy và cũng không bao giờ hóa kỵ cả.

Tử Phủ thích Tả Hữu hơn Xương Khúc.
Nhật Nguyệt thích Xương Khúc

TPVT SP không ngại Hóa Kỵ bằng Cự Nhật Nguyệt Tham nhưng Cự Nhật Nguyệt Tham lại không sợ Tuần Triệt như Tử Phủ. Rồi mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương không hợp Sát Phá Tham

Tuế Phù Hổ (Tứ Linh chính vị)
Tang Tuế Điếu (Đặc sản Lộc Mã giao trì).

Nói chung, âm dương nghịch lý chỉ hợp cho mệnh Cự Nhật Cơ Nguyệt Đồng Lương. Khi đó có Tam Minh Tứ Đức thủ diễn. Còn âm dương thuận lý hợp cho Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Tham.

Phủ ngại Tuần, Tướng ngại Triệt. Tất nhiên, cả hai chẳng ưa gì Tuần Triệt, ở đây chỉ cân phân cụ thể hơn.
Địa Không ngại Tuần, Địa Kiếp ngại Triệt.

Tử Phủ Vũ Tướng Sát Phá Tham không sợ Kỵ mà chỉ sợ Tuần Triệt, còn Cơ Nguyệt Đồng Lương ngược lại chỉ sợ Kỵ mà chẳng ngại Tuần Triệt

Vô Chính Diệu thích Triệt hơn Tuần ? Mệnh Không thân Kiếp không hợp Đồng Lương. Mệnh Triệt thân Tuần cũng không hợp Cơ Nguyệt Đồng Lương mà hợp VCD. Điều này càng khẳng định sự tương ứng giữa Mệnh Không thân Kiếp và mệnh Triệt thân Tuần. Phải chăng Triệt hợp với Không còn Tuần hợp với Kiếp ?

VCD hợp Triệt hơn Tuần, đến giờ bạn hiểu thêm Triệt là đóng, vì đóng nên ngôi nhà trống vô chính diệu đã có cửa không còn trống nữa. Qua đó, bạn hiểu thêm Tuần là mở. Nghe sao giống Triệt là tách ra, Tuần là gom vào, mà lại rất hợp lý

Với chính tinh hãm địa, hoặc cung VCD, nhận định ban đầu là xấu. Nhưng khi có Tuần Triệt án ngữ, cung đó được coi là tốt, nhưng bạn chú ý, người xưa mô tả cái tốt này rất hay. Cái tốt này không thô lỗ chóng vánh ngay tắp lự, mà sách viết "trước khó sau dễ" tức tốt lên từ từ. Tuần Triệt cải hóa cung nó tác dụng một cách từ từ. Qua đó cũng hiểu cho hoàn cảnh của chính tinh miếu địa gặp Tuần Triệt, bạn có thể luận trước tốt sau xấu, xấu đi từ từ. Nhưng luôn luôn có hạn chế cho cung có Tuần Triệt như "trước khó kiếm tiền sau dễ, nhưng không thể giàu có lớn được". Khi Tuần Triệt đóng cung phụ mẫu. Thì nhận định tốt xấu của cung để đoán định sự giàu nghèo sang hèn của cha mẹ của cha mẹ nhưng dù tốt hay xấu thì cũng khắc và xa song thân. Đó cũng là mẫu số chung khi Tuần Triệt đóng cung lục thân.
Ngoại trừ một trường hợp, đó là cung VCD. Cung VCD có ba mức tốt xấu. Tệ nhất là VCD, tốt hơn là VCD có Tuần Triệt án ngữ, đẹp nhất là VCD vừa có Tuần Triệt án ngữ vừa có Nhật Nguyệt sáng sủa xung chiếu hoặc hợp chiếu. Tuần Triệt lúc đó được hiểu như lực lượng câu hút ánh sáng đồng thời giữ ánh sáng lại cho ngôi nhà trống.


Tính chất thời gian của Tuần Triệt giống tính chất thời gian của sát tinh. Bạn có chú ý, sát tinh miếu địa chỉ tốt ban đầu, càng về sau càng xấu. Không những sát tinh, kể cả bại tinh đắc địa cũng có cùng tính chất. Tại sao tử vi lại áp đặt tính chất này lên sát bại tinh mà không phải ngược lại là trước xấu sau tốt. Có lẽ phương Đông trọng hậu hơn. Cái gì tốt nhưng phải bền mới cho là tốt, cái gì xấu nhưng thoáng qua thì họ cho là thử thách. Cả đời khổ thế nào cũng được, nhưng cuối đời tốt đẹp coi như cuộc đời có hậu, hơn nhiều cuộc đời sướng trước khổ sau. Hoặc có thể đó là quy luật của vũ trụ này mà người phương Đông khám phá ra, cái gì thuộc về bản chất sẽ bộc lộ sau cùng. Cho nên bản chất của sát tinh vẫn là xấu, không thể thay đổi. Ngược lại, với Thái Dương hãm địa, sách cho rằng càng về già càng tốt hơn.
Phải chăng, người xưa coi miếu hãm là cái vỏ ngoài, còn bản chất tinh đẩu là bên trong. Đây là điểm khá thú vị của tử vi nhưng người mới học thường bỏ qua.

-----------------------------------
Đào Hồng chỉ chủ tình dục khi và chỉ khi gặp Thai. Đào Hồng chỉ chủ ngoại tình khi gặp Phục Binh. Còn nếu không gặp hai sao trên Đào Hồng chỉ mang ý nghĩa đẹp sặc sỡ, duyên nói chung. Đừng mới thấy Đào Hồng đã phán bừa. Đào Hồng Không Kiếp không có tình dục mà là đại họa vì khi đó Đào là Kiếp Sát còn Hồng Loan là máu. Đào Diêu chủ dâm hơn chủ dục. Thai Phục Vượng Tướng là cách cục quan hệ tình dục lén lút, không có Đào Hồng đi kèm thì có khả năng không có tình yêu hoặc có yêu nhưng không bền. Còn Đào Hồng đi cùng tam ám Diêu Đà Kỵ mới có sự dối lừa, vì tam ám chủ dối lừa, nếu không có Đà Kỵ thì không có sự dối lừa nhau.


Trong tử vi có một tuyệt kĩ liên quan tới tình ái đó chính là Tam minh.
Tam minh gồm có: Đào Hồng Hỉ.

Đào Hoa mang theo sự quyến rũ về mặt giới tính. Thứ thuộc về bản năng gốc của con người.
Hồng Loan chính là sự thăng hoa về tinh thần trong tình ái. Yêu chứ, nhưng không phải là chiếm hữu bằng bản năng gốc. Đôi khi chỉ đơn giản là sự đồng điệu về mặt tâm hồn.
Thiên hỉ thì sao? Thiên hỉ quan trọng lắm. Tôi cho rằng Thiên hỉ quan trọng nhất trong tam minh. Là bởi vì Thiên Hỉ ẩn tàng trong nó sự kết tinh/ kết quả của tình yêu.

Đã từng viết một bài về Đào Hoa Địa Kiếp - Nửa hồn thương đau
Lại từng viết bài về Hồng Không Cô Quả - Em Khoảng Trống và Tôi.


Hình Riêu Không Kiếp thì tối kị rơi vào mệnh số đàn bà, chủ bị bạc tình, chồng phụ tình đi theo gái (Riêu nằm bên cánh trái chiếu về), nếu gặp thêm Kị, Phục thì chồng sẽ đi mà không bao giờ trở lại (Kị Phục = cấm kị trở lại, không quay về)

---------------------------------------
Nếu khí dương Bắc Đẩu đại diện cho Lửa (Thái Dương) - Chinh phục - Danh Tiếng - Quan Lộc. Thì khí âm Nam Đẩu đại diện cho Nước (Thái Âm). Thái Âm là tinh túy của nước - Bao Dung - Của Cải - Điền Trạch. 

Ngoài ra, Dương chủ quản ngày Âm chủ quản đêm. Âm Dương còn là hai con mắt.

Dương chủ Nam, Âm chủ Nữ. Dương chủ Tuấn Tú, Âm chủ Tuấn Nhã. Dương chủ Cha, Âm chủ mẹ. Dương chủ chồng, Âm chủ vợ. Dương chủ con trai (Thiếu dương), Âm chủ con gái (Thiếu Âm). Âm Dương tối kỵ lục sát tinh phá. Âm bị lục sát phá, cơ cấu gia đình bất ổn. Người mẹ dễ còn vấn đề, người vợ dễ có vấn đề. Kình Đà dễ chia ly, Linh Hỏa lao tâm khổ tứ, Không Kiếp thì trầm luân đa đoan.

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

Xem vận bằng tứ hóa, và quan điểm về lưu cung đại vận - Alexphong

Tứ hóa như công cụ hữu ích tuy nhiên, sách vở hệ thống hiện nay quá rắc rối rườm rà. Người xem tứ hóa cần hiểu rằng tứ hóa là công cụ xem vận, chứ không thể vượt qua hoàn toàn kết cấu của lá số tĩnh. 

Xem vận bằng tứ hóa có ưu điểm là rõ ràng không mập mờ. Hóa là hóa mà không hóa là không hóa. Kị là Kị mà Lộc là Lộc. Hội tụ là hội tụ mà phân tán là phân tán. Nhưng cần có những yếu lĩnh để phân tách rạch ròi có và không. Những kiến thức mang tính gây rối nhập nhèm cần phải loại trừ. Ngoài bốn yếu lĩnh dưới đây còn vô khối các kĩ pháp thiện xảo khi vận dụng, ví dụ như Hóa Quyền là rất ham muốn, đóng điền trạch là muốn xây nhà mua đất. Nhưng những kí xảo đó chỉ có ích khi người học nắm được cơ bản. 

1. Mệnh là mệnh, vận là vận:
Có nghĩa là loại bỏ tất cả những cung quan đại vận, cung quan lưu niên, hay 12 cung lưu theo vận. Chỉ có 12 cung nguyên thủy, duy nhất và vĩnh hằng. 12 cung này là 12 hay yếu tố tĩnh tại của lá số chờ đón cơn mưa tứ hóa rơi xuống. Vì trên thực tế xem số, nhận thấy lưu 12 cung không mang lại hiệu quả rõ nét, trái lại chỉ gây rối thêm cho người xem. Và tứ hóa của lưu niên tương tác mạnh mẽ tới cung vị nguyên thủy. Ví dụ cung quan nguyên thủy có Tham Lang, năm Quý Tham Lang hóa Kị nhập cung quan nguyên thủy tương tác xảy ra rõ rệt chứ chẳng hề phải theo tầng theo bậc như sách vở ghi lại. Cho nên cân nhắc, ngẫm nghĩ mãi thấy rằng chân lý ở sự tối giản. Tất cả lưu cung đều là man thư rác rưởi của bọn hàn lâm suông để lại. Cần phải loại bỏ như vén mây cho người học thấy mặt trời để nhìn đường mà đi.


2. Xung là xung, thủ là thủ:
Tứ hóa khi xung và khi thủ có tác dụng đặc biệt khác nhau. Hóa Kị xung vận là đại họa nhưng Hóa Kị thủ vận thì êm đềm. Đây là điều nghìn năm Nam phái chưa bao giờ biết.

3. Tam Kị hội đại hung, lưỡng Kị hội thất nghiệp:
Kì thực, phép xem tứ hóa phong phú biến hóa. Ở đây chỉ đưa ra cách cục của tam Kị nhằm mục đích giúp người nghiên cứu đang bị hôn mê vì sao bay đầy trời thấy được lối ra. Sau này, tam Lộc hay tam Quyền đều có thể tự suy diễn, nhưng trước hết cứ nắm vững cách cục tam Kị. Nắm vững để mường tượng ra cách tứ hóa tương tác như thế nào. Nắm vững, để biết được trọng tâm mà phát lực thì đòn thế mới có hiệu quả.

Cách thứ nhất của tam Kị hội là cả ba Kị đồng cung. Cách thứ hai của tam Kị hội là 3 Hóa Kị (nguyên thủy, đại vận, lưu niên) xếp thành 3 cung liên châu, ví dụ thân dậu tuất thì năng lượng Hóa Kị dồn vào cung dậu. Cách thứ ba của tam Kị hội là hai Kị tam hợp, một Kị chính xung.

Cách lưỡng Kị là khi Hóa Kị tiểu vận tới xung Hóa Kị đại vận.
Xem tứ hóa tương tác cần chú ý trường hợp cung VCD và không có sao có khả năng hóa khí, khi đó nó lấy toàn bộ tứ hóa cung đối diện làm của mình. Ví dụ cung hợi VCD và không có sao có khả năng hóa khí như 14 chính tinh và Tả Hữu Xương Khúc, đối cung là Liêm Tham ở tị, thì khi Liêm Tham hóa Kị sẽ được cung hợi mượn về. Trường hợp này xung cũng như thủ.

Đó là các cách tập trung năng lượng của các Hóa Kị. Chung quy thì tử vi cũng là bài toán năng lượng. Năng lượng thì có hội tụ và phân tán. Khi năng lượng xấu hội tụ thì sự xấu phải xảy ra. Sự hội tụ tinh giản nhất là sự hội tụ từ ba con số, đó là tam tài thiên địa nhân. Tứ hóa nguyên thủy là thiên, tứ hóa đại vận là địa, tứ hóa lưu niên là nhân. Vấn đề còn lại là sự hội tụ đó nhắm vào đâu.

Tam Kị hội, nếu đả nhập những cung cốt lõi của lá số như mệnh tài quan tật thì sinh mệnh bị đe dọa ngàn cân treo sợi tóc. Ba cung mệnh tài quan như xương sống nối liền hộp sọ của cơ thể con người. Phân ra thì là quan lộc chủ danh chức, tài bạch chủ tiền tài, nhưng người xem cần có con mắt tổng quát hiểu rằng mệnh tài quan đều là đương số cả. Tam Kị đánh vào đó cũng như thiên địa nhân cùng đánh vào xương sống thì không chết mới là lạ.

Lưỡng Kị hội, nếu Hóa Kị đại vận nhập mệnh, Hóa Kị lưu niên đến xung thì năm đó tan nát sự nghiệp. Vì lưỡng Kị khi đó đánh vào trục mệnh di.

4. Cha xung con bình thường, con xung cha đại nghịch:
Câu này ví von để độc giả nắm được cách tương tác của hóa khi ba tầng: nguyên thủy, đại vận, lưu niên. Khi ta xét hội tụ như yếu lĩnh thứ ba nói trên, thì cứ gom vào ào ào cho dễ hiểu dễ học. Nếu mới học mà cân phân quá kĩ thì không nắm được tổng quát mà lại rơi rụng cơ bản. Kì thực, vũ trụ này có trật tự trên dưới to nhỏ. 

Tứ hóa nguyên thủy xung đại vận hay nói cách khác đại vận đi đến nơi có tứ hóa nguyên thủy xung thì xấu. Xấu vì bị Hóa Kị xung nhưng sự xấu này trung bình, không phải là khủng khiếp. Điều này giống như Hóa Kị nguyên thủy nhập mệnh thì cũng xấu nhưng cái xấu đó như cái tật trên người mang theo cả cuộc đời. Giống như người mù bẩm sinh, xót xa thật nhưng đỡ xót xa hơn khi trưởng thành bị chọc mù mắt. Cái thằng chọc mù mắt đó chính là đại vận mang Hóa Kị đến xung, thằng đó phải chịu kết án hình sự.

Cho nên Hóa Kị đại vận đến nhập mệnh, rồi Hóa Kị lưu niên đến xung mệnh là đại kị. Tương tự như vậy, Hóa Kị lưu niên tới xung đại vận cũng là đại kị. Có thể nói đó là những sự kiện bề tôi chống vua, con bất hiếu với cha, đại nghịch vô đạo.

Yếu lĩnh dòng chảy trên dưới trước sau này đúng với tất cả các môn mệnh lý, chứ không chỉ tử vi. Ở đây, bút giả cũng chỉ vịn vào để nói rằng cái gì đúng thì phải đúng với mọi nguyên lý chung. 

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

Các phần ghi chép tử vi - Alexphong

- Hóa Quyền bị cảnh báo là "nếu gặp Tuần Triệt án ngữ" thì công danh trắc trở thành ít bại nhiều
Các sao chủ quyền lực rất kỵ Tuần Triệt.
Phần xem vận TTL có nói khi các sao lưu gặp các sao cố định thì mới tác dụng. Quan điểm này trùng với cách xem của Vương Đình Chi. Như vậy không phải lúc nào cách cục cũng được kích hoạt.
Ta biết cách cục VCD Nhật Nguyệt thích Không Vong và ưa Mộc Suy Tuyệt. 
Có những điều các tiền bối nói trước đây tôi rất coi thường, ví dụ như Nhật/Nguyệt thủ mệnh thì khắc đoạt phụ tinh/mẫu tinh nên cha mẹ mất sớm.
Sau này thực tế thấy nhiều lá số có Thái Dương hoặc Thái Âm thủ mệnh đều: hoặc sau khi cha/mẹ mất thì phát tài phát quyền, hoặc phát tài phát quyền xong trong thời gian ngắn cỡ vài tháng thì cha/mẹ mất. Đó mới chính là phần tâm linh thú vị khó lý giải của tử vi.
Vòng Thái Tuế không chịu tương tác với Không Vong nhưng vòng Trường Sinh thì đặc biệt chịu sự tác động mạnh mẽ của Không Vong. Vị trí Tuyệt rất hợp với Triệt, thậm chí có người coi nó là Triệt thứ hai. Vị trí Mộ rất hợp với Tuần, cả hai cùng chủ tích lũy thu hút gom góp. Cho nên bạn biết Trường Sinh không ưa Triệt Tuần chút nào.
- Mệnh thân đắc cách VCD Nhật Nguyệt rất kỵ hành vận Sát Phá Tham do tính âm dương đối chọi nhau điên đảo. Còn mệnh Sát Phá Tham gặp vận Nhật Nguyệt bạn có thể hỏi vua Quang Trung.
- Cách cục Nhật Nguyệt đại diện cho trí thông minh, uyên bác trên bất cứ lá số nào. Cách cục Sát Phá Tham cho biết khả năng hành động. Cách cục Tử Phủ Vũ Tướng cho biết khả năng tổ chức quản lý. Sát Phá Tham thì thiên dương, Nhật Nguyệt thiên âm, còn Tử Phủ Vũ Tướng dung hòa ở giữa.
Cho nên nghĩ tới Nhật Nguyệt là nghĩ tới thông minh và trường thọ.
--------------------------------------
Nhưng nghĩ cho kỹ Khôi Việt sinh ra để giải Kỵ phải chăng Khôi Việt hợp Kỵ. Nói thế tuy không đúng nhưng cũng không sai, vì nếu không gặp thì làm sao hóa giải. Như Quan Phúc sinh ra để hóa giải Hỏa Linh nếu không gặp Hỏa Linh thì ai trị Hỏa Linh,


Hóa Kỵ là cãi vã xích mích. Khôi Việt có tượng là trưởng là đầu. Có thể giải quyết cãi vã thì phải chăng Khôi Việt là tượng trưởng bối đứng ra dàn xếp lũ con nít tranh giành, hay Khôi Việt là công lý có thể giải nỗi oan Hóa Kỵ. Sau này khi bạn biết Quang Quý không ưa gì Hóa Kỵ bạn sẽ hiểu vì sao Khôi Việt phải đi cùng Quang Quý để giải Không Kiếp. Đơn giản vì Quang Quý có thể đặc trị Không Kiếp nhưng phòng ngừa Hóa Kỵ xâm nhập phá tan uy tín của Quang Quý, thì Khôi Việt phải chắp tay đứng đó sẵn sàng quét sạch bụi thị phi cho Quang Quý rảnh tay mà cải hóa Không Kiếp.
Quang Quý Hóa Kỵ là cảnh tai tiếng khi làm ơn. Ý nghĩa rất phong phú còn tùy các cách cục đi kèm. Như làm ơn mắc oán, hay lợi dụng tiền từ thiện để tiêu xài cho riêng mình đều là cảnh này. Ân Quang ban ân vì ân mà nên oán. Thiên Quý được người quý, quý quá mà lại thành thù.

Khôi Việt tượng là đầu. Là đầu nên làm chủ được cái lưỡi Hóa Kỵ mà giải Kỵ. Là đầu nên sợ sét Hỏa Linh đánh, vì sét đánh trúng đầu không ai nói sét đánh trúng cái mông Thai Tọa. Ông tăng Quan Phúc ngồi thiền Thai Tọa trong đèn nhang Hỏa Linh mà thành được việc. Nhưng để sét đánh thì Hỏa Linh Khôi Việt chưa đủ, khi đó bạn mới chỉ mắc bệnh nhức đầu nhức óc. Để thành cách sét đánh phải có Thiên Hình là hình phạt là hành hạ thì mới rõ nghĩa trời phạt. Cho nên sét đánh phải là "Hỏa Linh Hình Việt".
Sau này bạn sẽ biết vì sao phải có Hình mới gây thương tổn đánh đập trừng phạt trực tiếp, phải có Diêu mới mang ý nghĩa lừa đảo dụ dỗ trực tiếp. Không có Hình thì Hỏa Linh Khôi Việt mới là nhức đầu. Không có Diêu thì Kỵ Đà Khôi Việt là ẩn sĩ, thêm văn tinh thì kẻ ẩn sỹ có tài, có tài nhưng vô dụng nên ẩn sĩ. Nhưng họ không lừa ai vì không có Thiên Diêu.
Dù là một sao, nhưng xúc tác cho ý nghĩa quyết định. Đến đây bạn hiểu phép dụng tượng.

Quay lại tử vi cho bạn xem sự tầm thường được rèn luyện theo phương pháp đúng sẽ thành vĩ đại ở sao Khôi Việt. Thường thì xem số, nếu mệnh thân có Xương Khúc, ngoài trường hợp đặc biệt bị phá cách thì đa phần đó là người có tài học, là người học giỏi. Nhưng khi bạn xem số, có người không có Xương Khúc mà văn bằng cũng cao, bạn soát thật kỹ thì thấy Khôi Việt Quang Quý. Nếu bạn luận Khôi Việt là bằng sắc, đó là cách luận của phàm phu tục tử. Cao thủ họ sẽ hiểu rằng Khôi Việt là chính khí, Quang Quý là sự sáng suốt. Người có Khôi Việt Quang Quý thì bản thân người đó họ chăm chỉ thực hành đúng những gì thầy cô dạy, những gì trưởng bối dạy. Những người đó thành công của họ do thực hành và đi theo cái đúng, chứ về tài hoa tự thân thì không bao giờ bằng người Xương Khúc.


Thái Tuế chưa tuổi gì để so bảo thủ với Khôi Việt. Thái Tuế bảo thủ về quan điểm, nhưng Khôi Việt bảo thủ về cả con đường. Thái Tuế mới là cái mồm, thì Khôi Việt là cả cái đầu.

Nếu tóm tắt về Khôi Việt, tôi dùng một chữ Chính. Tóm tắt về Thái Tuế, tôi dùng một chữ Trung.

THÁI TUẾ VÀ LỘC TỒN-CHÍNH DANH VÀ CÔNG BẰNG

Chính danh là Thái Tuế. Công bằng là Lộc Tồn. Thái Tuế Hoá Kỵ, chính danh phê phán. Rất lẫm liệt, không hề nặc danh. Công kích một tác phẩm bằng một tác phẩm tốt hơn. Công kích một công trình bằng một công trình đúng hơn. Rất chính đại quang minh. Có Kỵ nhưng là chính Kỵ chứ không phải đố kỵ.
Nhưng Lộc Tồn Hoá Kỵ lại thành xấu, vì khi này là sự ăn miếng trả miếng. Lời qua thì tiếng lại, đao qua thì búa lại. Ông ăn chả, bà ăn nem. Ông chơi gái thì bà đánh bạc. Sự công bằng của Lộc Tồn thành cảnh ăn miếng trả miếng.
Lộc Tồn Hoá Lộc là trao nhau yêu thương. Ông có chân giò thì bà thò chai rượu. Anh trao kỷ niệm còn em đợi chờ. Nên song Lộc tốt cho mọi cách cục
-----------------------------------------

- Nhược điểm song Hao: có tiền là tiêu, có sức là chơi. Đặc điểm song Hao: tích độc nhanh, thải độc nhanh. Nên song Hao đi kèm sát tinh dễ trúng độc cấp tính mà đột quỵ. Song Hao kèm cát tinh phú quý không thể bền.
- Nhược điểm Lộc Tồn: tụ không thể tán. Nên Lộc Tồn khả giải sát tinh nhưng lại làm ngưng trệ tam hóa. Dẫn đến hóa khí khó phát tác. Dễ nhiễm độc mạn tính. Khi phát hiện không thể cứu.
- Hóa Kị phúc đức có xu hướng tự kỉ. Đi kèm Đà Riêu thì khó chữa. Hay nghĩ đến việc tự sát hoặc bi quan không lối thoát.
Quy luật tự nhiên có nhịp điệu có chu kỳ. Mặt trời mọc rồi lặn hàng ngày. Từ lâu loài người đã phát hiện ra chu kỳ 7. Tại vị trí số 7, năng lượng yếu nhất và cần phải tĩnh dưỡng. Trong tử vi đó là ngôi Thất Sát đứng thứ 7 kể từ vị trí sung mãn là Thiên Phủ. Phủ trù phú thì Sát rất nghèo. Phủ đầy năng lượng thì Sát ít năng lượng. Phủ vượng thì Sát diệt. Trong Tarot, con bài số 7 của cả bốn nguyên tố đều mang nghĩa xấu. Thất côn chủ tranh đoạt. Thất kiếm chủ trộm cắp. Thất cốc chủ mê muội. Thất tiền chủ sự nghỉ ngơi. Thất tiền mang ý nghĩa khá nhất tứ nguyên tố thì cũng không thể hoạt động được.
Tứ hóa là bốn loại tâm lý cảm xúc, nói gọn là tâm thế. Hóa Kỵ là tâm thế tiêu cực. Tứ hóa phái cho rằng lục sát tinh không đáng sợ, đáng sợ là khi Hóa Kỵ đến kích phát lục sát tinh tác họa. Lục sát tinh nó như tính xấu tiềm ẩn trong con người bạn do DNA quy định khi chúng ta sinh ra. Nhưng nếu không có tâm lý tiêu cực thì lục sát tinh đó cũng không tác họa. Con người sơ sinh mang hai tính thiện ác. Thiện như cát tinh, ác như lục sát. Nhưng nếu không vào hoàn cảnh nhất định của cả thân và tâm, thì những căn ác đó không có điều kiện nảy nở mọc thành quả, thậm chí còn lặn mất. Hóa Lộc bản chất là loại tâm lý tích cực, có tác dụng kích phát theo hướng lạc quan. Khi đi cùng lục sát, Hóa Lộc biến lục sát thành kỳ cách. Ví dụ như sự tinh xảo của các nghệ nhân hay các cầu thủ bóng đá. Họ dùng cái quái cái tinh xảo đó để phục vụ cái tốt. Hoa sen trong bùn là tượng tương ứng của Hóa Lộc trong lục sát. Diêu Đà Kỵ là một cách cục thể hiện sự kích phát của Hóa Kỵ. Bản chất là Kỵ kích phát Đà Diêu. Trong cách cục có thể chỉ có Đà Diêu, khi gặp vận có Kỵ kích phát sẽ xảy ra chuyện không hay.
Qua bài này, bạn hiểu thêm về tứ hóa, cảm thấy sờ được, nắm được tứ hóa chứ không mơ hồ như kinh điển từ ngàn xưa. Ngoài ra, chịu khó áp dụng bạn còn hiểu được ứng kỳ. Cứ khi nào Hóa Kỵ nhập hoặc xung cung lục sát thì xấu. Cứ khi nào Hóa Lộc nhập hoặc xung thì khả quan. Không có Lộc Kỵ kích phát thì không sợ sát tinh.
Thái Âm cặp với 3 người đàn ông: Cơ Nhật Đồng.
Thái Dương cặp với 3 người đàn bà: Cự Nguyệt Lương.
Tử Vi làm việc với 5 đồng đảng: Phủ Tướng Sát Phá Tham.
Nhóm sao âm chủ quan hệ con người hơn là nhóm sao dương. Nhóm sao dương chủ quan hệ công việc hơn là nhóm sao âm.

Tứ sinh là nơi vấn đề phát sinh. Thích hợp với các sao ưa tung hoành như Thiên Mã Không Kiếp, song Hao Thất Sát Vũ Tướng Đồng Lương cung dương.
Tứ bại là nơi vấn đề vừa phát sinh. Thích hợp với các sao bại tinh như Khốc Hư miếu tí ngọ. Tang Hổ miếu mão dậu. Song Hao miếu mão dậu. Cơ Cự miếu mão dậu. Cho nên có ý kiến cho rằng Cơ Cự phù hợp với các bại tinh như Tang Hổ Khốc Hư Song Hao. Thực ra chúng là những kẻ đồng hương.
Tứ mộ là nơi an tĩnh, nơi tập hợp lại binh lực, nơi ủ mưu để chuyển hóa từ cũ sang cái mới. Cho nên tứ mộ phù hợp với những sao ưa sự an định như Tả Hữu Xương Khúc Hóa Kị Thai Tọa Quang Quý Cơ Lương Liêm Phủ. Và không phù hợp với các sao thích động như Đồng Cự. Đồng ở mộ như đứa trẻ bị nhốt ở nhà. Cự vốn là ám tinh ở mộ u ám càng không ai soi rọi làm sáng cho, nên càng hôn ám.
Tuy nhiên nhìn lại 3 phân cách trên. Thì tứ bại và quê hương của lục bại Tang Hổ Khốc Hư Hao tuy có gây mệt mỏi nhưng không phải là sự sát phạt tột cùng cực đoan. Bại và hao có thể hiểu như cơn ốm, như vụ tai nạn có thể đền tiền mà xong, như sự mệt mỏi nhọc nhằn không xấu để chết mà chẳng tốt để vui.
Sát địa chính là tứ sinh. Tứ sinh chính là tứ sát. Quê hương và hộ khẩu vĩnh viễn của Kiếp Sát Thiên Mã. Nơi thường trú và địa bàn ưa thích của Không Kiếp. Ở tứ sinh sự việc chỉ có hai thái cực, một là tột cùng vui sướng, hai là tột cùng bi thảm. Không có chỗ cho kiểu nửa buồn nửa vui nửa âu sầu như tứ bại. Ở đây tính chất con bạc của Không Kiếp được ủng hộ triệt để.
Tứ sinh chính là tứ sát.
Tứ bại chính là tứ thành.
Tứ ám (mộ) lại chính là tứ vinh.

----------------------------
Không Kiếp là dối trá. Hỏa Linh là điên loạn. Kình Đà là cố chấp.
Địa Không: trộm.
Địa Kiếp: cướp.
Trộm cướp gặp nhau rất tâm đầu ý hợp.
Địa Không là không được.
Địa Kiếp là có rồi mất.
Cự Môn hoá Lộc: tán dương, khen ngợi
Cự Môn hoá Quyền: đe doạ, hạ lệnh
Cự Môn hoá Khoa: giảng giải
Cự Môn hoá Kị: oán trách
Cự Môn Không Kiếp: nói dối
Khôi Việt đi với Hình Diêu thì trách phạt. Khôi Việt đi với Tả Hữu là giúp đỡ.Khôi Việt chủ việc quan việc xã hội nên chỉ giải hoạ kiện cáo thôi. Còn bệnh tật không giải được. Bệnh tật hay mâu thuẫn gia đình thì Khôi Việt không giải được. Việc không phải việc quan, việc không phải chủ lý mà chủ tình thì phải tìm Quan Phúc. Tượng Quan Phúc là thầy tu là cố vấn tâm linh.

Thiên Cơ là hỏi. Cự Môn là đáp. Cơ Cự gặp nhau là là có hỏi có đáp nên miếu địa.
Thiên Đồng là đồng ý. Cự Môn là phản đối. Đồng Cự là phản đối gặp đồng ý nên hãm địa.
Cự là gái trẻ. Cơ là trai trẻ. Trai trẻ gặp gái trẻ thì đăng đối.
Cự là gái trẻ. Nhật vượng là trai trẻ. Nên Nhật vượng thì Cự vượng.
Cơ là trai trẻ. Nguyệt vượng là gái trẻ. Nên Nguyệt vượng thì Cơ vượng.
Nhật hãm là trai già. Trai già gặp gái trẻ thì khó hợp nên Nhật hãm thì Cự hãm.
Nguyệt hãm là gái già. Gặp Cơ là phi công. Nên Nguyệt hãm thì Cơ hãm.
Đồng là đồng ý. Âm là im lặng. Đồng Âm im lặng và đồng ý.
Cự là hỏi. Cự Nhật là người đàn ông hỏi ở dần thân. Khi đó Đồng Âm là người phụ nữ đồng ý ở tý ngọ. Đó là tượng thuận vợ thuận chồng.
Nhật còn là thông minh. Nguyệt là hiền ngoan. Cự Nhật là hỏi thông minh. Đồng Âm là sự đồng ý ngoan ngoãn. Nhật khôn thì Nguyệt ngoan.
Đồng là cậu bé trai. Lương là cô bé con của Nguyệt vĩnh viễn tam hợp Nguyệt. Đồng Lương gặp nhau thì đăng đối. Đồng đồng ý, Lương thì lành vì là con của mẹ hiền (Thái Âm).
Cơ Cự Đồng Lương về động từ là hỏi đáp thuận tòng, về tính chất là linh hoạt hiền lành nhẹ nhàng, về giới tính Cơ Đồng là trai Lương Cự là gái. Về tuổi tác thì Đồng Lương nhỏ tuổi Cơ Cự thì thành niên. Tham Liêm là trung niên. Nhật Nguyệt thể hiện chung lúc già lúc trẻ.
Cơ Lương cũng là cách miếu vì Cơ thiện Lương lành. Cơ trai thành niên gặp cô gái nhỏ.
Nhật là ý chí. Nguyệt là tấm lòng. Trai cần khôn. Gái cần ngoan.
----------------------------------
Ba sao có tính chất tiên thiên mặc định xấu của tử vi là Sát Phá Tham. Nó là hình bóng Mộc Suy Tuyệt. Trong đó Sát là Tuyệt, Tham là Mộc Dục và Phá là Suy. Sát Tuyệt nên hoành hành cung tứ tuyệt, miếu ở dần thân và đắc ở tị hợi. Tuy nhiên là sao dương nên thoải mái nhất ở dần thân. Tham lộng hành ở tứ bại áp chế và hủ hóa Tử Vi. Phá bất nhân nghịch tử ở tứ mộ và ngụy quân tử hóa Tử Vi. Ở cung âm trong trục sở trường, 3 sao trên đều đồng cung Tử Vi.
Đã là 3 sao xấu. Cho nên khi hãm địa là xấu nhất. Và sự xấu nhất nằm trên tị hợi mão dậu. Trục tị hợi có thể gọi thay bằng trục sát. Trục mão dậu có thể gọi thay bằng trục bại.
------------------------------------

Trong chòm thái tuế 12 cung, việc hiếu được đánh giá bởi tam hợp Tang Tuế Điếu, trong đó ý nghĩa của Tang Môn và Điếu Khách khá rõ ràng chủ việc tang và người tới viếng. Việc hỉ được đánh dấu bởi chòm Đào Hồng Hỉ với Thiên Hỷ vĩnh viễn xung Hồng Loan. Tang và Hỷ là hai tam hợp liền kề nên không bao giờ xung chiếu nhau tạo cảnh dở khóc dở cười tróe ngoe.
Thiên Hỉ cũng được bố trí để không gặp được Thiên Mã. Nhưng chỉ khi đóng ở tứ chính là Hồng Hỷ không gặp Cô Quả. Còn lại Hồng Hỉ luôn gặp cô quả. Tức là có vui nhưng cô đơn.
Xét kĩ hơn thì Tuế Hổ Phù chủ cãi vã tranh chấp. Tang Tuế Điếu chủ tan buồn. Đào Hồng Hỉ chủ vui vẻ. Và Âm Long Trực chủ không cạnh tranh mà an phận.
Tức là có 4 thái cực: cạnh tranh, an phận, vui, buồn. Vui buồn có lẽ là hai thái cực rõ ràng. Còn cạnh tranh hay an phận đều gây nên những ấm ức. Tuế Hổ Phù ngoài nghĩa cạnh tranh có thể gọi là THẮNG. Còn Âm Long Trực ngoài nghĩa an phận có thể gọi là THUA. Vậy là có Vui, Buồn, Thắng, Thua.
------------------------------------
Cái gì hợp với Không sẽ ghét Mộ. Cái gì hợp với Mộ sẽ ghét Không. Vì Không là giải tỏa phóng khoáng thì Mộ là kìm nén tích tụ. Không là rộng thì Mộ là đọng. Không là cho thì Mộ là giữ. Nhật Nguyệt cần khoảng không để soi rọi. Nhật Nguyệt ghét tứ mộ o bế. Đồng Cự thích Không để đồng thoáng cửa mở, nên Đồng Cự ghét tứ mộ vì Đồng tắc còn cửa đóng. Hóa Kị thích tứ mộ an tĩnh như con mèo lười. Hóa Kị ghét Không thành mông lung. Nếu không gặp Không thì ít ra gặp tứ mã tung hoành. Quý nhân không cư tứ mộ nên Quý Nhân chẳng ngại Không Vong. Các cát tinh thích an định ở tứ mộ nên các cát tinh chẳng cần quý nhân. Quý nhân là dành cho hiểm cảnh. Tứ mộ như phe của bên bảo thủ bên có sẵn bên đang nắm quyền, chứ tứ mộ không hợp cho phe cách mạng. Cách mạng thích tứ mã xung động. Không Kiếp là sao âm nên thích tị hợi hơn dần thân. Đồng Lương phe chính nghĩa thích dần thân cung dương hơn tị hợi. Khi mộ gặp không vong thì không vong phá mộ. Dương mộ cứng như đá ong nên gia La Võng khẳng định. Âm mộ nhão như bùn lầy. Nên Triệt Kình phá La Võng vì Triệt chủ cắt phá chia tách. Âm mộ nhão nhoét nên cần Tuần để thu hút đóng khung. Cho nên Nhật Nguyệt ở sửu mùi cần triệt chia tách tại bản cung. Nhưng cung vcd ở mùi thì cần tuần để thu hút ánh sáng Nhật Nguyệt.
-------------------------------------
xem phúc để rõ hơn về nguồn tử tức. Xem tật để rõ hơn nguồn phúc. Xem mệnh để rõ hơn nguồn họa. Xem tài để rõ hơn nguồn điền.
Nhưng cũng có nghĩa là xem tử để rõ hơn về hậu của phúc. Xem nô để rõ hơn về hậu của phối, cho nên có ý kiến cho rằng nô là vợ hai hoặc chồng hai. Cái đó đúng. Xem phúc để rõ hơn về hậu của họa. Xem điền để rõ hơn tiền có tích lũy được không. Bắc phái xem điền để biết có của tích lũy không. Xem họa để rõ hơn hậu của mệnh.
-------------------------------------
Nếu tam hợp phái là phái của tam hợp thì tứ hoá phái là phái của chính xung.
---------------------------------------
Vận đến vòng Thái Tuế là đến thiên thời, vận đến tam hợp mệnh như được là chính mình. Cát hung là do trời nhưng sướng khổ do mình cảm nhận. Giả sử tam hợp mệnh không trùng tam hợp Thái Tuế thì ví dụ tinh giản nhất là: đến tam hợp Thái Tuế được làm vua, còn đến tam hợp mệnh được sống như chính mình. Làm vua là thành công nhưng sống như chính mình là hạnh phúc. Kiếp nhân sinh ảo diệu ở chỗ là được cái này mất cái kia
-------------------------------------
Người có Tuần Triệt mệnh thân là những người mang tính cách ẩn. Cách hành xử của họ cũng ẩn. Ví dụ chọn hai con đường: một là đường lớn chính thống và có đèn giao thông, hai là đường ngóc ngách nhỏ hẹp và có nhiều khúc quanh. Họ sẽ chọn con đường thứ hai. Trong cuộc sống, họ cũng không thích đối mặt hay ra mặt khi phải xử lý vấn đề. Điều này tương ứng với tính hư ảo của Không Vong.
Người có Thái Tuế là người có bề ngoài đúng, người có Lộc Tồn là người có bên trong đúng. Cho nên Tuế mà không có Lộc thì như xác không hồn. Lộc mà không có Tuế thì như hồn không xác.
---------------------------------------
Mệnh thân vĩ nhân ít khi bị tuần triệt, nếu có cũng là cách cục VCD Nhật Nguyệt tịnh minh. Độ số của lá số có thể từ Tuần Triệt mà nhìn ra. Nhìn Tuần Triệt mà ra độ số. Tuần Triệt đóng phá Mệnh Thân hoặc Tài Quan, lại không cát hoá lại lắm sát tinh, nhìn tự biết là xấu. Cái xấu nó thể hiện vô vàn ở tính cách không hợp lý. Dẫn đến hành động không đúng thời, đúng vị. Kiểu như hoang vọng, thiếu thực tế. Thiếu kiên trì, thiếu sáng suốt.

--------------------------------------
NGÔI TỬ VI-CHỦ NHÂN ĐÍCH THỰC
1. Khát vọng làm chủ.
Đặc điểm cốt lõi của Tử Vi là tính làm chủ. Tử Vi khao khát làm chủ. Tử Vi giỏi làm chủ. Tử Vi tốt nhất làm chủ. Thế giới rộng lớn này có nhiều Tử Vi và có nhiều mức độ làm chủ khác nhau. Không phải ai cũng là người sáng lập, có thể họ thừa kế, có thể họ làm chủ bộ phận, có thể họ là đội trưởng của năm người thôi, nhưng tính Chủ của ngôi sao Tử Vi rất rõ. Và những người Tử Vi nên làm chủ từ đầu, chứ nếu Tử Vi đi làm thuê rồi thăng tiến lên làm chủ thì Tử Vi sẽ bị đè bẹp trên con đường đó bởi những người làm thuê chuyên nghiệp.
2. Điềm tĩnh mọi hoàn cảnh.
Điềm tĩnh chính là làm chủ bản thân. Người tử vi có ý thức rèn luyện và làm chủ bản thân họ từ rất sớm. Đây cũng là lý do vì sao tử vi hành thổ. Phương Tây gọi thổ là tinh tuý thứ năm, đứng giữa và vận hành bốn nguyên tố còn lại. Nếu không thể làm chủ bản thân, chắc chắn không thể làm chủ ngoại cảnh. Và điềm tĩnh đơn giản là không chạy theo những tác động bên ngoài. Tử Vi điềm tĩnh trước mọi tác động nên sự bát nháo của Không Kiếp làm Tử Vi phá cách.
3. Bí mật tuyệt đối.
Nếu bạn hay xem phim hay đọc sử về hoàng cung thì bạn hiểu cấm cung sâu như biển. Hoàng cung là nơi ẩn giấu rất nhiều bí mật. Và chủ nhân của hoàng cung chắc chắn không thể là người lúc nào cũng toe toe cái mồm. Cho nên sự bí mật của Tử Vi là tuyệt đối. Có thể nói Tử Vi định nghĩa thế nào là bí mật. Tử Vi chỉ hút thông tin của người khác chứ không chịu chia sẻ thông tin của mình. Tử Vi ít khi nói ra ý kiến trước giây phút cuối cùng. Và Tử Vi không bao giờ nói ra toàn bộ thông tin. Tử Vi nói với mỗi bộ tướng của mình một phần thông tin. Bạn nhìn Gia Cát Lượng điều quân là biết. Ông ta cho mỗi tướng nắm một lệnh bài để thừa lệnh. Tướng nào biết việc tướng đó và đến cuối cùng mới hiểu toàn trận đánh. Đó là nguyên tắc điều hành trung tâm của quân sự. Ngôi Hoá Kỵ chủ đêm đen huyền bí, chưa biết chứ không phải biết rồi mà cố tình giấu như Tử Vi. Cho nên tính chất của Hoá Kỵ khác với Tử Vi. Khi chính tinh là động từ thì Tử Vi là giữ bí mật.
4. Nhìn xa trông rộng.
Tử Vi có tầm nhìn xa và sâu. Tầm nhìn của Tử Vi do vị trí trung tâm của nó mà có. Tầm nhìn của Tử Vi chỉ giới hạn ở vùng nó làm trung tâm. Nói cách khác tử vi như một tổng đài, thu và phát tín hiệu. Bạn thấy Tử Vi nhìn xa trông rộng là ở lĩnh vực của anh ta mà thôi. Chứ tử vi không sở trường ở sự phiêu lưu và phóng kiến ra vô tận. Tầm nhìn của Tử Vi dựa trên sự tính toán cụ thể trong hiện tại và những quy luật bất biến. Tử Vi co về làm chủ ở khu vực nó muốn, mà muốn làm chủ trong giới hạn nào thì phải có tầm nhìn trong giới hạn đó. Nếu không có tầm nhìn, sẽ không có sự chủ động.
5. Khác biệt và tôn trọng sự khác biệt của người khác.
Tử Vi là một trung tâm của những gì xung quanh nó. Tử vi như số nguyên tố, khác biệt và không chịu phân chia. Những người khác biệt có cái hay là họ chấp nhận sự khác biệt của người khác. Đơn giản vì họ hiểu sự khác biệt. Họ khác biệt vì họ có chủ kiến. Họ làm đầu lĩnh vì họ có sự chủ động. Họ tự tin vì họ nắm được đầu mối. Họ tôn trọng sự khác biệt của người khác nhưng không chịu đi theo người khác. Họ có thể có ông chủ, nhưng ông chủ đó phải chấp nhận sự độc lập của họ. Như nước Mỹ chấp nhận sự riêng biệt của các tiểu bang. Giám đốc phải tôn trọng ý kiến và quyền tự quyết của trưởng các bộ phận. Tử Vi không làm những việc mà người khác cũng có thể làm được. Nếu họ không làm tốt hơn, họ sẽ đi đến chỗ khác. Nếu họ làm, phải là khác biệt. Nếu việc giống nhau, thì họ phải làm tốt hơn họ mới làm, vì tốt hơn chính là sự khác biệt.
6. Tỉ mỉ chi tiết nên hợp với Lộc Tồn.
Tử vi không rõ tính tỉ mỉ chi tiết lắm. Chỉ là cụ thể và thực dụng. Không có Lộc Tồn thì Tử Vi thiếu một cái gì đó đường nét, thiếu cái gì đó rõ ràng. Đi với Lộc Tồn, Tử Vi như rồng gặp biển. Khi đó Tử Vi vô cùng chi tiết tỉ mỉ đến tận đơn vị cuối cùng. Người Tử Vi Lộc Tồn bất kể làm việc lớn nhỏ đều cụ thể rành mạch. Cảm tưởng cái gì họ trình bày đều rất hiện thực. Họ mô tả bầu trời sao, thì người nghe cảm giác có thể sờ được có thể nắm được các ngôi sao trong bàn tay mình. Người Tử Vi Lộc Tồn họ giao việc cho cấp dưới theo từng mục như checklist. Họ rất rõ ràng về thế nào là đạt thế nào là không đạt. Việc nào là phải làm, việc nào không cần làm.
7. Tính thực dụng cao.

Tử Vi rất thực dụng, cho nên mới ưa thích Lộc Tồn. Tử Vi thích khẳng định và quả quyết dựa trên các tính toán lợi ích có thực. Tử Vi là nhà quản trị tài năng. Nếu Nhật Nguyệt là vị vua đầy mơ ước và hoài bão tầm thế kỷ, thì Tử Vi là vị vua của hiện tại và của hành động. Cái gì cần làm trước, cái gì mơ hồ xét sau. Tử Vi đơn giản là làm việc. Nên lãnh đạo Tử Vi rất ưa bọn Thất Sát xông xáo tuyến đầu. Nếu Tử Vi làm tính thì đó là phép tính của kế toán, là phép đếm đơn giản của số nguyên chứ không có thập phân thực ảo gì phức tạp. Những con số xu hướng hay huyền ảo tương lai, đối với Tử Vi mà nói đều là nhảm nhí, trừ phi khi Tử Vi bị biến chất bởi Tham Lang.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

Bí mật của tam hợp phái trong xem vận - Alexphong

Bí mật của tam hợp phái là gì ? Là Tam Hợp. Khi tiểu vận hay lưu thái tuế tam hợp với đại vận, hay chính xung với đại vận, thì năm đó xảy ra sự kiện quan trọng. Nguyên tắc đơn giản là sự cộng hưởng. Sự cộng hưởng của đại tiểu vận đủ mạnh để xảy ra sự kiện. Tiểu vận không tam hợp không chính xung với đại vận thì khi đó vẫn có thể xảy ra sự kiện, nhưng sự kiện đó không phải là nổi bật trong đại vận.
Có nghĩa là gì ? Có nghĩa là một đại vận không phải cường cung, sẽ xảy ra những sự kiện kém quan trọng trong đời người. Đại vận mệnh tài quan quan trọng hơn đại vận phúc di phối. Đại vận mệnh tài quan phúc di phối quan trọng hơn phụ tử nô điền tật bào. Vì đơn giản, đó là sự thuận lý âm dương với cung mệnh. Cùng tính âm dương thì chính là ta, trái tính âm dương thì không phải ta. Suy cho cùng, bản chất của tam hợp phái vẫn là âm tòng âm số mà dương hành dương cung.

Tứ mộ khởi biến hóa - Alexphong

Theo quy luật ngũ hành áp trên địa bàn. Tứ mộ là nơi ngừng nghỉ của năm hành. Không cần biết phương pháp gì, cách biện nào thì tứ mộ vẫn là nơi ngưng nghỉ của một hành nào đó, trước khi nó Tuyệt và trước khi hành khác sinh ra. Cho nên vận tứ mộ là vận thay đổi. Thay đổi có hai chiều hướng là từ tốt sang xấu và từ xấu sang tốt. Cho dù người mới học không rõ thay đổi đó là chiều hướng nào thì có thể nắm chắc một điều: tại vận tứ mộ phải có sự thay đổi. Ai đang đắp chăn ấm hãy lo ngại, ai đang co ro dưới gầm cầu hãy hi vọng. Đến tứ mộ đất trời cũng phải đổi thay chứ không nói con người.
Việt Nam đã có nhiều lần thay triều đổi đại vào năm Tuất. Kể cả không thay chiều đổi đại thì những năm thìn tuất cũng có sự kiện đáng kể.

Tiểu vận của nam giới trong tử vi luôn đi thuận. Cho nên những năm La Hầu Kế Đô Thái Bạch của nam giới là những năm tiểu vận rơi vào tứ mộ. Với dân gian mà nói phải ra chùa làm lễ giải hạn. Với nhà tử vi mà nói đó là những năm rơi vào tứ mộ. Không hẳn xấu nhưng phải có thay đổi. Nắm được vấn đề cơ bản này, sẽ giúp ích rất nhiêu cho người mới học xem số, kể cả những người xem lâu năm có tiêu chí để đối chiếu tránh được mông lung. Vì đời người nhiều lắm có hai lần trải qua đại vận tứ mộ.

Phép hội sao - Alexphong

Xét vòng Thái Tuế bạn thấy Tuế Phá luôn xung chiếu Thái Tuế, khi bạn ở Thái Tuế thì chẳng đời nào bạn chịu coi mình có Tuế Phá chiếu về. Khi bạn ở Tuế Phá chẳng thể nào bạn phủ nhận Tuế Phá mà vơ Thái Tuế. Như vậy rõ ràng hai vị trí này là khác nhau. Và rõ ràng là bạn không thể lấy sao chính xung về làm sao của mình được. Nếu coi xung như thủ thì chẳng ai phân ra Lộc Tồn chiếu Phi Liêm, chẳng ai phân ra Phục Binh chiếu Thiên Tướng, Bệnh chiếu Trường Sinh.
Nhưng tại sao trước giờ tam hợp phái lại ôm tất cả các sao xung chiếu cũng như tam chiếu về xét một mớ. Rõ ràng có gì đó không ổn, vì cách xét đó ít ra là sai với ba vòng Thái Tuế, Bác Sỹ và Trường Sinh.
Bây giờ xét tam hợp. Ba vị trí Sinh Vượng Mộ tam hợp với nhau. Nhưng Mộ là mộ, không thể coi là Trường Sinh, Sinh là sinh không thể coi là Đế Vượng. Như vậy Sinh Vượng Mộ cho bạn biết không thể nào xét tam hợp hổ lốn cá mè. Mà chính xác nhất phải xét sao thủ tại cung đó.
Đến đây bạn thừa nhận ít ra với 3 vòng cơ bản Thái Tuế Bác Sỹ Trường Sinh, không thể xét tam hợp cũng như xung chiếu làm sao của mình. Nếu cố tình làm vậy lập tức bị sai lạc.
Xét đến vòng chính tinh bạn thấy tương tự. Không thể nào ngồi ở cung Vũ Khúc bạn kéo Tử Vi tam chiếu về làm như là của mình, vì Tử Vũ Liêm vĩnh viễn tam hợp. Sát Phá Tham cũng vậy. Nói cách cục là để bạn hiểu tình thế của tinh bàn. Nhưng vô tình người xưa mập mờ làm bạn hiểu lầm phép tam chiếu và chính chiếu.
Đến đây lại có hai hướng:
1. Nếu mở rộng suy luận trên cho tất cả các sao, thì bạn chỉ có thể xem sao thủ cung để luận mà bỏ qua xung chiếu và tam hợp. Phép này cũng có lý cho cách xem hạn của nam phái. Đó là đến từng hạn, thì bạn phải gom từng cung lại và bức tranh dần hiện ra.
2. Phép hội sao trên chỉ có ý nghĩa với các vòng sao kín như Thái Tuế Bác Sỹ Trường Sinh, còn các sao đơn như Long Phượng Mã Đào Hồng Cái Tả Hữu đều có thể xung chiếu và tam chiếu, vì những sao đó không có các sao khác vĩnh viễn xung chiếu nó hoặc tam hợp nó. Ở đó là vị trí trống nên có thể chịu ảnh hưởng bởi xung chiếu và tam chiếu. Lập luận này cũng có lý, và từ đây bạn mở ra phép hội sao, biết sao nào chiếu được sao nào không.
Đến đây, bạn biết trong phép xem hạn của tam hợp phái hay nam phái, chỉ có một mình cung hạn được tính. Xem đại vận bạn có một cung, xem xuống tiểu vận bạn có 2 cung, xem đến tháng bạn có 3 cung. Cứ thể tổ hợp lại ra cách cục gì bạn chịu cách cục đó.

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Nhân quả của vòng Thái Tuế


Bí ẩn nhân quả của vòng Thái Tuế, giữ đã lâu giờ chia sẻ với quý độc giả. Cho thấy cái hiểu về vòng Thái Tuế của những người tưởng là hiểu, xưng danh môn nọ kia kỳ thực mới chỉ là da thịt mà thôi.
Nhân (Thiên Không)-Quả (Quả Tú). Nhân quả bất khả đồng cung.
Có ba loại Phượng Các ở địa bàn, đó là:
1. Mã Phượng
2. Hổ Phượng
3. Long Phượng
Hàm ý mỗi con tung cánh một thời. Cũng hàm ý có 3 kiểu bay: bay như ngựa, bay như rồng, bay như hổ.
Có ba loại Thái Tuế ở địa bàn, đó là:
1. Thái Tuế Hoa Cái: vua ngồi dưới lọng rồi nhận Quả Phúc. Sao Hoa Cái mang nghĩa tu hành đầy ẩn ý.
2. Thái Tuế Khốc Hư: vua thở dài rồi nhận Quả Điếu cay đắng.
3. Thái Tuế Mã Phượng: vua rong chơi rồi nhận Quả Hồng gió bụi nhưng đó là sự thành công ở cõi trần.
Chớ tưởng vua nào cũng như vua nào mà ngộ nhận Thái Tuế là toàn tốt đẹp. Cảnh nhà địa chi không vui vẻ như bề ngoài ngó vào mà thấy.
Có ba loại Thiên Mã ở địa bàn, đó là:
1. Mã Tang Hổ: ngựa chở xác, khi vua khóc và Đào Hồng Hỷ gặp nhau vui say, để rồi nhận được Quả Điếu.
2. Mã Khốc Khách: ngựa vượt khó, hướng tới cái Quả Phúc
3. Mã Phượng Tuế: ngựa bay chở vua, dẫn tới Quả Hồng thành đạt
Cùng là ngựa, thân phận nào giống nhau. Đâu cần dùng ngũ hành phân ra mã cùng đồ mà biết ngựa đi về đâu.
Có ba loại hoa đào ở địa bàn, đó là:
1. Đào Thiên Không: xảo trá, hoa giả để nhận Quả Hồng vinh quang đó nhưng luân hồi gió bụi.
2. Đào Hồng Loan: hương sắc để nhận Quả Điếu cay đắng tóc tang.
3. Đào Tử Phù: chỉ còn xác hoa, chứ hoa đã chết ở cách cục Hồng Kiếp cho tuổi tứ mộ. Quá chán kiếp hồng trần gió bụi nên cắt nát đóa hoa đào. Nhưng nhờ Mã Khốc Khách vượt khó mà nhận Quả Phúc vẹn toàn.
Chớ tưởng hoa đào ở đâu cũng là đào hoa.
Có ba loại Kiếp Sát ở địa bàn, đó là:
1. Hồng Kiếp: kiếp hồng trần, đi cùng Thiên Hỷ nên ở đây Sát không còn là giết mà Sát là sát hạch xem có qua được cửa Tham Sân Si không. Hồng Kiếp luôn đi kèm Thiên Không càng làm rõ cái nhân đầy cắc cớ cho tuổi thìn tuất sửu mùi để cuối cùng nhận Quả Phúc.
2. Cô Kiếp: kiếp cô đơn. Có lúc nhận Quả Hồng có khi nhận Quả Phúc.
3. Tử Phù Kiếp Sát: đi kèm chiêu hồn lệnh Tử Phù của thần Nguyệt Đức âm hàn, Kiếp Sát chính là lưỡi hái tử thần. Nên giành cho Quả Điếu.
Chớ tưởng Kiếp nào cũng là kiếp.
Đào Không thì Hồng Quả mà Hồng Không thì Phúc Quả. Tuổi thìn tuất sửu mùi có cách cục Hồng Không (không dính bụi hồng trần, cái nhân tu hành) và Quả Phúc (nhận quả phúc) cho nên tuổi tứ mộ được khuyên tu hành, và tuổi tứ mộ có ưu thế tu hành hơn so với tuổi khác. Ngàn năm chỉ thấy Hồng Không, đến nay mới thấy có Phúc Quả. Cho nên Đào Không thì Hồng Quả có nghĩa cứ gian dối đi cứ giả lả sắc không đi sẽ thành công đấy nhưng rồi ngập trong bụi trần khó thoát. Hơn nữa, ta thấy chỉ có Cô Thần đi với Thiên Không chứ Quả Tú không bao giờ đi với Thiên Không cho thấy không có Quả Không. Vì nhân quả không thể đồng cung. Khi Hồng Quả thì cùng lúc cách cục có Mã Phượng Tuế, cảnh vua cưỡi ngựa đi chơi đậm chất hồng trần là chuẩn mực của thành công nhân thế. Còn ở cảnh Quả Phúc, phải chăng tiền nhân sâu xa cổ vũ cuộc đời Mã Khốc Khách vượt muôn dặm Kiếp Hồng Không để giành được Quả Phúc?
Người xưa nói Hồng Phúc tề thiên. Tử vi coi đời người có ba loại quả: Quả Hồng giành cho vua thể hiện sự rực rỡ thành đạt ở cõi trần. Quả Phúc giành cho người giác ngộ thể hiện sự giải thoát thanh cao, và Quả Điếu để trừng phạt những kẻ buông lơi bản thân rơi vào cám dỗ.
Thật không sai chạy mảy may.
...
12 cung liên hòan có nhiều cách phân loại. Nếu phân loại theo tam hợp thì có 4 bộ tam hợp, đây là cách phân loại của Thiên Lương. Bài trên là phân loại theo bộ tứ nên có 3 bộ tứ: thìn tuất sửu mùi, dần thân tị hợi và tý ngọ mão dậu. Vì bộ tứ xét theo trục, nên coi đồng trục là một loại. Hoàn cảnh của tuổi thìn và tuất giống nhau, hoàn cảnh của sửu và mùi giống nhau. Hoàn cảnh của trục thìn tuất giống trục sửu mùi.
Cho nên ta thấy sau khi phân loại thì sao nào cũng có 3 loại. Ta rất dễ nhớ 3 hoàn cảnh sau:
1. Tuổi tí ngọ mão dậu. Thái Tuế Khốc Hư, khi đó Đào Hồng Hỷ đồng trục, Mã Tang Hổ, cho Quả Điếu. Diễn xuôi là cảnh vua lo buồn, Đào gặp Hồng nên duyên nghiệp, con ngựa chở tang dẫn đến quả Điếu u ám. Dễ nhớ đây là tuổi tứ chính, Thái Tuế và Khốc Hư sẽ đồng trục.
2. Tuổi thìn tuất sửu mùi. Thái Tuế Hoa Cái, Kiếp Sát Hồng Không, Mã Khốc Khách, Quả Phúc Đức. Cảnh đức vua ngồi thiền (Đức Phật ngồi tòa sen), con ngựa vượt khó đưa chủ nhân vượt qua kiếp hồng trần đến với quả phúc. Dễ nhớ đây là tuổi tứ mộ. Thái Tuế Hoa Cái sẽ đồng cung.
3. Tuổi dần thân tị hợi. Thái Tuế Mã Phượng, Đào Không, Quả Hồng. Đức vua cưỡi ngựa che lọng, trong cảnh sắc không đời thường mà đạt thành công to lớn Quả Hồng. Dễ nhớ vì đây là tuổi tứ mã, Thái Tuế và Thiên Mã sẽ đồng trục.
Đến đây bạn dễ nhớ 12 tuổi chung quy chỉ có 3 cảnh trên, tất cả các sao đi vào hệ thống củng cố cho một ý nghĩa mạch lạc. Bạn không còn mơ hồ đi gom từng sao lẻ. Bạn cảm nhận được, cầm nắm được Thái Tuế. Biết "đức vua" của bạn đang trong hoạt cảnh nào. Vậy có thú vị không?
Mới nghe thì thấy có bộ tứ đẹp có bộ không. Kỳ thực là tùy thời mà cái gì lên ngôi ở hoàn cảnh đó. Như tuổi tứ mộ, ta biết cảnh tu hành đầy hứa hẹn nhưng phải hiểu Thái Tuế tứ mộ xét theo triết lý đời thực với hoàng đế là biểu tượng của thành đạt thì thế tứ mộ này là thế kém rồi. Xét theo chuẩn của hoàng đế thì thế Tuế Mã Phượng mới là mặt trời chính ngọ của vị thiên tử đang đương thời hoạt động. Thái Tuế tứ mộ là đức Thái Thượng Hoàng đã qua thời và đi nghỉ ngơi giống Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Cho nên Thái Tuế Hoa Cái chính là cảnh vua ngồi thiền hay hình ảnh Đức Phật tọa trên tòa sen. Theo quan điểm đời là kém, nhưng theo quan điểm đạo là cực phẩm. Tương tự như thế, tuổi tứ chính hay còn gọi là tứ bại, tứ đào hoa. Ta thấy nếu xét từ vị trí ông vua thì đó không phải thời chính trị pháp luật thịnh thế như Mã Phượng Tuế của tuổi tứ mã, cũng không phải thời tâm linh lên ngôi như Thái Tuế Hoa Cái của tứ mộ, mà là thời của Đào Hồng duyên nghiệp thủ diễn. Nôm na có thể hiểu là thời mà cảnh dở khóc dở cười diễn ra nhiều nhất. Nếu nói thời Mã Phượng Tuế chính trị làm chủ, xã hội trật tự theo pháp luật. Nếu nói thời Thái Tuế Hoa Cái, tâm linh làm chủ. Thì thời Đào Hồng Hỷ cảm xúc con người làm chủ, mang đậm chất hỷ nộ ái ố của kiếp người. Đây là thời văn học nghệ thuật phát triển nhưng cũng là thời nhiều loạn lạc nhất của xã hội.
Hiểu theo khách quan thì 3 bộ tứ cân bằng nhau, mỗi bộ thủ diễn một vai trò không thể thiếu của tự nhiên. Bộ tứ mã chính là hình ảnh của Thiên khi thiên tử trị vì. Bộ tứ mộ chính là hình ảnh của Địa khi tâm linh trị vì. Bộ tứ bại chính là hình ảnh của Nhân khi cảm xúc hỉ nộ ái ố của con người trị vì.
...
Đến đây quý độc giả dễ dàng vận dụng ý nghĩa cốt lõi của 3 bộ tứ, bất kỳ người có trí nhớ tệ thế nào cũng nhớ được:
1. Tuổi tứ mã, thời tứ mã dần thân tị hợi là khi chính thống chuẩn mực lên ngôi. Thời này cứ vững tin theo chính đạo mà bước theo chắc chắn sẽ thu được thành công. Hình ảnh lúc trung niên, hình ảnh lúc Lâm Quan. Cho nên Thất Sát miếu địa ở dần thân thỏa sức thi hành chính đạo.
2. Tuổi tứ mộ, thời tứ mộ thìn tuất sửu mùi là lúc ngưng nghỉ, khi tinh hoa hội tụ để chuẩn bị thoát thai sang giai đoạn mới. Thời này là buổi đêm mà người xưa khuyên con người nên ngồi kiểm điểm lại bản thân trong ngày để tiến bộ vào ngày hôm sau. Hình ảnh lúc già. Cho nên Tham Lang miếu địa ở thìn tuất lặng im tích lũy.
3. Tuổi tứ bại, thời tứ bại tý ngọ mão dậu là lúc hoạt động sôi nổi, khi trải nghiệm là cần thiết để đúc rút được kinh nghiệm về sau. Thời này giống thời hoạt động sôi nổi của thanh niên, yêu đương nhiều người, đi chơi nhiều chỗ, va nhiều nên có vui có buồn mà dần trưởng thành. Thời này không thể theo lề lối cứng nhắc hay thụ động chờ đợi mà phải thử và sai, thử và sai nhiều lần mới tiến bộ. Hình ảnh lúc trẻ. Cho nên Phá Quân miếu địa ở tý ngọ nhiệt tình khai phá.
Bây giờ mới biết 3 anh em Sát Phá Tham thì Tham Lang già nhất, Thất Sát mới đang trung niên, còn Phá Quân nghịch ngợm trẻ nhất
- Sưu tầm: Chia sẻ kinh nghiệm của anh Alexphong trên các diễn đàn