Cung vận:
Cách an đại vận: đại vận tính theo cục số, nhưng đại vận thứ nhất của Lương phái không an ở mệnh mà dùng cung phu thê làm Dụng kết hợp với lưu niên thái tuế trong đại vận đó để xem vận. Bạn có thể tham khảo cách an đại vận của Lương phái hoặc bạn có thể an đại vận ở mệnh bình thường như Nam phái và tứ hóa phái.
Cách an lưu niên thái tuế: vào năm nào thì lưu niên thái tuế đóng ở cung đó. Ví dụ năm Kỷ Hợi thì lưu niên thái tuế đóng ở cung hợi.
Cách an lưu nguyệt (vận tháng): cung dần của địa bàn là cung chức nào của nguyên bàn thì cung chức đó của lưu niên thái tuế là tháng giêng của năm đó. Ví dụ cung dần của lá số nguyên bàn là cung Tài Bạch thì năm Kỷ Hợi lưu niên thái tuế đóng cung hợi, như vậy cung tài bạch của cung hợi là cung mùi sẽ an tháng Giêng của năm hợi. Các tháng tiếp theo đi thuận, bất kể nam nữ tuổi âm tuổi dương. Ví dụ trên, tháng hai sẽ là cung thân, tháng ba cung dậu, tháng tư cung tuất…
Cách an lưu nhật: tháng là quân, ngày là thần cho nên ngày 1 tháng đó sẽ an ở cung tiếp theo tính theo chiều thuận. Ví dụ tháng Giêng an ở cung mùi thì ngày 1 tháng Giêng an ở cung thân, tháng hai an ở cung thân thì ngày 1 tháng hai an ở cung dậu. Cứ thế đi thuận có mùng 2 mùng 3 mùng 4, …
Cách an lưu thời: giờ Tý hàng ngày an tại cung an ngày đó, cứ thế đi thuận đến giờ hợi. Ví dụ ngày 3 tháng hai ở cung hợi thì giờ Tý ngày 3 tháng hai an tại cung hợi, giờ sửu an cung tý, …
Tứ hóa tượng của các vận:
Tứ hóa của nguyên bàn là tứ hóa của năm sinh
Tứ hóa của đại vận là tứ hóa của can cung đại vận. Ví dụ sinh năm Đinh thì cung hợi là Tân Hợi. Đại vận đến cung hợi thì lấy can Tân đế an tứ hóa đại vận.
Tứ hóa của vận một năm là tứ hóa của lưu niên thái tuế, ví dụ lưu niên thái tuế là Kỷ Hợi thì dùng can Kỷ của năm Kỷ Hợi để an tứ hóa lưu niên. Lưu ý rằng cung an lưu niên thái tuế chính là cung mệnh của lưu niên, tại cung đó có can cung riêng. Ví dụ năm Kỷ Hợi thì mệnh lưu niên đóng cung Hợi, cung hợi của tuổi Đinh Nhâm là Tân Hợi thì can Tân đó được dùng để tính tứ hóa của mệnh lưu niên Kỷ Hợi.
Tứ hóa của lưu nguyệt: tính theo can của tháng đó, ví dụ xem vận tháng Đinh Mão thì dùng can Đinh để phát động phi hóa của tháng đó. Mệnh tháng đóng tại mão, với tuổi Đinh Nhâm là cung quý mão, thì mệnh tháng lấy can quý để tính toán tứ hóa của mệnh tháng.
Tứ hóa của lưu nhật, lưu thời cũng tính toán theo nguyên tắc giống lưu niên lưu nguyệt.
Luận cát hung của đại vận
Trong đại vận đó ta có can cung đại vận, từ đó tính ra được tứ hóa đại vận. Ta có cung mệnh đại vận mới và 11 cung chức trong vận đó cũng thay đổi khi lập cực cung mệnh tại cung đại vận. Mọi công thức xuyến liên ta học phía trên có thể áp dụng ở đại vận, khi thay cung mệnh mới và các cung chức mới. Ví dụ xem gia đạo hưng suy, ta dùng cung Điền đại vận làm thể, dùng cung Mệnh đại vận và Phúc đại vận và Di đại vận và niên Kỵ làm Dụng tính toán ra tổ hợp xuyến liên mới. Tổ hợp này cho biết sự hưng suy của gia đạo trong 10 năm đại vận đó. Nguyên bàn có tổ hợp Xuyến Liên Thể Dụng nào thì đại vận có tổ hợp Xuyến Liên Thể Dụng đó.
Ngoài ra có thể xét tương tác cung đồng chức của đại vận với nguyên bàn. Ví dụ xét tương tác phi hóa Lộc Kỵ của cung tài bạch đại vận với tài bạch nguyên bàn, ở đây gọi là kích trên. Tức là từ tầng đại vận phi hóa kích lên tầng trên là nguyên bàn. Dưới kích trên có ảnh hưởng nặng, trên xuống dưới không gọi là kích mà gọi là ứng. Ví dụ cung tài bạch đại vận phi Kỵ chuyển Kỵ xung tài bạch nguyên bàn tọa cung dần có nghĩa là trong 10 năm đó có chuyện xấu về tài bạch thì đến lưu niên năm dần năm ngọ ứng nghiệm chuyện xấu đó. Bởi vì năm dần lưu niên mệnh nhập cung dần, năm ngọ lưu niên tài nhập cung dần. Đó gọi là kích trên ứng dưới của tứ hóa phái. Đây là cách xét đơn giản và là trường hợp riêng của Phi tinh khi chỉ xét tương tác phi hóa-cung.
Phi tinh tứ hóa xét tương tác tứ hóa của đại vận với tứ hóa của nguyên bàn để xét đoán cát hung (tương tác phi hóa-phi hóa). Như phần trên đã giới thiệu, phi hóa là cánh tay nối dài của cung và có thể đại diện cho cung để tương tác. Ví dụ cung tài bạch đại vận Hóa Kỵ hoặc Hóa Kỵ chuyển Kỵ nhập cung thìn. Cung tài bạch nguyên bàn cũng Hóa Kỵ hoặc Hóa Kỵ chuyển Kỵ nhập cung thìn hoặc cung tuất là có chuyện xấu về tài bạch bởi vì khi đó hai Kỵ của Tài bạch nguyên bàn và Tài bạch đại vận gặp nhau ở trục thìn tuất, chính là đồng cung tương bách hoặc lưỡng đầu kiến Kỵ. Cần nắm vững giao Lộc, giao Kỵ và giao Lộc Kỵ (tức Lộc Kỵ hợp tham đồng tinh diệu) để xét đoán cát hung chính xác.
b. Tam bàn thiên địa nhân
c. Kết nối tam bàn đoán sự kiện
Nơi sưu tầm các bài viết hay về tử vi, khoa học, phật giáo, và cuộc sống
Hiển thị các bài đăng có nhãn xem vận hạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xem vận hạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 1 tháng 1, 2020
Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019
Cách xem hạn của Agape
A. Vấn đề sinh khắc
Cứ tương sinh (sinh nhập, sinh xuất) là tốt, tương khắc (khắc nhập, khắc xuất) là xấu
Trong các hành thì hành Thổ có ưu điểm hơn là cho dù bị khắc nhưng cũng đỡ hơn
Dương Nam (+, + => +), Âm Nữ ( -, - => +) thuộc Dương (người Dương), đi đến cung Âm (Sửu , Mão, Tỵ....) thì ăn mạnh (nếu tốt thì tốt thêm, tốt gấp hai, xấu thì xấu hơn, xấu thì xấu gấp hai), đi đến cung Dương thì ăn yếu (tốt thì không tốt nhiều, xấu thì không xấu thêm)
Âm Nam (-, + => -), Dương Nữ (+, - => -) thuộc Âm (người Âm), đi đến cung Dương thì ăn mạnh, đi đến cung Âm thi ăn yếu hơn
Dương Nam, Âm Nữ thuộc Dương, đi đến cung Âm (từ Tuất đến Dần, ban đêm) thì ăn mạnh hơn khi đi đến cung Dương (từ Mão đến Dậu, ban ngày)
Âm Nam, Dương Nữ thuộc Âm, đi đến cung Dương thì ăn mạnh hơn đi đến cung Âm
Trong các hành thì hành Thổ có ưu điểm hơn là cho dù bị khắc nhưng cũng đỡ hơn
Dương Nam (+, + => +), Âm Nữ ( -, - => +) thuộc Dương (người Dương), đi đến cung Âm (Sửu , Mão, Tỵ....) thì ăn mạnh (nếu tốt thì tốt thêm, tốt gấp hai, xấu thì xấu hơn, xấu thì xấu gấp hai), đi đến cung Dương thì ăn yếu (tốt thì không tốt nhiều, xấu thì không xấu thêm)
Âm Nam (-, + => -), Dương Nữ (+, - => -) thuộc Âm (người Âm), đi đến cung Dương thì ăn mạnh, đi đến cung Âm thi ăn yếu hơn
Dương Nam, Âm Nữ thuộc Dương, đi đến cung Âm (từ Tuất đến Dần, ban đêm) thì ăn mạnh hơn khi đi đến cung Dương (từ Mão đến Dậu, ban ngày)
Âm Nam, Dương Nữ thuộc Âm, đi đến cung Dương thì ăn mạnh hơn đi đến cung Âm
Nguyên tắc này được vận dụng khi coi đại vận, tiểu vận, vị trí cung Mệnh!
Ví dụ người Âm Mệnh đóng tại cung Dậu (Âm) thì không ăn mạnh, nhưng cũng được gỡ phần nào do cung Dậu thuộc Dương (phân theo trục Mão Dậu)
Ví dụ Âm Nam Mệnh đóng cung Thìn thì tốt hơn cung Tuất
Hỏa và Kim thuộc Dương, Thủy và Mộc thuộc Âm. Như vậy Mệnh Thủy, người Dương (Dương Nam, Âm Nữ) thì ăn hơn người Âm (Âm Nam, Dương Nữ).
Ví dụ Âm Nam Mệnh đóng cung Thìn thì tốt hơn cung Tuất
Hỏa và Kim thuộc Dương, Thủy và Mộc thuộc Âm. Như vậy Mệnh Thủy, người Dương (Dương Nam, Âm Nữ) thì ăn hơn người Âm (Âm Nam, Dương Nữ).
B. Xem đại hạn (đại vận)
Cung là hoàn cảnh nuôi bản Mệnh
Khi xem thi sự sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh quan trọng hơn chính tinh nhập hạn có hợp hay không (chỉ ảnh hưởng 30%)
Sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh:
Đồng hành thì ăn 100%
Sinh nhập thì được hoàn cảnh nuôi dưỡng, ăn 90%
Sinh xuất thì vất vả, phải chạy theo hoàn cảnh, nuôi dưỡng hoàn cảnh (ăn 60%)
Khắc xuất thì tuy chống đối hoàn cảnh nhưng vẫn vượt qua được (ăn 30%)
Khắc nhập thì bị hoàn cảnh chống đối không cho hoạt động (không ăn gì cả 0%)
Ngoài ra nếu trên 37 tuổi thì xét thêm tương quan giữa hành cung và hành Cục để biết thêm hoàn cảnh có tốt hay không
Chú ý: hành của cung tính toán trên hai cơ sở kết hợp: hành chính cung và hành tam hợp cục (ví dụ cung Tí hành Thủy vì chính cung là Tí hành Thủy, tam hợp Thân Tí Thìn hành Thủy, còn cung Sửu thuộc Thổ đới Kim vì cung Sửu hành Thổ, tam hợp Tỵ Dậu Sửu hành Kim. Như vậy cung Tỵ là Hỏa đới Kim, nếu Mệnh Hỏa thì ăn 70%, Mệnh Kim thì ăn 30%, cung Ngọ hành Hỏa, Mệnh Hỏa ăn 100%)
Chính tinh đắc địa nhập hạn quan trọng hơn chính tinh hợp Mệnh. Đắc mà không hợp Mệnh thì cũng hơn hãm mà hợp Mệnh
Đắc nếu hợp Mệnh thì ăn 100%, nếu không hợp thì cũng còn ăn 40%
Hãm và không hợp Mệnh thì không ăn, nếu hãm mà đồng hành thì cũng ăn vì là của mình
Khi xem thi sự sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh quan trọng hơn chính tinh nhập hạn có hợp hay không (chỉ ảnh hưởng 30%)
Sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh:
Đồng hành thì ăn 100%
Sinh nhập thì được hoàn cảnh nuôi dưỡng, ăn 90%
Sinh xuất thì vất vả, phải chạy theo hoàn cảnh, nuôi dưỡng hoàn cảnh (ăn 60%)
Khắc xuất thì tuy chống đối hoàn cảnh nhưng vẫn vượt qua được (ăn 30%)
Khắc nhập thì bị hoàn cảnh chống đối không cho hoạt động (không ăn gì cả 0%)
Ngoài ra nếu trên 37 tuổi thì xét thêm tương quan giữa hành cung và hành Cục để biết thêm hoàn cảnh có tốt hay không
Chú ý: hành của cung tính toán trên hai cơ sở kết hợp: hành chính cung và hành tam hợp cục (ví dụ cung Tí hành Thủy vì chính cung là Tí hành Thủy, tam hợp Thân Tí Thìn hành Thủy, còn cung Sửu thuộc Thổ đới Kim vì cung Sửu hành Thổ, tam hợp Tỵ Dậu Sửu hành Kim. Như vậy cung Tỵ là Hỏa đới Kim, nếu Mệnh Hỏa thì ăn 70%, Mệnh Kim thì ăn 30%, cung Ngọ hành Hỏa, Mệnh Hỏa ăn 100%)
Chính tinh đắc địa nhập hạn quan trọng hơn chính tinh hợp Mệnh. Đắc mà không hợp Mệnh thì cũng hơn hãm mà hợp Mệnh
Đắc nếu hợp Mệnh thì ăn 100%, nếu không hợp thì cũng còn ăn 40%
Hãm và không hợp Mệnh thì không ăn, nếu hãm mà đồng hành thì cũng ăn vì là của mình
Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ)
Người chính diệu đi vào hạn VCD thì lao đao ít hơn người VCD đi vào hạn VCD
Người VCD đi vào hạn có hung tinh đắc địa độc thủ thì phát. Gặp Không Kiếp Tỵ Hợi người tuổi Tỵ Hợi thì phát mạnh, nếu Mệnh Kim thì càng ăn mạnh
Người VCD đi vào hạn có hung tinh đắc địa độc thủ thì phát. Gặp Không Kiếp Tỵ Hợi người tuổi Tỵ Hợi thì phát mạnh, nếu Mệnh Kim thì càng ăn mạnh
Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đi vào hạn Sát Phá Tham thì xấu (Trúc La hạn)
C. Xem tiểu hạn (tiểu vận)
Đại hạn tốt nếu tiểu hạn có xấu cũng hưởng 50%
Xem tiểu hạn khi xét sao thì chỉ quan trọng sao thủ trong cung. Các sao chiếu phải là sao đôi (như Khôi Việt, Quang Quí)
Sao chính chiếu quan trọng. Sao tam hợp không quan trọng
Cung nếu có Tuần, Triệt thì chiếu mạnh hơn (Triệt: câu vào, Tuần: đẩy ra), nhất là cung Vô Chính Diệu, nếu không có Tuần Triệt thì chiếu ăn 30%
Cung tiểu hạn là cung lưu Mệnh. Mệnh rơi vào cung nào thì cung đó quan trọng, dính dáng đến cung đó (ví dụ tại Tử Tức thì vấn đề con cái quan trọng) (cách xem này đang khác với trường phái tứ hóa phái lấy Lưu Thái Tuế làm Lưu Mệnh, và của nhiều tử vi gia Việt Nam lấy Lưu Đại Vận làm Lưu Mệnh)
D. Lưu niên đại hạn (LNĐV) cũng quan trọng
Xem thêm cung có sao lưu Thái Tuế (ví dụ vào Phu Thê thì vợ chồng bất hòa? vào Điền Tài thì tranh chấp về Tài Sản? vào cung Tử thì đẻ con, khai sinh?)
Cần xem sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh để xét hoàn cảnh có nuôi dưỡng mình không?
Cần xét thêm sinh khắc giữa hành năm nhập hạn và hành Mệnh để biết tăng độ số hoặc giảm độ số (thêm hanh thông hoặc thêm trắc trở)
Trên 37 tuổi còn xét tương quan giữa hành Cục và hành sao tại cung Thân
Tiểu hạn là năm tam hợp với tuổi thông thường thì đàn bà tốt, đàn ông xấu, nếu là năm xung thì đàn bà xấu, đàn ông tốt (nhưng gặp xấu trước rồi mới tốt)
Vào năm xung lấy nhau thường dễ gặp khó khăn. Vào Năm tam hợp nếu gặp Đào Hồng Hỉ hoặc Tả Hữu Âm Dương đúng thế thì dễ lấy
Người Mệnh Âm thì ăn mạnh sao Dương hơn sao âm....
E. Cách xem tiểu vận
Cần xem sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh để xét hoàn cảnh có nuôi dưỡng mình không?
Cần xét thêm sinh khắc giữa hành năm nhập hạn và hành Mệnh để biết tăng độ số hoặc giảm độ số (thêm hanh thông hoặc thêm trắc trở)
Trên 37 tuổi còn xét tương quan giữa hành Cục và hành sao tại cung Thân
Tiểu hạn là năm tam hợp với tuổi thông thường thì đàn bà tốt, đàn ông xấu, nếu là năm xung thì đàn bà xấu, đàn ông tốt (nhưng gặp xấu trước rồi mới tốt)
Vào năm xung lấy nhau thường dễ gặp khó khăn. Vào Năm tam hợp nếu gặp Đào Hồng Hỉ hoặc Tả Hữu Âm Dương đúng thế thì dễ lấy
Người Mệnh Âm thì ăn mạnh sao Dương hơn sao âm....
E. Cách xem tiểu vận
a) Có biến cố tốt, trọng đại xảy ra trong năm : Đẩu Quân
b) Thi đậu, thăng tiến công danh, làm ăn tốt : Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa
Quyền Lộc, Long Phượng Hổ Cái, Mã ngộ Tràng sinh, Mã Khốc Khách, Đào
Hồng Hỉ , Phong Cáo, Quốc Ấn, Lưu Niên Văn Tinh..v.v..
Quyền Lộc, Long Phượng Hổ Cái, Mã ngộ Tràng sinh, Mã Khốc Khách, Đào
Hồng Hỉ , Phong Cáo, Quốc Ấn, Lưu Niên Văn Tinh..v.v..
c) Tình yêu, lập gia đình : Long Phượng Hổ Cái, Đào Hồng Hỉ, Thanh Long,
Riêu Y, Mộc Dục, Thai, Liêm Tham...v.v..
Riêu Y, Mộc Dục, Thai, Liêm Tham...v.v..
d) Vận tù tội : Sát Hình Phá, Liêm Hình, Liêm Phá + Sát tinh, Liêm Tham Tỵ
Hợi + Sát tinh, Bạch Hổ + Đường Phù và nếu thêm Thiên Không, Không
Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát thì càng rõ hơn...v..v..
Hợi + Sát tinh, Bạch Hổ + Đường Phù và nếu thêm Thiên Không, Không
Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát thì càng rõ hơn...v..v..
e) Vận phát tài, làm giàu : Tham Vũ Lộc đồng cung, Lộc Mã, Song Lộc, Kiếp
Không Miếu ở Tỵ Hợi, Hỏa Linh Miếu, Sát Phá Tham Miếu Vượng Đắc
hợp với mệnh..v..v.
Không Miếu ở Tỵ Hợi, Hỏa Linh Miếu, Sát Phá Tham Miếu Vượng Đắc
hợp với mệnh..v..v.
f) Vận tán tài : Song Hao hãm, Kình Đà..v..v..
g) Phát và Tán : Song hao Miếu..v..v.
h) Vận thay đổi : Thiên Mã, Thiên Đồng...v...v..
Khi xét Lưu Niên Tiểu Vận thì cũng xem ảnh hưởng của các sao lưu động vận hành trên các cung tùy theo từng năm xem hạn. 9 sao lưu động gồm Lưu Thái Tuế, Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Lưu Lộc Tồn, Lưu Kình Dương, Lưu Đà La, Lưu Thiên Mã.
- Lưu Thái Tuế : lưu Thái tuế tại cung nào thì kích động cung đó cho nên phải lưu ý đến cung đó. Mọi sự việc trong năm hay hoặc dở , xem hạn đều có liên quan mật thiết đến cung có Lưu Thái Tuế. Ví dụ Lưu Thái Tuế tại Tuất là cung Quan lộc, vậy trong năm Tuất những sự hay dở xảy ra đều có liên hệ đến cong danh sự nghiệp hay công việc làm ăn. Lưu Thái Tuế gặp nhiều sao sáng sủa đẹp đẽ thì hạn tốt đẹp may mắn, nếu gặp nhiều sao xấu mờ ám thì hạn xấu.
- Lưu Tang Môn Bạch Hổ : Cung nào có Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ gặp nhiều sát tinh hay bại tinh thì trong hạn sẽ gặp nhiều sự chẳng lành như ốm đau, tang tóc. Nguy hiểm nhất là Lưu Tang môn gặp Tang Môn cố định hay Lưu Tang Môn gặp Tang Môn đồng cung. Gặp trường hợp này nếu gốc Đại Vận xấu và không gặp sao giải lại mà gặp thêm nhiều sao xấu, tiểu hạn cũng xấu nếu không gặp sao giải thì tất ốm nặng có thể đi đến chổ mạng vong.
- Lưu Thiên Khốc Thiên Hư : Lưu Tang Hổ Khốc Hư cho biết những việc phải lo lắng, phiền não, ốm đau, buồn thương xảy ra tại các cung mà có các sao lưu này hội tụ. Cũng như Lưu Tang Môn Bạch Hổ, nguy hiểm nhất là lưu Thiên Khốc gặp Thiên Khốc đồng cung, lưu Thiên Hư gặp Thiên Hư đồng cung thì khó tránh được bệnh nan y hay tai ương bất ngờ nếu không gặp nhiều sao tốt đẹp cứu giải. Bộ sao Tang Mã Khốc Hư có vai trò rất quan trọng trong việc luận đoán sự sống chết nữa. Đôi khi bản thân lo buồn thì do thân nhân thường có nạn, khi thân nhân lo buồn thì chính bản thân cũng do gặp nạn.
- Lưu Lộc Tồn Kình Dương Đà La : Nếu Lưu Lộc Tồn gặp nhiều quí tinh, quyền tinh sáng sủa đẹp đẽ hội hợp nhất là gặp Lộc Tồn và Thiên Mã cố định thì mọi sự trong hạn đều hưng vượng hanh thông nhưng nếu gặp nhiều sát tinh và bại tinh như Không Kiếp Song Hao thì gặp nhiều bất mãn, phiền muộn , hao tán tiền bạc. Nếu Lưu Kình Dương và Lưu Đà La gặp Kình Dương và Đà La cố định đồng cung thì khó tránh được những tai nạn khủng khiếp. Đáng ngại nhất là Lưu Kình Dương hay Lưu Đà La gặp nhiều sát tinh hay bại tinh cũng gặp tai họa trong hạn nếu không gặp cát tinh cứu giải.
- Lưu Thiên Mã : Lưu Thiên mã chỉ sự di chuyển, hoạt động. Lưu Thiên Mã tại cung nào thì trong hạn có sự thay đổi hoặc có sự di chuyển liên hệ đến cung đó. Ví dụ: Tiểu vận năm Bính Tuất lưu Thiên Mã tại cung Thân là cung Phu Thê. Vậy trong năm Tuất có sự di chuyển, thuyên chuyển hay thay đổi nghề nghiệp có liên quan đến vợ hay chồng. Ngoài ra, nếu Thiên mã gặp Triệt, Thiên hình, Đại Tiểu vận xấu thì dễ xảy ra tai nạn, chia ly có liên quan đến cung có lưu Thiên mã rơi vào. Nếu Đại Tiểu vận tốt, Thiên mã không gặp Tuần Triệt thì có chuyện di chuyển, du lịch vui vẻ.
Thiên Mã Lưu Niên là con sao thường đem lại sự thay đổi quan trọng và ứng nghiệm mạnh mẽ hơn cả con Thiên Mã cố định. Bởi vậy khi gặp Tiểu hạn có Thiên Mã cố định đừng vội cho ngay là có sự thay đổi về nhà cửa, xe cộ hoặc sự di chuyển về mình hoặc cho thân nhân vì Thiên Mã cố định không ảnh hưởng gì nhiều đến hạn.
Lưu Lộc Tồn: Khi Lưu Lộc Tồn nhập vào Tiểu hạn thì đừng vội cho là có tiền ngay. Nhưng phải cần xem xét Tài Lộc đến ai mà là người được hưởng và tới bằng cách nào. Mình sẽ được hưởng khi Lưu Lộc Tồn nhập vào hạn liên quan đến những cung trực tiếp với mình như Mệnh Thân, Quan Tài Phúc Điền và còn phải ứng hợp với 1 Đại Vận thuận lợi nữa hoặc ít ra Mệnh Thân có yếu tố hoặc môi trường để được hưởng.
Trường hợp Lưu Lộc Tồn nhập vào cung Phụ Mẫu hay Huynh Đệ thì ít khi ta hưởng được tài lộc, nếu có thì may mắn lắm được hưởng gián tiếp khi cung nhập hạn có thêm Đào Hồng Hỷ, Thiên Quan, Thiên Phúc Quý Nhân, được như thế thì Cha Mẹ hay Anh Chị Em cho chút ít để xài.
Lưu Lộc Tồn gặp Lộc Tồn cố định không tốt bằng cách xung chiếu như thế tiền bạc sẽ dồi dào hơn vì do tiền cứ luân chuyển làm tiền sinh ra tiền, chứ hai lộc gặp nhau ở một cung thì giống như tiền bỏ vào quỷ tiết kiệm cùng lắm chỉ ăn được tiền lời thôi. Ngoài ra Lộc Tồn cần gặp Lưu Thiên Mã chứ không cần gặp Thiên Mã cố định vì Lộc Tồn tượng trưng cho tiền bạc hàng hóa nếu đem chất lên một chiếc xe không chạy đi đâu thì thật là vô ích.
Có trường hợp Lưu Lộc Tồn đóng cung Tài Bạch gặp Lộc Tồn cố định ở cung Phúc Đức xung chiếu là những cung liên quan trực tiếp đến mình mà năm đó vẫn chẳng có chút lộc nào để hưởng là vì Mệnh có Địa Kiếp hội với Phá Quân, tưởng năm đó số mình được hưởng nhưng lại không phải vì cả năm đi lãnh tiền về để phân phát cho thiên hạ mà mình trái lại chẳng hưởng được đồng nào.
Lưu Kình Dương
Khi thấy sao Kình Dương hầu hết mọi người đều sợ dù nó đóng cố định hay nhập hạn vì bản chất của nó dể đưa đến chuyện xui xẻo chẳng lành. Nhưng theo kinh nghiệm cho thấy dù nhập hạn gặp Kình Dương cố định chưa có gì đáng ngại cho lắm trừ khi có thêm nhiều yếu tố ác sát tinh khác tăng cường. Ngược lại, khi Tiểu hạn có Lưu Kình Dương đóng ở 4 cung Tí Ngọ Mão Dậu dù không có thêm yếu tố xấu khác vẫn thường có chuyện không hay xãy ra, nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào sự chế hóa của cung nhập hạn hay từ cung tam hợp mà ảnh hưởng đến chính mình hay cho thân nhân.
Ta có thể ví sao Kình Dương cố định như một tên trộm vác cuốc đi đào mệt quá đang ngủ , còn Lưu Kình Dương như một tên trộm khác đang thức vác cuốc đi đào đất ăn cướp vàng . Như vậy, tên trộm đang ngủ không nguy hiểm bằng tên trộm đang thức để đào đất. Tuy nhiên, khi Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định như tên trộm đang thức làm cho tên trộm đang ngủ tỉnh dậy cùng họp sức khiến cho sức phá hoại càng mạnh mẽ ác liệt thêm. Còn trường hợp Kình Dương cố định gặp Kình Dương xung chiếu thì đừng tưởng rằng sự nguy hiểm giảm bớt đi nhưng trái lại còn đáng lo ngại hơn vì cả hai đang ở thế gọng kìm hoặc 2 mặt giáp công khó có đường mà tẩu thoát. Còn nếu Lưu Kình Dương ở cung xung chiếu không gặp Kình Dương cố định thì vẫn cẩn thận như thường vì ảnh hưởng của nó vẫn mạnh mẽ dù ngay cả khi nó nhập hạn ở vào 1 trong cung tam hợp thì cũng vẫn có ảnh hưởng chút đỉnh. Nếu chẳng may Tiểu hạn rơi vào cung Thìn Tuất tức La Võng Chi Địa hội thêm Cô Quả Hình Linh thì thực là đại họa.
Khi Lưu Kình Dương nhập hạn coi thử có ảnh hưởng đến mình hay cho thân nhân thì nhận định như sau :
Ví dụ Tiểu hạn đi đến cung Tật Ách có Lưu Kình Dương ngay tại cung này. Nếu Đại Hạn không nhìn thấy liên quan đến cung Tật Ách và Mệnh thì đương số gần như an toàn nhưng cha mẹ, anh chị em bị ảnh hưởng vì cung Phụ Mẫu ở thế xung chiếu và cung Huynh Đệ ở thế tam hợp. Nếu thấy cung Phụ Mẫu có nhiều yếu tố khác xấu hơn cung Huynh Đệ như bị Lưu Tang Môn, Lưu Khốc Hư thì cha mẹ gánh chịu. Cũng trong trường hợp này nếu Mệnh đương số xấu, Đại Hạn cũng xấu mà Lưu Kình Dương nhập hạn vào những cung liên quan đến mệnh thì đương số lãnh đủ hết ảnh hưởng của Kình Niên và ít khi cha mẹ hoặc anh chị em bị chịu lây.
Trong trường hợp Tiểu hạn đi đến cung Điền Trạch nếu có Lưu Kình Dương nhập hạn mà Đại Tiểu hạn không trùng phùng thì dù mệnh đương số không tốt cũng không đáng lo ngại vì cung Điền trạch không gây trực tiếp đến cho bản Mệnh mà trái lại gây ảnh hưởng đến cung Tử Tức và cung Huynh Đệ. Lúc đó chỉ cần coi cung Tử Tức và Huynh Đệ cung nào chịu ảnh hưởng khắc xấu trong năm mà xét đoán. Nếu cung Tử Tức có Kình Dương cố định trong khi cung Huynh Đệ có Quan Phúc, Hóa Khoa, Khôi Việt thì chắc chắn con cái bị ảnh hưởng nguy hiểm còn anh chị em thì không việc gì.
Lưu Niên Đại Vận
Khi xem, phải xem gốc Đại vận chủ về cái gì rồi Tiểu vận một năm ăn từ gốc ấy mà ra. Thí dụ vào Đại Vận phát tài thì các Tiểu hạn hướng về phát tài, Đại vận chủ về công danh thì các Tiểu hạn hướng về công danh. Xem gốc Đại vận phải cộng cung chính và 3 cung xung hợp chiếu.
Nhìn vào lá số thấy các Tiểu vận dàn ra trên 12 cung và cứ 12 năm lại gặp lại một lần không lý các diễn biến lại diễn ra đúng như trước?? Dỉ nhiên là không phải như vậy. Vận số một năm như thế nào là do cung của Tiểu vận cho biết nhưng còn tùy thuộc vào Mệnh và Phúc đức cùng những cung chính và cũng tùy theo Đại vận nữa. Một trong những cách giải đoán vận hạn một năm là nhập các sao Tiểu Vận và Đại Vận vào mà giải đoán.
Khi xem hạn cần phải xem Lưu Niên Đại Vận nữa. Lưu Đại Vận là một cung cho biết cái hướng của vận hạn trong năm đó và tính từ gốc Đại vận giống như người tài xế lai xe hay dở thế nào. Vậy phải nhập cung Lưu Niên Đại Vận vào mà giải đoán. Xem Lưu Đại Vận cũng phải đủ cung chính và 3 cung xung hợp chiếu. Khi phối hợp Tiểu Vận một năm với Lưu niên Đại Vận một năm để xem. Tiểu vận một năm cho biết diễn biến của sự việc, còn Lưu Niên Đại Vận cho biết kết quả của sự việc.
Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018
Tạp ghi 1 số cách xem vận khác, và xem vận tháng
+, Tiểu vận thì xem trọng cung vị do vậy tiểu vận khi xem thì trọng ở cung nó đóng. Tiểu vận đến cung nào thì năm đó có liên quan mật thiết đến cung đó. và đặc biệt chú ý đến các sao được an theo Địa chi. ví dụ tiểu vận vào cung Tài thì năm đó có liên quan đến tiền bạc, nếu Cung Tài có Thiên không thủ thì năm đó dễ mất rất nhiều tiền hay làm ăn thất bại, tiểu hạn vào cung Tật mà có Kiếp sát (được an theo Tam hợp năm sinh) thì rất dễ có tai nạn, tật bệnh, hình thương.
+, Lưu thái tuế là chúa tể của một năm nên chỉ xem Cát Hung. khi xem Lưu thái tuế cần đặc biệt chú ý đến Tứ hoá đại vận, Lưu Kình Đà đại vận, Tứ hoá Can năm hạn và lưu kình đà năm hạn, có cậu "Thái tuế nhờ Kình Đà mà dẫn động lưu hành". Lưu thái tuế mang tính động, là vua của 1 năm, nắm quyền sinh sát, gặp Cát thì tất cát, gặp hung thì rất hung, nếu là Cát thì càng Cát, nhưng bình thường cung đó cát lợi, mà lưu thái tuế đến cung đó, có thêm lưu hóa lộc nữa thì là một năm rất hanh thông, ngược lại cung đó xấu mà có thêm hóa kỵ thì cực xấu. Lưu thái tuế ngoài phát động còn có tính chất phóng đại vận hạn tốt xấu.
+, lưu niên đại vận xem cát hung cụ thể của Đại vận, nên cần phối lưu niên đại vận và đại vận.
Ví dụ:
Trên lá số nguyên thủy thì lưu thái tuế vào cung phụ mẫu, nên sẽ có 2 thứ 1 ứng vào Phụ mẫu. 2 nếu cung đó cũng đồng thời là cung lưu phu thê (tính theo di cung, của lưu niên đại vận), thì cũng có thể ứng phu thê nữa, hoặc ứng cả 2. đồng thời cung lưu phu thê cũng xung cung lưu quan, rồi tam hợp với lưu Di, lưu Phúc. nên có thể ứng vào bản thân mình như mất nhiều tiền, công việc kém sút. rồi cung phụ mẫu cũng xung với cung Tật, thì có thể năm đó mình bị bệnh....luận số vận hạn là rất linh hoạt, không thể theo 1 cách được.
+, Sách Tử vi Đẩu số Toàn thư viết "đại vận phát từ Trường sinh đến Đế vượng, rồi lại phát từ Thai đến Trường sinh", cho nên Đại vận suy kém từ Suy đến Tuyệt. vòng trường sinh biểu diễn biến hóa của ngũ hành nạp âm Cung An mệnh, nên nó giống như vòng đời sinh lão bệnh tử của con người. cho nên Đại vận từ Sinh đến Vượng là phát, từ Suy đến Tuyệt là dễ phá bại.
+ Vòng trường sinh dùng để định mạnh yếu của Cách Cục, như Tử Phủ Vũ Tướng mà ở nơi Thai, Mộc dục thì kém hẳn ở Đế Vương hay Quan đới. đó là định vị mạnh yếu của Cách Cục. trong luận đoán đê dễ dàng chỉ cần nhìn vị trí Vòng Trường sinh cùng Cách cục và tứ hóa đại vận + kình đà lộc tồn là được.
+, Lưu thái tuế là chúa tể của một năm nên chỉ xem Cát Hung. khi xem Lưu thái tuế cần đặc biệt chú ý đến Tứ hoá đại vận, Lưu Kình Đà đại vận, Tứ hoá Can năm hạn và lưu kình đà năm hạn, có cậu "Thái tuế nhờ Kình Đà mà dẫn động lưu hành". Lưu thái tuế mang tính động, là vua của 1 năm, nắm quyền sinh sát, gặp Cát thì tất cát, gặp hung thì rất hung, nếu là Cát thì càng Cát, nhưng bình thường cung đó cát lợi, mà lưu thái tuế đến cung đó, có thêm lưu hóa lộc nữa thì là một năm rất hanh thông, ngược lại cung đó xấu mà có thêm hóa kỵ thì cực xấu. Lưu thái tuế ngoài phát động còn có tính chất phóng đại vận hạn tốt xấu.
+, lưu niên đại vận xem cát hung cụ thể của Đại vận, nên cần phối lưu niên đại vận và đại vận.
Ví dụ:
Trên lá số nguyên thủy thì lưu thái tuế vào cung phụ mẫu, nên sẽ có 2 thứ 1 ứng vào Phụ mẫu. 2 nếu cung đó cũng đồng thời là cung lưu phu thê (tính theo di cung, của lưu niên đại vận), thì cũng có thể ứng phu thê nữa, hoặc ứng cả 2. đồng thời cung lưu phu thê cũng xung cung lưu quan, rồi tam hợp với lưu Di, lưu Phúc. nên có thể ứng vào bản thân mình như mất nhiều tiền, công việc kém sút. rồi cung phụ mẫu cũng xung với cung Tật, thì có thể năm đó mình bị bệnh....luận số vận hạn là rất linh hoạt, không thể theo 1 cách được.
+, Sách Tử vi Đẩu số Toàn thư viết "đại vận phát từ Trường sinh đến Đế vượng, rồi lại phát từ Thai đến Trường sinh", cho nên Đại vận suy kém từ Suy đến Tuyệt. vòng trường sinh biểu diễn biến hóa của ngũ hành nạp âm Cung An mệnh, nên nó giống như vòng đời sinh lão bệnh tử của con người. cho nên Đại vận từ Sinh đến Vượng là phát, từ Suy đến Tuyệt là dễ phá bại.
+ Vòng trường sinh dùng để định mạnh yếu của Cách Cục, như Tử Phủ Vũ Tướng mà ở nơi Thai, Mộc dục thì kém hẳn ở Đế Vương hay Quan đới. đó là định vị mạnh yếu của Cách Cục. trong luận đoán đê dễ dàng chỉ cần nhìn vị trí Vòng Trường sinh cùng Cách cục và tứ hóa đại vận + kình đà lộc tồn là được.
+, Đại vận chính là "lưu mệnh" hay dòng thời gian của cuộc đời trôi về đó. Cung Mệnh ảnh hưởng trực tiếp xuyên suốt cuộc đời, cho nên những gì có ở Cung Mệnh sẽ được biểu hiện ở vận hạn. ví dụ một người có số đi tù, thì chỉ đi tù trong khoảng nào gian nào đó, ta nhìn Cung Mệnh có cách đi tù, đến Đại Vận có cách đi tù thì ứng nghiệm sẽ đi tù ở vận này, Đại vận có cách đi tù đến Tiểu vận cũng có cách đi tù thì nhất định sẽ đi tù năm đó. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của việc xem Vận hạn. một người có số Thương tật do tai nạn thì cung mệnh và Cung Tật có cách hình thương, đến Đại vận cũng có cách hình thường thì ứng vào đại vận này, xem xét Tiểu vận có cách hình thương luôn thì nhất định tiểu vận sẽ ứng.
+ Đại vận chính là Lưu cung Mệnh, cho nên xem đại vận cũng giống như xem cung mệnh. Cần phải xem Cách Cục đại vận giống như cung Mệnh vậy. Đại vận thì có Can đại vận, lưu Thái Tuế thì có Can năm, như vậy về cơ bản 12 năm lặp lại như Can đại vận và Can Năm hạn là khác nhau, từ đó tính chất Cát Hung của Thái Tuế cũng thay đổi, Tứ Hóa Phái đã nói rất hay về vận hạn cát hung bằng Tứ hóa. ngoài ra có thể theo Trung Châu Tam Hợp Phái luận đoán.
-------------------------------
Có 1 số quan điểm về cách chuyển vận của lưu niên tiểu vận tính theo ngày tháng năm sinh
Tính năm tiểu vận chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày sinh của cá nhân, trước ngày sinh chưa được tính là nhập vận - đây là chìa khoá quan trọng trong Tửvi Trong sách vở hiện nay, chưa sách nào chỉ ra cách tính tiểu vận đúng, tất cả đều tính theo cách thông thường, ví dụ, người sinh 15/12/Tân dậu (1981) – nam giới, theo cách tính từ truớc đến nay đều cho rằng năm Ât dậu (2005) tiểu vận sẽ nằm ở cung Mùi, nhưng như vậy là sai lầm. Chỉ khi thực sự thành hình thì con người mới hội tụ đủ ngũ hành và chịu sự tác động của những quy luật tự nhiên và xã hội, nên đến ngày 15/12/ Ất dậu (2005) thì mới đủ 25 tuổi và khi đó vận mới nhập vào cung Mùi. Từ trước ngày 15/12/ Ât dậu vẫn thuộc Tiểu vận ở cung Ngọ. Tiểu vận chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày sinh của cá nhân, trước ngày sinh chưa được tính là nhập vận. Ví dụ: người sinh tháng 6 âm, nửa đầu tiểu hạn năm nay ở tỵ, có lộc tồn chiếu thì phải tốt. Qua tháng 6 vận chạy qua ngọ, bị lưu kình chiếu và các sao ở ngọ thì phải khác.
(trùng kiến thức được chia sẻ bởi lethanhnhi: 1,vấn đề lưu niên và tiểu hạn;sang năm mới là dùng can chi năm an lưu niên thái tuế và các sao lưu, nhưng đúng sinh nhật thì mới thay cung tiểu hạn. 2, mọi người hay nhắc đến lưu tứ hóa nhưng ít thấy ai nhắc tới lưu lộc tồn và kình đà của đại hạn, mà Liễu Vô cực kì chú trọng. 3, Dùng tiểu hạn hay lưu niên 1 trong 2 là đủ, dùng lưu niên thì đơn giản chính xác, dùng tiểu hạn thì trọng sao mà bàn cụ thể. 4. XEM VẬN THÁNG, SAO ĐẨU QUÂN CÒN GỌI LÀ NGUYỆT TƯỚNG,TỨC LÀ LÀM CHỦ THÁNG. việc tìm lưu Đẩu Quân không chỉ để tìm tháng giêng xem vận tháng, mà cung lưu Đẩu Quân cũng được khá nhiều tác giả chú trọng khi xem hạn một năm. Lưu Đẩu Quân an tại cung nào, tất sự kiện cung đó động, có sự kiện nổi bật; dùng nguyệt hạn và dùng luôn 9 sao phi tinh (sao lưu) của năm, nếu nó chạm vào tháng nào thì tháng đó dính. Ngoài ra xem các sao trong tháng đó, đây là kinh nghiệm tính vận tháng = trùng kiến thức của anh Long)
NẾU TRỌNG TỨ HÓA DỤNG THẦN THÌ KHÔNG CẦN 108 SAO, NHÌN THẾ ĐỨNG MÀ ĐỌC RA ĐƯỢC. CÒN DÙNG SAO THÌ BẢN CHẤT SAO ĐÃ NÓI NÊN TẤT CẢ RỒI. ĐÂY LÀ 2 CÁCH GIẢI 1 BÀI TOÁN, KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LÀM CẢ 2, VÀ ĐÔI KHI CHÍNH CÁCH DÙNG CỔ ĐIỂN NHƯ CÁC CỤ NGÀY XƯA LẠI HAY.
------------------------------
LUU THAI TUE LA THIEN THOI. LUU TIEU HAN LA DIEN BIEN (ĐỊA LỢI + NHÂN vì thuận nghịch theo nam nữ); KET QUA LA LUU NIEN DAI HAN (Nhân, vì lưu mệnh về đó)
-------------------------------
Có 1 số quan điểm về cách chuyển vận của lưu niên tiểu vận tính theo ngày tháng năm sinh
Tính năm tiểu vận chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày sinh của cá nhân, trước ngày sinh chưa được tính là nhập vận - đây là chìa khoá quan trọng trong Tửvi Trong sách vở hiện nay, chưa sách nào chỉ ra cách tính tiểu vận đúng, tất cả đều tính theo cách thông thường, ví dụ, người sinh 15/12/Tân dậu (1981) – nam giới, theo cách tính từ truớc đến nay đều cho rằng năm Ât dậu (2005) tiểu vận sẽ nằm ở cung Mùi, nhưng như vậy là sai lầm. Chỉ khi thực sự thành hình thì con người mới hội tụ đủ ngũ hành và chịu sự tác động của những quy luật tự nhiên và xã hội, nên đến ngày 15/12/ Ất dậu (2005) thì mới đủ 25 tuổi và khi đó vận mới nhập vào cung Mùi. Từ trước ngày 15/12/ Ât dậu vẫn thuộc Tiểu vận ở cung Ngọ. Tiểu vận chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày sinh của cá nhân, trước ngày sinh chưa được tính là nhập vận. Ví dụ: người sinh tháng 6 âm, nửa đầu tiểu hạn năm nay ở tỵ, có lộc tồn chiếu thì phải tốt. Qua tháng 6 vận chạy qua ngọ, bị lưu kình chiếu và các sao ở ngọ thì phải khác.
(trùng kiến thức được chia sẻ bởi lethanhnhi: 1,vấn đề lưu niên và tiểu hạn;sang năm mới là dùng can chi năm an lưu niên thái tuế và các sao lưu, nhưng đúng sinh nhật thì mới thay cung tiểu hạn. 2, mọi người hay nhắc đến lưu tứ hóa nhưng ít thấy ai nhắc tới lưu lộc tồn và kình đà của đại hạn, mà Liễu Vô cực kì chú trọng. 3, Dùng tiểu hạn hay lưu niên 1 trong 2 là đủ, dùng lưu niên thì đơn giản chính xác, dùng tiểu hạn thì trọng sao mà bàn cụ thể. 4. XEM VẬN THÁNG, SAO ĐẨU QUÂN CÒN GỌI LÀ NGUYỆT TƯỚNG,TỨC LÀ LÀM CHỦ THÁNG. việc tìm lưu Đẩu Quân không chỉ để tìm tháng giêng xem vận tháng, mà cung lưu Đẩu Quân cũng được khá nhiều tác giả chú trọng khi xem hạn một năm. Lưu Đẩu Quân an tại cung nào, tất sự kiện cung đó động, có sự kiện nổi bật; dùng nguyệt hạn và dùng luôn 9 sao phi tinh (sao lưu) của năm, nếu nó chạm vào tháng nào thì tháng đó dính. Ngoài ra xem các sao trong tháng đó, đây là kinh nghiệm tính vận tháng = trùng kiến thức của anh Long)
NẾU TRỌNG TỨ HÓA DỤNG THẦN THÌ KHÔNG CẦN 108 SAO, NHÌN THẾ ĐỨNG MÀ ĐỌC RA ĐƯỢC. CÒN DÙNG SAO THÌ BẢN CHẤT SAO ĐÃ NÓI NÊN TẤT CẢ RỒI. ĐÂY LÀ 2 CÁCH GIẢI 1 BÀI TOÁN, KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LÀM CẢ 2, VÀ ĐÔI KHI CHÍNH CÁCH DÙNG CỔ ĐIỂN NHƯ CÁC CỤ NGÀY XƯA LẠI HAY.
------------------------------
LUU THAI TUE LA THIEN THOI. LUU TIEU HAN LA DIEN BIEN (ĐỊA LỢI + NHÂN vì thuận nghịch theo nam nữ); KET QUA LA LUU NIEN DAI HAN (Nhân, vì lưu mệnh về đó)
LNĐV, LNTV, LTT là tam tài thiện địa nhân
---------------------------
Tinh đồ tùy thời mà mạnh yếu khác nhau. Có khi Tử vi là cực phẩm, có lúc Cự Môn mới huy hoàng. Được thời Thái Dương tỏa hào quang, gặp vận Thất Sát thành tượng đài bất diệt. Nhưng chung quy lại, điểm hơn thua được mất của lá số chính là nằm ở Khát vọng. Tôi tạm gọi đó là điểm G.
Khát vọng của Đồ hình chính là ở các vị trí mạnh nhất của tinh bàn.
Khát vọng của Tứ hóa mạnh nhất ở thời Lộc Quyền hội.
Khát vọng của Tràng sinh chính là ở thời Tràng Sinh
Khát vọng của Thái Tuế nằm nơi tam hợp Thái Tuế.
Khát vọng của tình yêu nằm nơi Đào Hồng Hỉ
Khát vọng của siêu thoát nằm nơi không vong.
Khát vọng của những Khát vọng nằm ở chính Sát tinh.
Khát vọng của ám bại chính là: Điểm dối lừa.
---------------------------
Tinh đồ tùy thời mà mạnh yếu khác nhau. Có khi Tử vi là cực phẩm, có lúc Cự Môn mới huy hoàng. Được thời Thái Dương tỏa hào quang, gặp vận Thất Sát thành tượng đài bất diệt. Nhưng chung quy lại, điểm hơn thua được mất của lá số chính là nằm ở Khát vọng. Tôi tạm gọi đó là điểm G.
Khát vọng của Đồ hình chính là ở các vị trí mạnh nhất của tinh bàn.
Khát vọng của Tứ hóa mạnh nhất ở thời Lộc Quyền hội.
Khát vọng của Tràng sinh chính là ở thời Tràng Sinh
Khát vọng của Thái Tuế nằm nơi tam hợp Thái Tuế.
Khát vọng của tình yêu nằm nơi Đào Hồng Hỉ
Khát vọng của siêu thoát nằm nơi không vong.
Khát vọng của những Khát vọng nằm ở chính Sát tinh.
Khát vọng của ám bại chính là: Điểm dối lừa.
Thứ Hai, 10 tháng 9, 2018
Sưu tầm quan điểm phép lưu cung trong đoán hạn của tác giả vuivui
Di cung và lưu tứ hoá xưa như trái đất. Người nào không biết, ấy chỉ là do không có hoặc chưa có duyên với nó mà thôi. Tôi thì từ xưa tới nay, luận tử vi, lúc nào mà chả dùng đến chúng.
Nó không những đơn giản mà còn đầy khiếm khuyết, cần phải được nhiều phương pháp khác bổ trợ một cách trực tiếp. Nói một cách đơn giản nhất, sự phối hợp, chẳng hạn như: phối phép lưu cung với phép lưu thái tuế và các sao lưu.
Trước hết nói về Đại vận 10 năm.
Nếu không lý đến vận trình, rõ ràng cung an mệnh, đúng là cung an mệnh của lá số xác định toàn bộ cuộc đời. Nói cách khác, cung an mệnh là một cung cuộc đời. Phải chăng, cung mà đại vận 10 năm nó nhập sẽ là cái gì?. Câu trả lời sẽ rất tự nhiên, nó chính là Cung Vận đại diện cho cung an Mệnh khi Mệnh "trôi" tới đó - đó là Mệnh Vận. Vây thì, khi mệnh trôi, tức là mệnh vận dịch chuyển, thì chẳng có lý do gì ngăn cản các cung khác không dịch chuyển theo theo cái thế tương quan bắt buộc. Theo lẽ đó, khi có mệnh vận, đương nhiên tương ứng sẽ có 11 cung vận là phụ mẫu vận, phúc vận, điền vận,....
Nếu chỉ dừng tới đại vận 10 năm. Sẽ rất là đơn giản, và cũng chẳng có gì đáng phải bàn. Vấn đề sẽ phức tạp hơn ở chỗ, khi ta xét đến vận lưu niên, rồi ứng dụng nó để đoán vận. Bởi vì khi xét vận lưu niên, chúng ta có ba cung: lưu niên đại vận, lưu niên tiểu vận và cung lưu thái tuế an vị. Có câu hỏi tự nhiên bật ra: Vậy trong ba cung này, cung nào sẽ là Mệnh vận lưu niên đây?
Thực ra câu trả lời này rất dễ, và cũng rất tự nhiên. Đó chính là cung Đại vận lưu niên (= Lưu mệnh/mện vận lưu niên). Cái lý rất đơn giản, bởi vì nó được khởi từ đại vận 10 năm tính đi. Khi cung đại vận lưu niên xuất hiện, bây giờ ta gọi là mệnh vận lưu niên cũng được. Đương nhiên, các cung lưu niên cũng sẽ xuất hiện theo đó. Có người nói rằng, xem như vậy thì dường như mỗi hạn ta đều có một lá số mới chồng lên lá số cũ. Mà muốn xem tới vận lưu niên, tức là ta đã có ba lá số chồng lên nhau. Đó là các lá số: Lá số đầu tiên là lá số tổng quát, lá số thứ hai là lá số lưu đại vận 10 năm, lá số thứ ba là lá số đại vận lưu niên. Cùng với nó có tiểu vận lưu niên và cung có thái tuế nhập. Thêm bao nhiêu sao lưu nữa thì... chúng ta sẽ tá hỏa bởi chỉ mới đoán đến vận lưu niên thôi mà đã quá ư là phức tạp. Làm sao xử lý được tới ba lá số chồng đống lên nhau. Rồi các sao sẽ được an vị thế nào?. Tại sao khi lá số lưu xoay chuyển như thế mà các sao lại "đứng ỳ ra đó", chỉ có một số sao là dịch chuyển, đó là các sao lưu mà thôi?.
Thực ra không phải như vậy. Đó là bởi vì, chúng ta đã có ý niệm sai ngay từ đầu rằng kết quả giải đoán đến vận lưu niên là đã có ba lá số chồng lên nhau. Cũng như bài toán lưu cung. Việc chứng minh hoàn toàn không đơn giản. Nhưng chúng ta có thể tạm đồng ý với nhau bởi vì những lý do sau:
- Lý, mệnh và vận phân ly. Theo ý kiến này, sự thiết lập ba lá số chồng lên nhau là tự nhiên, từ đó đương nhiên, người ta có thể xét chỉ một lá số lưu cuối cùng mà thôi. Nhưng sẽ khiên cưỡng, bởi vì từ đó phải tuyệt đối an sao lưu toàn bộ. Nhưng với những sao an theo năm thì còn có thể. Những sao an theo tháng, ngày giờ thì lấy cái gì để an đây?. Chả nhẽ lại suy từ ngũ hành của cung an mệnh vận?. Đây là điều bất khả do tính đa trị của nó, cũng như về lý rất khiên cưỡng.
- Lý, mệnh vận liên kết. Sẽ đưa tới sự lược bỏ rất lớn đối với các lá số lưu, khiến chúng ta, suy cho cùng kỳ lý – bởi sự không nắm được bản chất cấu trúc của tử vi – thì sẽ lược bỏ vô tội vạ, cuối cùng thì chẳng có một lá số lưu nào cả, hay chỉ là những cung lưu về mặt hình thức mà thôi.
Nhưng thực tế thì, cả hai lý trên đều đúng. Có điều, nghiêng hẳn bất cứ về cái lý nào, cũng đều cực đoan cả. Trong tử vi luận, khác với lý luận hay lô gíc thông thường của khoa học là khi suy luận giải các bài toán khoa học, người ta thường "làm quá" các giả thiết, hay các chứng cứ, cũng như điều kiện của bài toán để tìm ra lời giải của bài toán, thì tử vi luôn không được phép làm như vậy. Tại sao vậy. Giải thích nôm na rằng làm như vậy là vi phạm cái lý âm dương. Nhưng để hiểu được thì không đơn giản tý nào.
Quay trở lại hai lý trên, chúng ta đương nhiên phải chọn giải pháp "trung dung". Nhưng trung dung tới mức độ nào, lại còn phụ thuộc vào trình độ của tử vi gia. Ở trình độ này, người giải sẽ phải vận dụng thêm nhiều phép phối hợp khác. Một trong các phép đó, chính là bên cạnh lưu cung còn có lưu sao ( 9 sao lưu). Nên nhớ, cung tiểu hạn lưu niên và lưu thái tuế là do tự thân nó có, chứ không phải là sự phối hợp thêm do yêu cầu của bài toán lưu cung.
Theo lý đó, tử vi gia phải thiết lập một sự phối hợp sao cho việc giải đoán các biến cố sao cho biến cố được giải đoán phải có những biến cố không được phép xảy ra nhiều lần trong đời.
Kết luận: tiểu vận lưu niên không phải là mệnh vận lưu niên, mà chỉ có đại vận lưu niên mới là mệnh vận lưu niên mà thôi.
Vậy luận cách từ mệnh vận cho thông tin của mệnh trong vận đó, vậy thì luận cách cục từ LNTH và Thái tuế thì cho ra thông tin về cái gì?.
Đây là câu hỏi tự nhiên, nhưng là câu hỏi mang tính chất rất trừu tượng, do đó mà câu trả lời cũng không thể hy vọng có tính chất rạch ròi, như hai chia hai bằng một được. Ta nên hiểu như thế này.
Phàm những gì được giải đoán từ lá số tất thảy đều thuộc về những biến cố cuộc đời của đương số. Đoán về mệnh vận dài hạn, cũng như mệnh vận ngắn hạn. Có khi đều cho ra những biến cố cụ thể, mà những biến cố đó chỉ xảy ra trong thời gian một năm, thậm chí còn thời gian ít hơn một năm, nghĩa là chỉ vài tháng thôi. Nhưng cho dù chỉ là vài tháng, chúng ta cũng chỉ thấy nó thể hiện trong đại vận 10 năm, vậy mà trong vận một năm hay nhiều năm trong đại vận đó lại chẳng thấy nó xảy ra. Nhưng rồi trong một năm nào đó, và trong năm đó, chỉ có vài tháng là xảy ra. Chúng ta nói rộng ra cho dễ hiểu, chẳng hạn có số nào đó bị tù đày, nhìn trên số tổng quát thấy rõ là số bị tù. Nhưng trong thực tế thì người có số chỉ bị tù vài năm thôi, chứ không bị tù cả đời. Và vài năm đó chỉ xảy ra trong đại vận nhất định nào đó mà thôi. Đó là một thực tế không thể phủ nhận được. Cho nên mới có câu hỏi: Số bị tù, nhưng khi nào mới bị tù?.
Đấy là nói về vận. Còn với LNTH và Lưu thái tuế thì hiểu thế nào?.
Trên tinh thần hiểu như trên khi nói tính tương đối của Vận, thì cái gọi là thông tin từ LNTH và LTT cũng là thông tin về Mệnh tại vận đó. Một sự tổng hợp thông tin có được từ cả ba cung đó, sẽ cho ta một bức tranh toàn diện hơn về các biến cố đối với mệnh trong bối cảnh toàn diện của các quan hệ mọi mặt của đời sống, hơn là khi mà ta chỉ khu trú, giới hạn trong việc xét thông tin mỗi một cung vận của mệnh. Vì thế, khi thấy một cách cục trong một cung, không nên võ đoán vội ra tiêu chí ngay, mà phải xem xét trên tổng thể, nếu thấy chúng xuất hiện với tần xuất nhiều lần thì tiêu chí, hay biến cố sẽ càng chắc chắn xảy ra. Thay vì chỉ có một lần xuất hiện ở một cung, mệnh vận lưu niên chẳng hạn, thì không nên vội kết luận. Điều này càng có ý nghĩa trong hóa giải. Chẳng hạn như mệnh vận lưu niên thấy tai nạn giao thông xảy ra, nhưng tiểu hạn lưu niên lại thấy được hóa giải và lưu thái tuế lại thấy chẳng hạn như vợ con yên bình thì có thể đoán quyết là tai nạn sẽ không xảy ra, mà chỉ hú hồn thôi, hoặc giả tai nạn có xảy ra nhưng nhẹ và được cứu thoát kỳ lạ,... Cho nên gặp những trường hợp đó rất khó nói ra, bởi khi nói ra rất dễ làm trò cười cho thiên hạ nghe giải đoán, hoặc lại bị cho là hù dọa lấy tiền, lấy danh,... mà không nói ra thì...đáng tiếc những trường hợp như thế lại gặp rất nhiều trong giải số.
------------------------------------------
Tuổi Canh thì tứ hóa sẽ là: Nhật - Vũ - Âm - Đồng, mà không phải là Nhật, Vũ, Đồng, Âm. Tuổi Nhâm là Lương - Vi - Thiên phủ - Vũ khúc. chứ không phải là Lương, Vi, Tả phù, Vũ khúc.
Tứ hóa, đơn giản chỉ là Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ Khí mà thôi. Không cần thiết phải vễ vời nào là cho rằng Lộc là hóa khí của mùa xuân, quyền là hóa khí của mùa hạ, khoa là hóa khí của mùa thu, kỵ là hóa khí của mùa đông. Để rồi từ đó tìm những tính chất của bốn mùa mà ghép cho tứ hóa. Từ đó dẫn tới nhiều tính lý của tứ hóa "lạ lẫm" mà người ta cứ thản nhiên chấp nhận.
phép thái tuế nhập quái cũng thế. Có rất nhiều khuyết tật. Thực chất, muốn dùng chuẩn phép này, phải thông tỏ phép chồng số và quay số. Nếu nhìn theo quan điểm toán học, thì phép thái tuế nhập quái chỉ là phép gần đúng thô nhất có thể có của phép chồng chập lá số mà thôi. Ví như 2,6 mà làm tròn số thành 3 vậy.
Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018
Xem vận bằng tứ hóa, và quan điểm về lưu cung đại vận - Alexphong
Tứ hóa như công cụ hữu ích tuy nhiên, sách vở hệ thống hiện nay quá rắc rối rườm rà. Người xem tứ hóa cần hiểu rằng tứ hóa là công cụ xem vận, chứ không thể vượt qua hoàn toàn kết cấu của lá số tĩnh.
Xem vận bằng tứ hóa có ưu điểm là rõ ràng không mập mờ. Hóa là hóa mà không hóa là không hóa. Kị là Kị mà Lộc là Lộc. Hội tụ là hội tụ mà phân tán là phân tán. Nhưng cần có những yếu lĩnh để phân tách rạch ròi có và không. Những kiến thức mang tính gây rối nhập nhèm cần phải loại trừ. Ngoài bốn yếu lĩnh dưới đây còn vô khối các kĩ pháp thiện xảo khi vận dụng, ví dụ như Hóa Quyền là rất ham muốn, đóng điền trạch là muốn xây nhà mua đất. Nhưng những kí xảo đó chỉ có ích khi người học nắm được cơ bản.
1. Mệnh là mệnh, vận là vận:
Có nghĩa là loại bỏ tất cả những cung quan đại vận, cung quan lưu niên, hay 12 cung lưu theo vận. Chỉ có 12 cung nguyên thủy, duy nhất và vĩnh hằng. 12 cung này là 12 hay yếu tố tĩnh tại của lá số chờ đón cơn mưa tứ hóa rơi xuống. Vì trên thực tế xem số, nhận thấy lưu 12 cung không mang lại hiệu quả rõ nét, trái lại chỉ gây rối thêm cho người xem. Và tứ hóa của lưu niên tương tác mạnh mẽ tới cung vị nguyên thủy. Ví dụ cung quan nguyên thủy có Tham Lang, năm Quý Tham Lang hóa Kị nhập cung quan nguyên thủy tương tác xảy ra rõ rệt chứ chẳng hề phải theo tầng theo bậc như sách vở ghi lại. Cho nên cân nhắc, ngẫm nghĩ mãi thấy rằng chân lý ở sự tối giản. Tất cả lưu cung đều là man thư rác rưởi của bọn hàn lâm suông để lại. Cần phải loại bỏ như vén mây cho người học thấy mặt trời để nhìn đường mà đi.
2. Xung là xung, thủ là thủ:
Tứ hóa khi xung và khi thủ có tác dụng đặc biệt khác nhau. Hóa Kị xung vận là đại họa nhưng Hóa Kị thủ vận thì êm đềm. Đây là điều nghìn năm Nam phái chưa bao giờ biết.
3. Tam Kị hội đại hung, lưỡng Kị hội thất nghiệp:
Kì thực, phép xem tứ hóa phong phú biến hóa. Ở đây chỉ đưa ra cách cục của tam Kị nhằm mục đích giúp người nghiên cứu đang bị hôn mê vì sao bay đầy trời thấy được lối ra. Sau này, tam Lộc hay tam Quyền đều có thể tự suy diễn, nhưng trước hết cứ nắm vững cách cục tam Kị. Nắm vững để mường tượng ra cách tứ hóa tương tác như thế nào. Nắm vững, để biết được trọng tâm mà phát lực thì đòn thế mới có hiệu quả.
Cách thứ nhất của tam Kị hội là cả ba Kị đồng cung. Cách thứ hai của tam Kị hội là 3 Hóa Kị (nguyên thủy, đại vận, lưu niên) xếp thành 3 cung liên châu, ví dụ thân dậu tuất thì năng lượng Hóa Kị dồn vào cung dậu. Cách thứ ba của tam Kị hội là hai Kị tam hợp, một Kị chính xung.
Cách lưỡng Kị là khi Hóa Kị tiểu vận tới xung Hóa Kị đại vận.
Xem tứ hóa tương tác cần chú ý trường hợp cung VCD và không có sao có khả năng hóa khí, khi đó nó lấy toàn bộ tứ hóa cung đối diện làm của mình. Ví dụ cung hợi VCD và không có sao có khả năng hóa khí như 14 chính tinh và Tả Hữu Xương Khúc, đối cung là Liêm Tham ở tị, thì khi Liêm Tham hóa Kị sẽ được cung hợi mượn về. Trường hợp này xung cũng như thủ.
Đó là các cách tập trung năng lượng của các Hóa Kị. Chung quy thì tử vi cũng là bài toán năng lượng. Năng lượng thì có hội tụ và phân tán. Khi năng lượng xấu hội tụ thì sự xấu phải xảy ra. Sự hội tụ tinh giản nhất là sự hội tụ từ ba con số, đó là tam tài thiên địa nhân. Tứ hóa nguyên thủy là thiên, tứ hóa đại vận là địa, tứ hóa lưu niên là nhân. Vấn đề còn lại là sự hội tụ đó nhắm vào đâu.
Tam Kị hội, nếu đả nhập những cung cốt lõi của lá số như mệnh tài quan tật thì sinh mệnh bị đe dọa ngàn cân treo sợi tóc. Ba cung mệnh tài quan như xương sống nối liền hộp sọ của cơ thể con người. Phân ra thì là quan lộc chủ danh chức, tài bạch chủ tiền tài, nhưng người xem cần có con mắt tổng quát hiểu rằng mệnh tài quan đều là đương số cả. Tam Kị đánh vào đó cũng như thiên địa nhân cùng đánh vào xương sống thì không chết mới là lạ.
Lưỡng Kị hội, nếu Hóa Kị đại vận nhập mệnh, Hóa Kị lưu niên đến xung thì năm đó tan nát sự nghiệp. Vì lưỡng Kị khi đó đánh vào trục mệnh di.
4. Cha xung con bình thường, con xung cha đại nghịch:
Câu này ví von để độc giả nắm được cách tương tác của hóa khi ba tầng: nguyên thủy, đại vận, lưu niên. Khi ta xét hội tụ như yếu lĩnh thứ ba nói trên, thì cứ gom vào ào ào cho dễ hiểu dễ học. Nếu mới học mà cân phân quá kĩ thì không nắm được tổng quát mà lại rơi rụng cơ bản. Kì thực, vũ trụ này có trật tự trên dưới to nhỏ.
Tứ hóa nguyên thủy xung đại vận hay nói cách khác đại vận đi đến nơi có tứ hóa nguyên thủy xung thì xấu. Xấu vì bị Hóa Kị xung nhưng sự xấu này trung bình, không phải là khủng khiếp. Điều này giống như Hóa Kị nguyên thủy nhập mệnh thì cũng xấu nhưng cái xấu đó như cái tật trên người mang theo cả cuộc đời. Giống như người mù bẩm sinh, xót xa thật nhưng đỡ xót xa hơn khi trưởng thành bị chọc mù mắt. Cái thằng chọc mù mắt đó chính là đại vận mang Hóa Kị đến xung, thằng đó phải chịu kết án hình sự.
Cho nên Hóa Kị đại vận đến nhập mệnh, rồi Hóa Kị lưu niên đến xung mệnh là đại kị. Tương tự như vậy, Hóa Kị lưu niên tới xung đại vận cũng là đại kị. Có thể nói đó là những sự kiện bề tôi chống vua, con bất hiếu với cha, đại nghịch vô đạo.
Yếu lĩnh dòng chảy trên dưới trước sau này đúng với tất cả các môn mệnh lý, chứ không chỉ tử vi. Ở đây, bút giả cũng chỉ vịn vào để nói rằng cái gì đúng thì phải đúng với mọi nguyên lý chung.
Xem vận bằng tứ hóa có ưu điểm là rõ ràng không mập mờ. Hóa là hóa mà không hóa là không hóa. Kị là Kị mà Lộc là Lộc. Hội tụ là hội tụ mà phân tán là phân tán. Nhưng cần có những yếu lĩnh để phân tách rạch ròi có và không. Những kiến thức mang tính gây rối nhập nhèm cần phải loại trừ. Ngoài bốn yếu lĩnh dưới đây còn vô khối các kĩ pháp thiện xảo khi vận dụng, ví dụ như Hóa Quyền là rất ham muốn, đóng điền trạch là muốn xây nhà mua đất. Nhưng những kí xảo đó chỉ có ích khi người học nắm được cơ bản.
1. Mệnh là mệnh, vận là vận:
Có nghĩa là loại bỏ tất cả những cung quan đại vận, cung quan lưu niên, hay 12 cung lưu theo vận. Chỉ có 12 cung nguyên thủy, duy nhất và vĩnh hằng. 12 cung này là 12 hay yếu tố tĩnh tại của lá số chờ đón cơn mưa tứ hóa rơi xuống. Vì trên thực tế xem số, nhận thấy lưu 12 cung không mang lại hiệu quả rõ nét, trái lại chỉ gây rối thêm cho người xem. Và tứ hóa của lưu niên tương tác mạnh mẽ tới cung vị nguyên thủy. Ví dụ cung quan nguyên thủy có Tham Lang, năm Quý Tham Lang hóa Kị nhập cung quan nguyên thủy tương tác xảy ra rõ rệt chứ chẳng hề phải theo tầng theo bậc như sách vở ghi lại. Cho nên cân nhắc, ngẫm nghĩ mãi thấy rằng chân lý ở sự tối giản. Tất cả lưu cung đều là man thư rác rưởi của bọn hàn lâm suông để lại. Cần phải loại bỏ như vén mây cho người học thấy mặt trời để nhìn đường mà đi.
2. Xung là xung, thủ là thủ:
Tứ hóa khi xung và khi thủ có tác dụng đặc biệt khác nhau. Hóa Kị xung vận là đại họa nhưng Hóa Kị thủ vận thì êm đềm. Đây là điều nghìn năm Nam phái chưa bao giờ biết.
3. Tam Kị hội đại hung, lưỡng Kị hội thất nghiệp:
Kì thực, phép xem tứ hóa phong phú biến hóa. Ở đây chỉ đưa ra cách cục của tam Kị nhằm mục đích giúp người nghiên cứu đang bị hôn mê vì sao bay đầy trời thấy được lối ra. Sau này, tam Lộc hay tam Quyền đều có thể tự suy diễn, nhưng trước hết cứ nắm vững cách cục tam Kị. Nắm vững để mường tượng ra cách tứ hóa tương tác như thế nào. Nắm vững, để biết được trọng tâm mà phát lực thì đòn thế mới có hiệu quả.
Cách thứ nhất của tam Kị hội là cả ba Kị đồng cung. Cách thứ hai của tam Kị hội là 3 Hóa Kị (nguyên thủy, đại vận, lưu niên) xếp thành 3 cung liên châu, ví dụ thân dậu tuất thì năng lượng Hóa Kị dồn vào cung dậu. Cách thứ ba của tam Kị hội là hai Kị tam hợp, một Kị chính xung.
Cách lưỡng Kị là khi Hóa Kị tiểu vận tới xung Hóa Kị đại vận.
Xem tứ hóa tương tác cần chú ý trường hợp cung VCD và không có sao có khả năng hóa khí, khi đó nó lấy toàn bộ tứ hóa cung đối diện làm của mình. Ví dụ cung hợi VCD và không có sao có khả năng hóa khí như 14 chính tinh và Tả Hữu Xương Khúc, đối cung là Liêm Tham ở tị, thì khi Liêm Tham hóa Kị sẽ được cung hợi mượn về. Trường hợp này xung cũng như thủ.
Đó là các cách tập trung năng lượng của các Hóa Kị. Chung quy thì tử vi cũng là bài toán năng lượng. Năng lượng thì có hội tụ và phân tán. Khi năng lượng xấu hội tụ thì sự xấu phải xảy ra. Sự hội tụ tinh giản nhất là sự hội tụ từ ba con số, đó là tam tài thiên địa nhân. Tứ hóa nguyên thủy là thiên, tứ hóa đại vận là địa, tứ hóa lưu niên là nhân. Vấn đề còn lại là sự hội tụ đó nhắm vào đâu.
Tam Kị hội, nếu đả nhập những cung cốt lõi của lá số như mệnh tài quan tật thì sinh mệnh bị đe dọa ngàn cân treo sợi tóc. Ba cung mệnh tài quan như xương sống nối liền hộp sọ của cơ thể con người. Phân ra thì là quan lộc chủ danh chức, tài bạch chủ tiền tài, nhưng người xem cần có con mắt tổng quát hiểu rằng mệnh tài quan đều là đương số cả. Tam Kị đánh vào đó cũng như thiên địa nhân cùng đánh vào xương sống thì không chết mới là lạ.
Lưỡng Kị hội, nếu Hóa Kị đại vận nhập mệnh, Hóa Kị lưu niên đến xung thì năm đó tan nát sự nghiệp. Vì lưỡng Kị khi đó đánh vào trục mệnh di.
4. Cha xung con bình thường, con xung cha đại nghịch:
Câu này ví von để độc giả nắm được cách tương tác của hóa khi ba tầng: nguyên thủy, đại vận, lưu niên. Khi ta xét hội tụ như yếu lĩnh thứ ba nói trên, thì cứ gom vào ào ào cho dễ hiểu dễ học. Nếu mới học mà cân phân quá kĩ thì không nắm được tổng quát mà lại rơi rụng cơ bản. Kì thực, vũ trụ này có trật tự trên dưới to nhỏ.
Tứ hóa nguyên thủy xung đại vận hay nói cách khác đại vận đi đến nơi có tứ hóa nguyên thủy xung thì xấu. Xấu vì bị Hóa Kị xung nhưng sự xấu này trung bình, không phải là khủng khiếp. Điều này giống như Hóa Kị nguyên thủy nhập mệnh thì cũng xấu nhưng cái xấu đó như cái tật trên người mang theo cả cuộc đời. Giống như người mù bẩm sinh, xót xa thật nhưng đỡ xót xa hơn khi trưởng thành bị chọc mù mắt. Cái thằng chọc mù mắt đó chính là đại vận mang Hóa Kị đến xung, thằng đó phải chịu kết án hình sự.
Cho nên Hóa Kị đại vận đến nhập mệnh, rồi Hóa Kị lưu niên đến xung mệnh là đại kị. Tương tự như vậy, Hóa Kị lưu niên tới xung đại vận cũng là đại kị. Có thể nói đó là những sự kiện bề tôi chống vua, con bất hiếu với cha, đại nghịch vô đạo.
Yếu lĩnh dòng chảy trên dưới trước sau này đúng với tất cả các môn mệnh lý, chứ không chỉ tử vi. Ở đây, bút giả cũng chỉ vịn vào để nói rằng cái gì đúng thì phải đúng với mọi nguyên lý chung.
Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018
Bí mật của tam hợp phái trong xem vận - Alexphong
Bí mật của tam hợp phái là gì ? Là Tam Hợp. Khi tiểu vận hay lưu thái tuế tam hợp với đại vận, hay chính xung với đại vận, thì năm đó xảy ra sự kiện quan trọng. Nguyên tắc đơn giản là sự cộng hưởng. Sự cộng hưởng của đại tiểu vận đủ mạnh để xảy ra sự kiện. Tiểu vận không tam hợp không chính xung với đại vận thì khi đó vẫn có thể xảy ra sự kiện, nhưng sự kiện đó không phải là nổi bật trong đại vận.
Có nghĩa là gì ? Có nghĩa là một đại vận không phải cường cung, sẽ xảy ra những sự kiện kém quan trọng trong đời người. Đại vận mệnh tài quan quan trọng hơn đại vận phúc di phối. Đại vận mệnh tài quan phúc di phối quan trọng hơn phụ tử nô điền tật bào. Vì đơn giản, đó là sự thuận lý âm dương với cung mệnh. Cùng tính âm dương thì chính là ta, trái tính âm dương thì không phải ta. Suy cho cùng, bản chất của tam hợp phái vẫn là âm tòng âm số mà dương hành dương cung.
Tứ mộ khởi biến hóa - Alexphong
Theo quy luật ngũ hành áp trên địa bàn. Tứ mộ là nơi ngừng nghỉ của năm hành. Không cần biết phương pháp gì, cách biện nào thì tứ mộ vẫn là nơi ngưng nghỉ của một hành nào đó, trước khi nó Tuyệt và trước khi hành khác sinh ra. Cho nên vận tứ mộ là vận thay đổi. Thay đổi có hai chiều hướng là từ tốt sang xấu và từ xấu sang tốt. Cho dù người mới học không rõ thay đổi đó là chiều hướng nào thì có thể nắm chắc một điều: tại vận tứ mộ phải có sự thay đổi. Ai đang đắp chăn ấm hãy lo ngại, ai đang co ro dưới gầm cầu hãy hi vọng. Đến tứ mộ đất trời cũng phải đổi thay chứ không nói con người.
Việt Nam đã có nhiều lần thay triều đổi đại vào năm Tuất. Kể cả không thay chiều đổi đại thì những năm thìn tuất cũng có sự kiện đáng kể.
Tiểu vận của nam giới trong tử vi luôn đi thuận. Cho nên những năm La Hầu Kế Đô Thái Bạch của nam giới là những năm tiểu vận rơi vào tứ mộ. Với dân gian mà nói phải ra chùa làm lễ giải hạn. Với nhà tử vi mà nói đó là những năm rơi vào tứ mộ. Không hẳn xấu nhưng phải có thay đổi. Nắm được vấn đề cơ bản này, sẽ giúp ích rất nhiêu cho người mới học xem số, kể cả những người xem lâu năm có tiêu chí để đối chiếu tránh được mông lung. Vì đời người nhiều lắm có hai lần trải qua đại vận tứ mộ.
Phép hội sao - Alexphong
Xét vòng Thái Tuế bạn thấy Tuế Phá luôn xung chiếu Thái Tuế, khi bạn ở Thái Tuế thì chẳng đời nào bạn chịu coi mình có Tuế Phá chiếu về. Khi bạn ở Tuế Phá chẳng thể nào bạn phủ nhận Tuế Phá mà vơ Thái Tuế. Như vậy rõ ràng hai vị trí này là khác nhau. Và rõ ràng là bạn không thể lấy sao chính xung về làm sao của mình được. Nếu coi xung như thủ thì chẳng ai phân ra Lộc Tồn chiếu Phi Liêm, chẳng ai phân ra Phục Binh chiếu Thiên Tướng, Bệnh chiếu Trường Sinh.
Nhưng tại sao trước giờ tam hợp phái lại ôm tất cả các sao xung chiếu cũng như tam chiếu về xét một mớ. Rõ ràng có gì đó không ổn, vì cách xét đó ít ra là sai với ba vòng Thái Tuế, Bác Sỹ và Trường Sinh.
Bây giờ xét tam hợp. Ba vị trí Sinh Vượng Mộ tam hợp với nhau. Nhưng Mộ là mộ, không thể coi là Trường Sinh, Sinh là sinh không thể coi là Đế Vượng. Như vậy Sinh Vượng Mộ cho bạn biết không thể nào xét tam hợp hổ lốn cá mè. Mà chính xác nhất phải xét sao thủ tại cung đó.
Đến đây bạn thừa nhận ít ra với 3 vòng cơ bản Thái Tuế Bác Sỹ Trường Sinh, không thể xét tam hợp cũng như xung chiếu làm sao của mình. Nếu cố tình làm vậy lập tức bị sai lạc.
Xét đến vòng chính tinh bạn thấy tương tự. Không thể nào ngồi ở cung Vũ Khúc bạn kéo Tử Vi tam chiếu về làm như là của mình, vì Tử Vũ Liêm vĩnh viễn tam hợp. Sát Phá Tham cũng vậy. Nói cách cục là để bạn hiểu tình thế của tinh bàn. Nhưng vô tình người xưa mập mờ làm bạn hiểu lầm phép tam chiếu và chính chiếu.
Đến đây lại có hai hướng:
1. Nếu mở rộng suy luận trên cho tất cả các sao, thì bạn chỉ có thể xem sao thủ cung để luận mà bỏ qua xung chiếu và tam hợp. Phép này cũng có lý cho cách xem hạn của nam phái. Đó là đến từng hạn, thì bạn phải gom từng cung lại và bức tranh dần hiện ra.
2. Phép hội sao trên chỉ có ý nghĩa với các vòng sao kín như Thái Tuế Bác Sỹ Trường Sinh, còn các sao đơn như Long Phượng Mã Đào Hồng Cái Tả Hữu đều có thể xung chiếu và tam chiếu, vì những sao đó không có các sao khác vĩnh viễn xung chiếu nó hoặc tam hợp nó. Ở đó là vị trí trống nên có thể chịu ảnh hưởng bởi xung chiếu và tam chiếu. Lập luận này cũng có lý, và từ đây bạn mở ra phép hội sao, biết sao nào chiếu được sao nào không.
Đến đây, bạn biết trong phép xem hạn của tam hợp phái hay nam phái, chỉ có một mình cung hạn được tính. Xem đại vận bạn có một cung, xem xuống tiểu vận bạn có 2 cung, xem đến tháng bạn có 3 cung. Cứ thể tổ hợp lại ra cách cục gì bạn chịu cách cục đó.
Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018
Cách xem vận trong tử vi của AlexPhong
Bài 1: Phát hiện quan trọng: tiểu vận có tác dụng lên tên cung hơn là thái tuế. Ví dụ tiểu vận đóng cung quan lộc thì năm đó công việc có biến chuyển. Thái tuế đóng đó thì chưa hẳn nha.
Thái tuế có tác động mạnh lên chính tinh cung nó đóng hơn là tên cung. Ví dụ cung điền có Thái Dương. Thái tuế đóng đó thì ảnh hưởng của Thái Dương lập tức phát huy. Chuyện điền trạch thì chưa chắc.
Lưu niên đại vận cho kết quả chung cuộc cả năm. Thành bại phải xem LNDV.
Nếu lười có thể nháng qua LNDV là có thể dự đoán kết cục. Ví dụ một năm mà Không Kiếp hãm rồi tóe loe hao bại xung quanh. Cho dù tiểu vận và thái tuế đẹp cũng không đến đâu. Kiểu được cấp trên hứa thật nhiều rồi thất hứa thật nhiều. Nhưng đừng dùng LNDV đoán tên cung. Nó có đóng vào phụ mẫu. Sự việc chưa chắc liên quan phụ mẫu.
Nhiều người xem tử vi lâu năm cũng không phân biệt được 3 loại vận này nên đành dự đoán cảm tính, sự mơ hồ thế nào không nói cũng biết
Bài 2: Xem vận bằng phương pháp nào thì cũng phải tuân theo tam tài: thiên địa nhân. Có nghĩa là phải công nhận rằng không có một yếu tố nào thay mặt được cho tất cả. Thiên phải làm việc của thiên, Địa và Nhân cũng phải tự đóng vai trò của mình, không nhờ ai được.
Năm tháng ngày giờ, thì năm là hàng thiên, tháng là hàng địa, ngày là hàng nhân. Giờ là hàng thiên lớp kế tiếp tức Hậu Thiên, trong khi năm là Tiên Thiên.
Nam phái xem vận dùng nhiều yếu tố như: đại vận, tiểu vận, lưu niên đại vận (LNĐV) và các sao lưu. Các sao lưu thuộc về Tuế, yếu tố khách quan tự nhiên, tồn tại độc lập với cấu trúc nội tại của lá số. Trong khi Vận, sinh ra từ nội hàm lá số. Tuế như hoàn cảnh, Vận như con người.
Theo thuyết tam tài nói trên, để định vị được một giá trị trong lá số, cần có ít nhất ba yếu tố độc lập. Nam phái có ba chữ vận: đại vận, tiểu vận, và LNĐV. Đại vận chủ Thiên, là gốc của sự việc, chủ sự lâu dài trong một giáp (10 năm). Tiểu vận chủ Địa, chủ quá trình của sự việc giống như quẻ Hỗ của bói Dịch. LNĐV chủ Nhân, cho biết kết quả của sự việc thành bại nặng nhẹ ra sao.
Tiểu vận là Địa, cho nên thường gắn với các tính từ mô tả như cát hung thuận lợi hay trắc trở. Cả quá trình từ nguyên nhân đến kết quả cho biết đầy đủ thông tin. Nhưng người đời thích chích kim thấy máu, chỉ quan tâm tới kết quả.
Muốn biết cuối cùng có cưới hay không, chứ không cần biết quá trình như nào. Nếu áp cách nhận định đó vào tam vận của tử vi thì khó tránh khỏi sai lầm. Cái kết quả nhân gian mong đợi phải rút ra từ cả ba vận.
Lấy ví dụ bằng quẻ Dịch cho dễ hiểu. Ví dụ: Truân biến thành Kí Tế, nghĩa là ban đầu khó khăn, rồi sau vượt qua. Tổng quát: vượt qua khó khăn. Nhưng Cách biến thành Kí Tế, lại có nghĩa là từ sự thay đổi ban đầu mà rồi thành công. Chẳng có khó khăn cái gì đây cả, đều do khi ghép với quẻ gốc mà sai khác ý nghĩa.
Cũng như vậy, khi LNĐV cho biết thông đắc lộc. Nhưng đại vận cho thấy sự bất ổn, không thực, hoặc ám muội, thì sự đắc lộc của LNĐV coi chừng chỉ như hoa nở cành khô. Ba bảy hai mốt ngày về với gió.
Bài 3: Địa chi cho biết cái gì. Thiên can cho biết như thế nào. Cho nên vận địa chi như lưu niên thái tuế và tiểu vận, dù xem cách nào cũng chỉ cho biết cái gì. Thiên can tứ hoá mới cho biết cát hung. Sự cát hung do tứ hoá biểu hiện cũng giản dị. Như đại vận cung mão của Mao Trạch Đông, mới nhìn thì Không Kiếp hãm địa VCD, nhưng đại vận có Lộc Quyền nguyên thuỷ và Lộc Quyền đại vận xung chiếu, đại vận đó thành công quyết định, đả bại Tưởng thống nhất Trung Hoa. Như số của Tôn dù có Hoả Linh Không Kiếp, có Lộc Quyền chuyển thành cát cách. Thành công trong con mắt người đời, đó là Lộc Quyền.
Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2016
Lưu thái tuế và lưu niên tiểu vận (1 cặp âm dương?)
Lưu niên tiểu vận được an bằng cách lấy năm sinh an vào mộ khố của tam hợp xung tam hợp tuổi. Tức là ngay từ thời điểm khai sinh, lưu thái tuế đã ký gửi chiếc xương sườn của mình vào nửa đối lập âm dương còn lại và tạo nên vòng quay của lưu niên tiểu vận. Nên Tạo hóa nhào nặn Adam, tức phải có Eva.
Kỹ thuật sử dụng lưu thái tuế thực ra phải đi cùng với cái lý của lưu niên tiểu vận mới kể hết câu chuyện. Khồng dùng mối liên kết này thì nhiều trường hợp như luận nam nữ mà không luận hôn nhân của họ nếu có. Nói tới thư hùng, tức là bàn về tính đối ngẫu của âm dương tương giao ( vì có cặp âm dương có thể không tương tác).
Nó có những ứng dụng vô cùng quan trọng để biết việc thành bại một năm là do nhân tố nào, và cường độ nặng nhẹ.
Khi rađa quét qua 12 cung, những điểm gồ ghề thường sẽ rung lắc bắt sóng mạnh nhất. Thú vị là chiếc rađa của lưu thái tuế cũng nhấp nháy âm dương ẩn hiện theo cung vị.
Nó tạo nên những đợt sóng đánh vỗ vào bờ và các chướng ngại có trọng lực.
Luận tiểu hạn, thường đi theo chuỗi sự kiện. Có những biến chỉ hiện ở khí, chưa thành hình năm này, vì là sóng ngầm dữ dội, nên nó sẽ có thời điểm chuyển thành Hình.
Như đứa trẻ mang thai hay hạt giống mới được thụ phấn và nằm im trong lòng đất, nó đã chứa toàn bộ dữ kiện quan trọng nhất của sự sống (ADN), thời điểm mọc thành cây chỉ chuyển thành Hình- khó phân biệt cát hung, còn cây tốt xấu có thể nằm ở ngay lúc tạo Khí.
"Lưu thái tuế vào cung nào thì cung đó phát động, nắm quyền thống lĩnh, chủ về phát xuất, nó không theo Âm Dương Nam nữ cho nên nó như là tài Thiên, cho nên Lưu niên xem cát hung. Tiểu Vân thì tuỳ vào Âm Dương Nam nữ mà Thuận nghịch thì nó có phần Nhân và Địa, cho nên Tiểu vận xem Cách cục Cung chức. Lưu niên đại vận là Lưu mệnh trong năm đó vì nó xuất phát từ đại vận cho nên nó là phần Nhân, lưu niên đại vận là mệnh - vân lưu niên xem về Cách Cục mệnh vận."
- St (ThienA, Kimca)
Kỹ thuật sử dụng lưu thái tuế thực ra phải đi cùng với cái lý của lưu niên tiểu vận mới kể hết câu chuyện. Khồng dùng mối liên kết này thì nhiều trường hợp như luận nam nữ mà không luận hôn nhân của họ nếu có. Nói tới thư hùng, tức là bàn về tính đối ngẫu của âm dương tương giao ( vì có cặp âm dương có thể không tương tác).
Nó có những ứng dụng vô cùng quan trọng để biết việc thành bại một năm là do nhân tố nào, và cường độ nặng nhẹ.
Khi rađa quét qua 12 cung, những điểm gồ ghề thường sẽ rung lắc bắt sóng mạnh nhất. Thú vị là chiếc rađa của lưu thái tuế cũng nhấp nháy âm dương ẩn hiện theo cung vị.
Nó tạo nên những đợt sóng đánh vỗ vào bờ và các chướng ngại có trọng lực.
Luận tiểu hạn, thường đi theo chuỗi sự kiện. Có những biến chỉ hiện ở khí, chưa thành hình năm này, vì là sóng ngầm dữ dội, nên nó sẽ có thời điểm chuyển thành Hình.
Như đứa trẻ mang thai hay hạt giống mới được thụ phấn và nằm im trong lòng đất, nó đã chứa toàn bộ dữ kiện quan trọng nhất của sự sống (ADN), thời điểm mọc thành cây chỉ chuyển thành Hình- khó phân biệt cát hung, còn cây tốt xấu có thể nằm ở ngay lúc tạo Khí.
"Lưu thái tuế vào cung nào thì cung đó phát động, nắm quyền thống lĩnh, chủ về phát xuất, nó không theo Âm Dương Nam nữ cho nên nó như là tài Thiên, cho nên Lưu niên xem cát hung. Tiểu Vân thì tuỳ vào Âm Dương Nam nữ mà Thuận nghịch thì nó có phần Nhân và Địa, cho nên Tiểu vận xem Cách cục Cung chức. Lưu niên đại vận là Lưu mệnh trong năm đó vì nó xuất phát từ đại vận cho nên nó là phần Nhân, lưu niên đại vận là mệnh - vân lưu niên xem về Cách Cục mệnh vận."
- St (ThienA, Kimca)
Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016
Cách xem hạn (tử vi ứng dụng)
trước tiên một vài vấn đề về phương pháp của Bửu Đình:
A. PHẦN I:
1. VỀ AN SAO:
1.1. Không sử dụng sao Thiên Không đứng trước Thái Tuế. Gọi sao Thiên Không chính là sao Địa Không như thuở ban đầu của Tử vi. Và không dùng các sao như Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh, Thiên Quang, Thiên Phúc....là các sao Tử vi Việt Nam thêm vào sau này.
1.2. Vòng Thái Tuế: sử dung đúng 2 bộ Tuế Hổ Phù và Tang Hư Khách các sao còn lại như Thiếu Dương, Thiếu Âm....không dùng.
1.3. Có sự khác biệt trong an bộ Khôi Việt, như sau: tuổi Giáp: Khôi (Sửu), Việt (Mùi), Ất: Khôi (Tý), Việt (Thân);Bính: Khôi (Hợi), Việt (Dậu); Đinh: Khôi (Dậu), Việt (Hợi); Mậu: Khôi (mùi), Việt (sửu), Kỷ: Khôi (Thân), Việt (Tý); Canh: Khôi (Mùi), Việt (Sửu); Tân: Khôi (Ngọ), Việt (Dần), Nhâm: Việt (Mão), Khôi (Tỵ); Quý: Khôi (Mão), Việt (Tỵ).
1.4. Có sự khác biệt trong an sao Lưu Hà:Giáp: dậu; Ất: Tuất;Bính: Mùi, Đinh: Thân, Mậu: Tỵ; Kỷ: Ngọ; Canh: Mão; Tân: Thìn; Nhâm: Hợi; Quý: Dần.
1.5. Về Tứ Hóa:
Giáp: Liêm Phá Vũ Dương;
Ất: Cơ Lương Vi Nguyệt;
Bính: Đồng Cơ Xương Liêm;
Đinh: Nguyệt Đồng Cơ Cự;
Mậu: Tham Nguyệt Bật Cơ;
Kỷ: Vũ Tham Lương Khúc;
Canh: Nhật Vũ Âm Đồng;
Tân: Cự Dương Khúc Xương;
Nhâm: Lương Vi Phụ Vũ;
Quý: Phá Cự Âm Tham;
2. Về xem Hạn:
+ Chỉ sử dụng Đại hạn, và Tiểu Hạn không dùng Lưu Đại Hạn;
+ Hạn Tháng Giêng: Khởi từ Dần, Can Tháng Giêng phụ thuộc Can Năm;
+ Hạn ngày như Can Chi của Lịch, ví dụ hôm nay 29/12/2010 DL nhằm ngày 24 AL là ngày Quý Sửu tại cung Sửu, tháng Mậu Tý tại cung Tý.
+ Sử dụng đủ: Tam hợp, nhị hợp, Lục hợp, Xung, Giáp;
+ Các sao Lưu Động: áp dụng cho tất cả các sao thuộc Can Chi (bao gồm Lưu Tứ Hóa, Tuần Triệt: nói để các bạn khỏi nhầm).
+ Cũng áp dụng các câu phú như mọi trường phái khác tại Việt Nam.
3. Điều khác biệt Quan trọng:
+ Đó là việc giải nghĩa thích ý nghĩa sao. Rất xem trọng cách cục nhưng vì việc giải thích ý nghĩa sao khác biệt nên khi kết hợp dẫn đến nhiều khác biệt từ Tổng thể cho đến chi tiết khi so với sách vở hiện nay.
+ Nêu quan điểm không phân biệt đắc hay hãm mà là có ĐẮC Ý hay không. Không gọi là Phụ tinh thay vào đó gọi là Bàng tinh (để tỏ rõ tầm quan trọng).....
-------------------------------
1.2.1.Lưu ý chung về Hạn
1.2.2.Hạn và quy tắc định Hạn
● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó:
● Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Cách xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:
1.2.3.Những lý luận về Đại Hạn và phương pháp xem Đại Hạn
1.2.4.Những lý luận về Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn,… và phương
a. Tiểu Hạn
b. Nguyệt Hạn và Thời Hạn,…
1.2.5.Mệnh Hạn
1.2.6.Cách tính Can Chi của tháng
1.2.7.Cách tính Can Chi của ngày
1.2.8.Cách tính Can Chi của giờ
A. PHẦN I:
1. VỀ AN SAO:
1.1. Không sử dụng sao Thiên Không đứng trước Thái Tuế. Gọi sao Thiên Không chính là sao Địa Không như thuở ban đầu của Tử vi. Và không dùng các sao như Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh, Thiên Quang, Thiên Phúc....là các sao Tử vi Việt Nam thêm vào sau này.
1.2. Vòng Thái Tuế: sử dung đúng 2 bộ Tuế Hổ Phù và Tang Hư Khách các sao còn lại như Thiếu Dương, Thiếu Âm....không dùng.
1.3. Có sự khác biệt trong an bộ Khôi Việt, như sau: tuổi Giáp: Khôi (Sửu), Việt (Mùi), Ất: Khôi (Tý), Việt (Thân);Bính: Khôi (Hợi), Việt (Dậu); Đinh: Khôi (Dậu), Việt (Hợi); Mậu: Khôi (mùi), Việt (sửu), Kỷ: Khôi (Thân), Việt (Tý); Canh: Khôi (Mùi), Việt (Sửu); Tân: Khôi (Ngọ), Việt (Dần), Nhâm: Việt (Mão), Khôi (Tỵ); Quý: Khôi (Mão), Việt (Tỵ).
1.4. Có sự khác biệt trong an sao Lưu Hà:Giáp: dậu; Ất: Tuất;Bính: Mùi, Đinh: Thân, Mậu: Tỵ; Kỷ: Ngọ; Canh: Mão; Tân: Thìn; Nhâm: Hợi; Quý: Dần.
1.5. Về Tứ Hóa:
Giáp: Liêm Phá Vũ Dương;
Ất: Cơ Lương Vi Nguyệt;
Bính: Đồng Cơ Xương Liêm;
Đinh: Nguyệt Đồng Cơ Cự;
Mậu: Tham Nguyệt Bật Cơ;
Kỷ: Vũ Tham Lương Khúc;
Canh: Nhật Vũ Âm Đồng;
Tân: Cự Dương Khúc Xương;
Nhâm: Lương Vi Phụ Vũ;
Quý: Phá Cự Âm Tham;
2. Về xem Hạn:
+ Chỉ sử dụng Đại hạn, và Tiểu Hạn không dùng Lưu Đại Hạn;
+ Hạn Tháng Giêng: Khởi từ Dần, Can Tháng Giêng phụ thuộc Can Năm;
+ Hạn ngày như Can Chi của Lịch, ví dụ hôm nay 29/12/2010 DL nhằm ngày 24 AL là ngày Quý Sửu tại cung Sửu, tháng Mậu Tý tại cung Tý.
+ Sử dụng đủ: Tam hợp, nhị hợp, Lục hợp, Xung, Giáp;
+ Các sao Lưu Động: áp dụng cho tất cả các sao thuộc Can Chi (bao gồm Lưu Tứ Hóa, Tuần Triệt: nói để các bạn khỏi nhầm).
+ Cũng áp dụng các câu phú như mọi trường phái khác tại Việt Nam.
3. Điều khác biệt Quan trọng:
+ Đó là việc giải nghĩa thích ý nghĩa sao. Rất xem trọng cách cục nhưng vì việc giải thích ý nghĩa sao khác biệt nên khi kết hợp dẫn đến nhiều khác biệt từ Tổng thể cho đến chi tiết khi so với sách vở hiện nay.
+ Nêu quan điểm không phân biệt đắc hay hãm mà là có ĐẮC Ý hay không. Không gọi là Phụ tinh thay vào đó gọi là Bàng tinh (để tỏ rõ tầm quan trọng).....
-------------------------------
1.2.1.Lưu ý chung về Hạn
Khi xem xét Hạn ta luôn lấy các cung số của bản thân làm gốc (Mệnh Thân Tài Quan Tật). Cho dù ở bất cứ Đại Vận, Tiểu Vận,… nào Cung số nào thì các tính chất của Mệnh Thân Tài Quan Tật không thay đổi. Có chăng họ chỉ thay đổi cách nhìn nhận
mà thôi.
Đại Vận là hoàn cảnh tác động lên ta, ta phải đối mặt trong giai đoạn 10 năm của Đại Vận. Trong 10 năm đó bản thân ta vẫn vậy, hoàn cảnh đó tác động tới ta ra sao mà thôi từ đó vẫn cái nghiệp đó, cái nghề đó, cái tính cách đó hay tai Ách đó ta thế nào với hoàn cảnh đó.
Tiểu Vận là hoàn cảnh ta phải đôi mặt trong một năm ta đi qua. Xấu tốt tùy thuộc vào cách cục của Phi tinh lưu động tại mỗi năm.
Tương tự với Nguyệt vận và thời vận,… cũng hiểu như vậy.
Khi xem xét về Hạn (Đại Hạn hay Tiểu Hạn hay Nguyệt hạn,…) thì cung nhập Hạn là cung số tại giai đoạn đó ta phải bận tâm nhiều, chịu sự chi phối nhiều nhưng không phải chỉ xem xét ở cung đó thôi. Ta phải xem xét được toàn bộ 12 cung số trên lá số Tử Vi để quyết đoán.
Có khi Tiểu Hạn xấu nhưng Mệnh Hạn tốt có khi ta vẫn toại ý thì ta đoán khác và ngược lại.
Một năm bất kỳ ta hoàn toàn tìm được các cung xấu tốt ra sao.
Để có thể xem xét được Hạn cần phân định được các nhóm sao cơ bản trong Tử Vi để xem xét. Nguyên tắc bao giờ cũng cần có 2 bộ sao cùng đặc tính gặp nhau mới xảy ra sự kiện đó.
1.2.2.Hạn và quy tắc định Hạn
Đại Hạn đầu tiên đóng tại Mệnh;
Không dùng lưu niên Đại Hạn. Chỉ dùng Đại Hạn và Tiểu Hạn;
Nguyệt hạn, Nhật hạn áp dụng như Tiểu Hạn. Tất cả đều được xem xét tại gốc
Tiểu Hạn.
Không quan tâm đến hạn Nhi đồng, như 1 tuổi coi ở đâu, 3 tuổi coi ở đâu,… chỉ quan tâm đến Tiểu Hạn. Và hãy chờ nhập vào số cục rồi hãy xem. Dễ hiểu là Hỏa Lục Cục hãy chờ đến 6 tuổi ta hãy xem.
● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó:
Dương Nam, Âm Nữ thì ghi theo chiều Thuận, Âm Nam, Dương Nữ thì ghi theo chiều Nghịch.
Thủy Nhị Cục bắt đầu bằng 2, rồi 12, 22, 32… Mộc Tam Cục bắt đầu bằng số 3, rồi 13, 23, 33… Kim Tứ Cục bắt đầu bằng số 4, rồi 14, 24, 34… Thổ Ngũ Cục bắt đầu bằng số 5, rồi 15, 25, 35… Hỏa Lục Cục bắt đầu bằng số 6, rồi 16, 26, 36…
Phương pháp xác định Cục sẽ được trình bày ở Phần tiếp theo của Tài liệu.
Thí dụ: Dương nam, Mộc Tam Cục, bắt đầu ghi số 3 ở cung Mệnh, rồi ghi số 13 ở cung Phụ Mẫu, ghi 23 vào cung Phúc Đức,...
● Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Cách xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:
Năm sinh
Cung khởi lưu niên
Dần, Ngọ, Tuất
Thìn
Thân, Tý, Thìn
Tuất
Tỵ, Dậu, Sửu
Mùi
Hợi, Mão, Mùi
Sửu
Bảng 3-2: bảng định khởi Lưu niện Tiểu Vận
Ví dụ: 3 tuổi Hợi, Mão hay Mùi thì ghi chữ Hợi, chữa mão hay chữ Mùi ở
cung Sửu.
● Nguyệt Hạn: là thời gian 1 tháng;
● Nhật Hạn: là thời gian trong ngày;
● Thời Hạn: là các giờ trong 1 ngày.
1.2.3.Những lý luận về Đại Hạn và phương pháp xem Đại Hạn
Như vậy ta cần hiểu Đại Vận là hoản cảnh sống mới tác động lên ta (Mệnh Thân Tật,..) là giai đoạn 10 năm mà ta phải đối mặt. Xấu tốt tùy thuộc vào Đại Hạn có các Sao, Bộ sao có phù hợp với các cách cục ở Mệnh Thân hay không.
Khi ta hiểu Đại Hạn là hoàn cảnh ta tới đó; vi như người sinh ra tại Hà Nội (Mệnh họ) nhưng lại có những giai đoạn vào Sài Gòn làm việc, có những giai đoạn lại vào Đà Nẵng làm việc,… thì coi như Sài Gòn hay Đà Nẵng là một hoàn cảnh mới, môi trường mới giống như Đại Hạn. Khi ta tới đó Mệnh Thân Tật ta có gì thì ta vẫn vậy. Không thể hiểu khi đến đó ta lại là người có tính cách khác, ta vẫn phải là ta, đi đâu cũng là ta, tới Đại Vận nào cũng là ta, ta đến Sài Gòn hay đến Đà Nẵng thì kiến thức, tri thức, nghiệp vụ, tình cảm, tính cách trước ta thế nào giờ ta vẫn vậy có chăng là trước ta đang thiếu gì thì đến đây có gì, trước ta đang sợ gì thì đến đây có gì mà thôi. Giống như ta đang ở Hà Nội, được đi đường tốt nhưng lại phải đi tới vùng sâu vũng xa mà đường xá khó đi, như vậy là hoàn cảnh khắc nghiệt,….
Điều cần thiết nhất vẫn là nhớ, hiểu được lý tính các sao, các bộ sao quan trong, các sao cần gặp và kỵ gặp với mỗi sao, bộ sao.
Cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán.
Vi dụ 1; một người có thiên hướng chuyển động nhưng cả một thời gian dài, có khi từ bé tới 30 tuổi họ cũng không đi đâu quá xa cả. Nhưng đến 1 Đại Vận X nào đó có ít nhất một bộ sao cùng tính chất chuyển động. Khi đó họ sẽ đi.
Vi dụ 2; Một người có Bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hay SÁT PHÁ THAM đáo hạn HỎA LINH rất mệt mỏi nếu có BỆNH PHÙ hay DIÊU Y ở Mệnh Thân, Tật hay tại gốc Đại Hạn mà Mệnh SÁT PHÁ THAM rất dễ vào bệnh viện,….
Ví dụ 3: Người có TỬ VI tại Mệnh nếu không có TẢ HỮU thì làm vua cũng như không vì không có quần thần nhưng khi đáo hạn có TẢ HỮU tất có quần thần,…
……
1.2.4.Những lý luận về Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn,… và phương
pháp xem
Để xem xét Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn người xem Hạn cần lưu được các sao lưu động.
Trong pham vi của phương pháp Tử Vi này chúng ta sử dụng khoảng 46 sao lưu động cho phần Tiểu Hạn. Khi xem xét đến Nguyệt Hạn ta lưu thêm các sao Tháng (5 sao), xem xét đến Nhật Hạn Lưu thêm các sao Ngày và các sao an theo Ngày và Tháng (2 sao) xem đến thời hạn lưu thêm các sao Giờ và các sao an theo Ngày và Giờ
(10 sao).
Sử dụng Can Chi của Năm, Tháng, Ngày Giờ để tiến hành Lưu sao
Sau khi an toàn bộ các sao lưu động của Năm hoặc Tháng hoặc Ngày hoặc Giờ ta coi bản đồ các sao này như 1 lá số thứ 2. Mang lá số cố định ghép với lá số Phi tinh lưu động để xem xét. Quan tâm tới tính kết bộ giữa các sao để quyết đoán, cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán. Đặc biệt là các sao và nhóm sao Kỵ nhau. Quan tâm tới Tứ Hóa của năm, bộ Tam Minh và ngôi sao PHƯỢNG CÁC để quyết đoán ảnh hưởng tốt đẹp hay kết quả của 1 năm lên các cung số.
a. Tiểu Hạn
Được hiểu như ý nghĩa của Đại Hạn, tuy nhiên phương pháp luận đoán lại chủ yếu dựa vào Lưu Phi Tinh của năm nghiên cứu, xem xét.
Liên tưởng tới các phương trình phản ứng Hóa học hay sử dụng chất xúc tác để gây phản ứng. Để dễ hiểu ta cũng coi các sao Lưu động như các chất xúc tác để đánh thức các sao cố định. Ví dụ: Một cung có TRIỆT cố định, đến năm có Lưu TRIỆT ở cung đó được xem là xấu, khi đó ý nghĩa của TRIỆT được phát tác. Một người muốn thay đổi cũng cần có các sao, bộ sao lưu động hội về cung cần thay đổi để có sự thay đổi. Một cung Điền Trach có HÓA LỘC cố định đến năm có Lưu HÓA LỘC tại đó tất sẽ sinh ra LỘC,… Cung có Tai, Ách, Họa, Nạn cần các sao để kích động cho Tai, Ách, Họa, Nạn tác họa. Ví như năm nào có KHÔI VIỆT đặc biệt là VIỆT lưu vào cung Tật rất vất vả với Tật Ách,… muốn có sự khơi sự (lập công tý hay làm một việc gì đó) cần có sự kích hoạt để ngôi sao có ý nghĩa KHỞI SỰ được đánh thức,…. Và mọi vấn đề khác cũng vậy cả mà thôi.
Như vậy để xem Tiểu Hạn, cần có các công thức luận đoán Hạn như: Hạn tình cảm (yêu, phản, chia tay, lập gia đạo,….), Hạn Tang chế, Hạn Chuyển động, Hạn nhà đất, Hạn công việc, Hạn sinh con, Bệnh tật, Kiện cáo, Bắt bớ, Tai nạn,… để xem xét
luận đoán.
Về cơ bản cung số nào có bộ Tam Minh ta tìm thấy vui mừng ở cung số đó, cung số nào có LỘC ta tìm thấy tiền bạc tại cung đó, cung số nào có QUYỀN hay KHOA tức ở đó có dấu hiệu của hai sao này, cung số nào có BỆNH PHÙ tất liên quan đến ốm đau, bệnh tật, lo lắng suy nhược… Cung số nào có PHƯỢNG CÁC thì cung số đó được xem là hay. Ngôi sao PHƯỢNG CÁC có ảnh hưởng rất mạnh tới tính chất tốt đẹp của bộ TANG HƯ KHÁCH. PHƯỢNG CÁC làm cho 1 năm tưởng xấu lại hóa hay khi đi vơi bộ TANG HƯ KHÁCH,…. Đặc biệt cần nhớ một số cách cục đặc biệt để luận đoán vd: bộ THÂT SÁT BÁCH HỔ, ĐÀO HOA TANG MÔN, HỒNG LOAN BẠCH HỔ,… để quyết đoán nhanh về tính chất phức tạp không thuận lợi tại cung số có bộ sao này
lưu vào.
b. Nguyệt Hạn và Thời Hạn,…
Không xem xét như các phương pháp khác, TVUD không xem xét theo phép an Tháng, Ngày, Giờ sau đó chạy quanh 12 Cung số.
Tất cả các Tháng, ngày, giờ nằm chung trong 1 cung Tiểu Hạn quan trong ta xem thế nào, dùng cái gì để xem mà thôi.
Vẫn là Phi Tinh lưu động, ứng với các Tháng, Ngày, Giờ ta luôn có cả Can Chi. Cũng giống như xem Tiểu Hạn ứng với Can Chi của Tháng, Ngày, Giờ nào ta dùng Phi Tinh tương ứng.
Khi xem xét đến Tháng, Ngày, giờ ngoài tính chất kết bộ của các sao thì các ngôi sao đơn lẻ rất quan trọng. Dùng bộ KHÔI VIỆT để kích hoạt ý nghĩa các sao và kết hợp với tính chất kết bè, bộ để luận đoán.
VD: Ngày X tại lá số của A tại vị trí THIÊN ĐỒNG (nằm bất cứ ở đâu) thấy lưu VIỆT của ngày thì ngày hôm đó A dễ có việc đi làm phúc hay được ngươi khác làm phúc,… Cần hiểu các ý nghĩa của sao để xem xét
1.2.5.Mệnh Hạn
Bạn đọc thường thấy người viết hay nhắc đến từ Mệnh Hạn nhưng có lẽ đa phần các bạn không quan tâm đến. Và chúng ta thường quan tâm đến Tiểu Hạn hay Đại Hạn
mà thôi.
Mệnh hạn nghe có vẻ mơ hồ và khó hiểu. Thật ra cũng dễ hiểu và đến lúc các bạn cần hiểu. Vì Mệnh Hạn cũng là cái Hạn tại Mệnh đừng hiểu lầm từ này ghép đôi của Mệnh và Hạn và Mệnh hạn là từ riêng dung đẻ chỉ sự tốt xấu tai cung Mệnh của
năm ấy.
Ví dụ như thế này bạn dễ hiểu. một người có chính tinh tọa thủ tại Mệnh bất kể nó hợp Mệnh hay là không. Ví dụ THÁI DƯƠNG cho là sáng sủa tốt đẹp nhưng không phải bao giờ họ cũng đắc ý và thành công, cũng không phải là do họ gặp Tiểu Hạn xấu hay Đại Hạn xấu. Mà còn do cái năm ấy không hợp với họ.
Ví dụ, người THÁI DƯƠNG rất kỵ năm Giáp, tất nhiên tháng Giáp ngày Giáp đều kỵ vì chữ Giáp, hóa khí THÁI DƯƠNG là HÓA KỴ. Từ đó người THÁI DƯƠNG dễ bị người ta ghét, nghi kỵ (nghi ngờ) rồi cấm đoán. Tự nhiên người THÁI DƯƠNG năm ấy vụng về hơn, hoặc cũng chẳng vụng về nhưng tự nhiên dưới con mắt nhiều người dễ bị ghét bỏ hơn, bình thường họ vẫn thế. Nhưng hôm nay họ dễ bị người ta chỉ trích, dễ ghét chưa kìa hay tự đắc, hoặc thấy kênh kiệu, hoặc là khoe khoang… và họ tìm ra được cái để chỉ trích nhưng năm trước đây, ngày trước đây họ lại không chỉ trích.
Lại ví dụ tiếp, Mệnh DƯƠNG LƯƠNG tại Mão vào năm Giáp ngoài lưu KỴ còn thêm lưu KÌNH, cái đố kỵ đó càng thêm mạnh mẽ. Hoặc bộ KỴ ĐÀ nếu như Mệnh ÂM DƯƠNG tại Sửu. Hoặc Mệnh có bộ CỰ NHẬT tại Tuất như trường hợp THÁI DƯƠNG tại Tuất lưu Hóa Kỵ tại đó còn làm cho cả CỰ MÔN bị mất tác dụng.
Ta hãy hình dung một người tự nhiên năm ấy bị xấu đi do Mệnh hạn, di chuyển trong Đại Hạn tương đối xấu và Tiểu Hạn cũng tương đối xấu. Tất mọi việc càng dễ thêm xấu. Với người THÁI DƯƠNG họ kỵ năm Giáp nhưng lại hợp năm Canh (do Canh và Giáp xung nhau, chữ Canh THÁI DƯƠNG hóa khí là HÓA LỘC) và năm TÂN hóa khí thành quyền. Nếu Đại Hạn hay Tiểu Hạn tương đối xấu nhưng gặp năm Mệnh hạn tốt đẹp cũng trở thành dễ chịu.
Cũng lý luận như thế người ÂM DƯƠNG chịu liền 2 năm Giáp Ất bị lưu KỴ. Trừ các trường hợp kỳ tài không nói làm gì nhưng các trường hợp cung Mệnh vốn đã không tốt đẹp bị lưu Kỵ thêm Kình hay Đà rất xấu cho các trường hợp NHẬT NGUYỆT. Tât nhiên người NHẬT NGUYỆT hợp các năm Mậu Đinh Canh Tân.
Theo những lý luận đã có, người có LIÊM TRINH rất kỵ các năm Bính, THAM LANG kỵ năm Quý. Nếu chỉ có KỴ thôi đã phiền lại có thêm ĐÀ, KÌNH TRIỆT càng phiền nhiều hơn. Những chi tiết này làm cho vận hạn đã xấu lại càng xấu hơn.
Chỉ có các sao không có hóa khí như bộ PHỦ TƯỚNG… là ít chịu hóa khí tác động, vì bộ này chủ yếu là đa phần được người ta thương. Nó bi xấu là do các chính tinh khác tác động. Và bị xấu do hàng Can Chi sẽ đề cập ở dưới.
Trên là phần lưu hóa khí các năm. Phần các sao trong bộ Can Chi cũng thế. Các sao CỰ MÔN, PHÁ QUÂN tọa thủ Mệnh không thích lưu LỘC TỒN hội họp tại Mệnh mà nó chỉ thích sao HAO. Bộ PHỦ TƯỚNG không hợp với KÌNH TRIỆT. THIÊN CƠ rất kỵ TANG MÔN. TỬ VI rất kỵ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ, nhất là Hư TRIỆT… Nếu có những sao kỵ tất nhiên cũng có những sao đem lại vui mừng như ĐÀO HỒNG HỈ, Song Hỉ và Tứ Linh che chở Mệnh làm cho cung Mệnh có giá trị hơn. Như thế có nghĩa là Mệnh hạn năm này có thể tốt hay xấu, đối đầu với Đại, Tiểu Hạn.
Ngoài ra chú ý các bộ Can Chi tại cung Tật Ách, lưu tại cung Mệnh thường đem lại những tai ách. Một sao thuộc hàng Can thiên về việc làm và 1 sao thuộc hàng Chi thiên về trạng thái. Kể cả các trường hợp lưu tại Đại Hạn, Tiểu Hạn cũng là xấu vì nó đại diện cho tai ách.
Cũng thế các bộ Can Chi tại các cung, lưu động tại Mệnh hay đai Tiểu Hạn tất nhiên có việc liên quan đến cung đó. Ví dụ bộ Can Chi của cung huynh đệ lưu tại Mệnh hay đại, Tiểu Hạn tất nhiên có vấn đề liên quan, tốt xấu còn tùy thuộc vào hung cát tinh
để luận đoán.
1.2.6.Cách tính Can Chi của tháng
Dựa trên cơ sở Can của năm theo lịch kiến dần (nguyên tắc ngũ dần)
Trước hết tháng giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão..., mỗi tháng đi với một Chi nhất định
Muốn biết Can của tháng thì áp dụng phương pháp sau gọi là phương pháp
Ngũ Dần:
Năm Giáp và Kỷ tháng giêng là tháng Bính Dần
Năm Ất và Canh tháng giêng là tháng Mậu Dần
Năm Bính và Tân tháng giêng là tháng Canh Dần
Năm Đinh và Nhâm tháng giêng là tháng Nhâm Dần
Năm Mậu và Quí tháng giêng là tháng Giáp Dần
1.2.7.Cách tính Can Chi của ngày
Dựa trên Can Chi của tháng. Theo nguyên tắc tháng giêng là tháng Giáp Tí thì ngày mùng một sẽ là ngày Giáp
Tí, mùng hai sẽ là Ất Sửu...Vì số ngày trong năm không chia chẵn cho 60, nên ta không thể có qui tắc tính Can Chi của ngày dựa trên Can Chi tháng được mà phải
tra lịch.
1.2.8.Cách tính Can Chi của giờ
Căn cứ vào Can Chi của ngày theo nguyên tắc ngũ Tý
Ngày Giáp và Kỷ giờ Tý là Giáp Tý;
Ngày Ất và Canh giờ Tý là Bính Tý;
Ngày Bính và Tan giờ Tý là Mậu Tý;
Ngày Đinh và Nhâm giờ Tý là Canh Tý;
Ngày Mậu và Qui giờ Tí là Nhâm Tý.
- TVUD (sưu tầm)