Hiển thị các bài đăng có nhãn Agape. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Agape. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019

1 số ghi chép tạp luận của Agape & Lê Quang Lăng

Cung VCD
Phụ mẫu VCD thì cha mẹ thường sống lâu (xem thêm Nhật, Nguyệt)

Tật Ách VCD thì ít bệnh tật

Điền VCD thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sao giữ của như Quả Tú

Tử VCD thì khó có con, vẫn có con nhưng không nhờ được con

Huynh VCD thì không nhờ nhau

Phúc VCD thì lại tốt

Phụ Mẫu VCD thì không giúp đỡ được cha mẹ nhiều, hoặc cha mẹ cũng không giúp cho con nhiều

Điền VCD gặp Triệt đương đầu: ăn trong cảnh bất ngờ, náo loạn (bất thường, phản vi kỳ cách)

Nữ Mệnh VCD thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh VCD

Tam hợp chiếu tại cung VCD thì phải tại Tứ Mộ mới ăn, tại các cung khác thì lấy xung chiếu

Mệnh VCD, Tử Tức VCD thì xấu, cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con

Phu Thê vô chính diệu thường lập gia đình bất ngờ


Tam Hóa, Lộc Tồn
Hóa Lộc tại Tứ Mộ thì Lộc bị chôn vùi, do đó chủ về phúc hơn là chủ về tiền tài. Hóa Lộc cư tại Tứ Mộ thì bị vùi, nhưng nếu gặp Triệt thì lại tốt, không bị chôn lấp

Hóa Lộc đóng tại Tứ Sinh thì tốt nhất, kế đến là tại Tứ Chính

Lộc Tồn Hóa Lộc đồng cung không tốt, chủ về họa đến bất ngờ do tiền tài gây ra

Lộc Tồn mang tính chất tồn đọng, chưa hẳn là tốt (như tại Tử thì chậm con, ít con, tại Phu Thê thì vợ chồng bất hòa, chiếu tốt hơn thủ (thủ bị giáp Kình Đà), hạn VCD có Lộc Tồn thủ thường không tốt

Lộc Tồn thủ Mệnh thì cố chấp, độc đoán, gia trưởng, làm theo ý mình không hỏi người khác, cô đơn

Tam hóa liên châu cư ngoại địa, phúc tất trùng lai (không tai họa trong đời, đời ít tai họa, bệnh tật, tù tội)

Tam Hóa cư từ Dậu đến Sửu thì là mặc áo gấm đi đêm, không tốt bằng tại Dần đến Thân

Tam Hóa liên châu tại Mệnh không tốt bằng Tam Hóa thủ chiếu Mệnh, nhưng cần phải có một sao thủ tại Mệnh mới đẹp

Cũng cần chú ý đến Tam Hóa liên châu tại đại hạn


Cự Môn
Cự Môn chủ về bất đắc chí, bất mãn, thêm Phá Toái thì càng bất mãn, cần có Tuần, Triệt, Song Hao, Thiên Hình...đồng cung.

Cư Thiên Di thì hay nói, hay bất mãn, không bằng lòng, không nên ra nước ngoài dễ bất mãn...

Quan Lộc có Cự Môn gặp Triệt thì làm việc lớn được, việc nhỏ không được, làm trong lúc loạn ly biến động thì rất giỏi, làm thẳng thì không được nhưng làm quanh co, lắc léo, khó khăn thì lại được.

Tử Tức có Cự Môn thì bất mãn về con cái

Cự Môn không gặp Tuần , Triệt , Song Hao.... thì có tài nhưng bất đắc chí


Quả Tú

Mệnh hay Tử Tức có Quả Tú thì thường là con một bề (hoặc toàn là trai, hoặc toàn là gái)


Khốc Hư
Khốc Hư Tí Ngọ, Nữ Mệnh thì tính tình mau mắn, nhanh lẹ, nói nhiều

Mệnh Khốc Hư Tí Ngọ Mão Dậu thì nói mau lẹ, làm mau lẹ, đời gặp may mắn

Khoa gặp Khốc Hư thì học hành nhanh

Khốc Hư hãm tại Tật thì bị ho, ho lao

Hư tại Mệnh thì hay ho, mắc bệnh phổi


Vị trí cung Thân

Thân cư cung nào thì thông thường dễ khổ thân về cung đó, phải lo lắng về điều đó. Thân cư cung nào thi cuộc sống gắn liền với cung đó.

Thân cư Mệnh: không được thừa hưởng di sản cha mẹ để lại. Tính tình cương quyet, không chịu khuất phục trước người khác. Cha mẹ đẻ ra người con có Thân cư Mệnh là dấu hiệu phúc đức bị suy tàn.

Thân cư Tài: khổ vì tiền bạc nghĩa là phải lo lắng về tiền bạc, cung Tài tốt thì cũng khổ, cung Tài xấu thì càng khổ hơn.

Thân cư Di: sống ngoài đường hơn trong nhà, hay phải xa nhà hoặc tuổi nhỏ hay rong chơi ngoài đường, không hay ở nhà. Ly hương.

Thân cư Quan thì bôn ba vật lộn kiếm sống, vợ chồng góp gao thổi cơm chung (cả hai cùng nhau lo về kinh tế), nữ Mệnh dễ hai đời chồng nếu chồng về kinh tế yếu, trừ khi ly hương thì có khả năng giải được

Thân cư Phối: sống nhờ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng chỉ lo ăn không ngồi rồi, hoặc rổ rá chắp lại, hoặc phải lụy vì chồng vợ, hoặc bất mãn vợ chồng, hoặc hai đời chồng. Nếu cả hai vợ chồng đều 
Thân cư Phu Thê thì lại sống lâu bền.

Thân cư Phúc: thì đối phó mặc theo sự may hay rủi tùy theo cung Phúc tốt hay xấu.


Thái Tuế
Thái Tuế thủ Mệnh thì tự hào, hãnh diện về bản thân, làm nghề liên quan đến ăn nói thì tốt nhất (như luật sư, thầy giáo, công an cảnh sát, thẩm phán...)

Thái Tuế mang tính chất tự hào, đóng tại Tử Tức thì tự hào về con cái, hay nói về con mình, tại Phu Thê thì tự hào về chồng hay vợ, hay khoe chồng vợ mình....

Thái Tuế tại Phu Thê thì lấy dễ, lấy nhanh, hài lòng, yêu thực sự....

Lưu Thái Tuế xung chiếu hạn thì dễ vướng vào cãi cọ, thị phi, hoặc kiện tụng...

Có Thái Tuế thủ Mệnh cũng có khả năng là con trưởng


Tang Hổ

Mệnh Tang Môn thì mặt buồn so, hiền lành. Mệnh Bạch Hổ thì có thể xinh nhưng rất dữ, gian nan, đáo để, vất vả, gian truân

Nữ Tang khổ hơn Hổ

Bạch Hổ Nữ Mệnh thì nhiều lo lắng, tại Phu thì khó lấy chồng

Bạch Hổ cư Dậu, Mệnh VCD Nữ Mệnh thì có tiếng tăm, tuy phát về sự nghiệp nhưng tình duyên, hạnh phúc gặp trục trặc, trắc trở

Bạch Hổ tại Phu Thê thì lập gia đình muộn màng, khó khăn

Các tuổi Dần Thân thì tác họa của Bạch Hổ giảm đi


Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
Thiên Giải mang tai họa về tinh thần, Địa Giải mang tai họa về vật chất

Thiên Giải giải mạnh hơn Giải Thần, giải toàn bộ tai họa, tại Tài thì không tốt (giải hết tiền tài)

Song Hao gặp Địa Giải đồng cung thì xấu


Hỏa Linh
Hỏa Linh tại cung Thủy thì không tác họa lắm

Tốt tại cung Mộc và Hỏa

Hỏa Linh cư cung Hỏa, Mộc thì tốt, ăn nói khúc triết, tại cung Thổ thì bình hòa, tại cung Kim thì ăn nói ẩu tả, thô lỗ hoặc cộc cằn....

Hỏa thì bộc phát nhanh. Linh thì phát chậm nhưng lâu bền

Mệnh Linh tinh, nếu có bệnh thì lâu khỏi


Phu thê

Phu thê có Thiên Không Địa Kiếp đủ bộ thì sát phu thê

Phu Thê tốt đẹp thì lập gia đình dễ dàng, vợ đẹp hoặc hiền,vợ chồng tốt...

Vợ chồng hạnh phúc hay không thì coi Nô, chủ về gia đình ăn ở, hoàn cảnh sinh sống

Vợ chồng bỏ nhau hay không thì cần coi thêm Nhật Nguyệt, nếu Nhật Nguyệt hãm thì dễ bỏ nhau, nhưng nếu tại Thìn Tuất thì lại khó bỏ. Âm Dương miếu vượng thì vợ chồng khó bỏ nhau

Lấy vợ bé thường thì phải có Đào, Hồng, Hỉ chiếu, cần Thiên Di có Đào Hoa và Tật Ách có dâm tinh như Tướng ngộ Thai....


Tạp luận

Tuần Triệt đương đầu (xung chiếu Mệnh) thiếu niên tân khổ (vì bệnh, khổ tâm....)

Xem cung Phụ Mẫu thì phải là con trưởng hoặc út thì mới xem rõ được

Không Kiếp tại Tỵ thì phát nhanh, tàn nhanh, tại Hợi phát nhưng còn giữ lại được

Thiên Tài chủ sự cắt giảm, đóng tại Mệnh thì khó làm lớn (vì nghĩa cắt giảm), tại Tật thì lại tốt (cắt giảm bệnh tật)

Tướng Quân chỉ về lãng mạn, gặp Đào Hoa, Mộc Dục, Hồng Loan...chủ về dâm

Thiên Mã gặp Tuần, Triệt không nhảy được như quan điểm của cụ Thiên Lương, và Mã tại Hợi là nơi cùng đường nên phải nhảy

Cự Cơ tối hiềm Hóa Kỵ

Cự gặp Lộc Tồn thì kỵ, bất đắc chí

Cự gặp Kỵ thì bất đắc chí, bất mãn với hoàn cảnh, hay than thở, gặp Lộc Tồn thì càng xấu. Tại Tật gặp Kỵ thì có bệnh khó chữa

Hóa Kỵ hành Thủy, ở cung VCD thì lại tốt

Hung tinh hãm địa thì cũng ăn nhưng ăn vào thời loạn, tranh tối tranh sáng, còn hung tinh đắc địa thì ăn vào cả thời bình lẫn loạn

Hung tinh ăn về hậu vận, về già mới ăn

Tuổi Tỵ Hợi ăn Không Kiếp rất mạnh

Thiên Tài cư tại cung VCD hoặc tại Tật Ách thì lại tốt

Xương Khúc thì ham vui hát hò, văn nghệ..., không hay suy nghĩ, lãng mạn văn nghệ

Đà La thì lãng mạn, âu sầu, lì lợm

Kình Dương là gọng kìm, cần sao chủ vị

Hữu Bật là cây cung, ly hương, lập gia đình thì già kén kẹn hom, làm bé, làm lẽ

Giáp Xương Khúc thì là người ham vui, vì vui mà mang họa

Khi còn bé thì xét sinh khắc giữa cung và Mệnh để biết cha mẹ làm nên hoặc xuống dốc trong thời gian đó

Thiên Thọ (Thọ chủ về lâu dài, bền) ở Tật thì bệnh tật lâu khỏi, bệnh tật triền miên, tại Mệnh thì sống lâu, tại Tài thì tiền của bền vững....

Song Hao làm giảm tác họa của Thiên Không, làm giảm bệnh tật....

Hóa Khoa, Tuần Triệt giải được Thiên Không

Thiên Tướng, Tướng Quân thì dâm

Nữ nhân có Thái Âm lạc hãm thì kinh nguyệt không đều, ít nhất là xảy ra trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và thông thường sinh lý không mạnh, không có nhiều hứng cảm khi làm tình.

Nam nhân có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý yếu hoặc có vấn đề như xuất tinh sớm, không cương cứng, không thể làm tình nhiều lần hoặc thiếu kỹ thuật...

Tóm lại Âm Dương sáng sủa thì cuộc sống sinh lý vợ chồng tốt, một điều kiện đưa đến hạnh phúc.

Âm Dương đồng sáng sủa thì vợ chồng khó bỏ nhau, thông thường thì vợ chồng tương đắc trừ khi gặp sao khắc kỵ với Âm Dương. Âm Dương sáng sủa tại Thìn Tuất thì vợ chồng tương đắc về sở thích nhưng hay tranh cãi nhau. Âm Dương lạc hãm là một điều kiện để vợ chồng dễ xung khắc, dễ bỏ nhau, xa cách hoặc chia ly

Âm Dương đồng tranh Sửu Mùi: vợ chồng thông thường không nhường nhịn nhau, tranh đua nắm thế thượng phong, từ đó dễ đưa đến bất hòa, vợ muốn lấn chồng, chồng muốn lấn vợ

Mệnh giáp Âm Dương lạc hãm thì vợ chồng dễ xa cách hoặc chia ly, nếu gặp Tuần Triệt thì cũng bỏ nhau nhưng bỏ chậm

Hạn rơi vào Âm Dương thủ hạn cũng quan trọng, thông thường dễ liên quan đến chồng hoặc cha nếu gặp Thái Dương, và mẹ hoặc vợ nếu gặp Thái Âm

Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại vấn vương về tình cảm

Cung Tật có Âm Dương dù đắc hay hãm cũng dễ có tật về mắt như mắt bị cận thị, yếu

Âm Dương sáng sủa thì cha mẹ thông thường thọ, còn lạc hãm thì không thể kết luận về thọ yểu

--------------------------Hết phần ghi chép của Agape---------------------------------------------

Phần kinh nghiệm của Lê Quang Lăng

1, Mệnh lục hại với Tật cần phối Triệt Tuần Không Vong.

2/ Với người lớn cần xét lục sát bại tinh đóng đâu. Nhất Mệnh-nhị Thân,Tam Phúc,tứ Tật. Mệnh hảo thân tốt ắt thọ trường,không lo đại nạn. Mệnh dính lục sát vận đến sát tinh cũng nguy hiểm. Ngũ hành mệnh, ngũ hành tam hợp vận và ngũ hành tam hợp mệnh tài quan cần phối chiếu quan sát kỹ. Hạn đi đến những nơi đất xấu cũng cần đề phòng rủi ro. 

Tử Vi chia bộ hạn ra làm vài trăm loại. Mỗi loại một mối hiểm nguy. Hạn đến Thương Sứ Hình Hổ thì hết thọ dương thế. Hạn đến Tang Hổ Âm Dương Kỵ kiết mã đà ắt tang cha mẹ....! Hạn đến cung nào, Tuế động đâu ắt sinh chuyện nơi đó. Hạn động do Tuế, hạn tĩnh do Tang. Mã thì dịch và dính tay chân, Kỵ mệnh di vào trục ấy ắt bị oan khiên, tang lưu ắt kiện tụng lao lý, Âm Dương đau yếu, Cơ tinh quặt què, Tham hạn do súc vật gây nên, Sát hạn vong thương, Phá hạn hao tài, Liêm hạn khốn tắc bí cùng, Phủ hạn lao đao, Cự hạn tán tài tiếng tai, Linh Hoả trùng phùng lao đao cùng cực, Đồng hạn ắt chạy khắp nơi, Hồng Hỷ Loan Long ắt có tin mừng con cái, Tứ đức nhập hạn ắt có bầu sinh con....

Đại vận mà tốt ắt ít hoạ tang thương
Đại vận mà xấu hung hoạ nhiều thêm
Chia cắt phần ba đại vận,lấy ngũ hành làm tiên chỉ. Vạn sự bổ mệnh,mệnh gốc làm chính ắt tìm ra nguyên sự sâu xa.
Âm dương tại mệnh cần vận xương khúc
Cơ Lương tại mệnh cần Khoa Quyền ứng cứu
Tham Liêm Sát Phá cần linh hoả
Cơ Cự Đồng cần quang quý
Tử Tướng vào vận cần lộc mã
Mệnh cư mộ vị cần hoá kỵ phản vi
Mệnh nơi Tứ chính cần hồng hỷ vẫy vùng
Thiên Đồng tối vi cần tứ đức tả hữu sinh lai
Cự Môn tối cần Hoá Lộc Vũ Sát vào hạn-tối kỵ thái tuế động cung
Thái Dương tối cần ấn cáo
Thái Âm tối cần nguyệt đức
Thiên Tướng tối cần Mã Khoa Văn Phượng
“Hạn đến Hình Kỵ lo âu
Gặp nơi Thương Sứ bắc cầu sang âm
Tướng quân ngộ triệt ở gần
Hạn vào đến đó, đầu trần lìa đôi”

----------------------------------------------------------------


I. Cần tuần triệt:
1. Tất cả các chính tinh hãm địa trừ sao Thiên Tướng đều cần tuần triệt
2. Lục sát tinh hãm địa cần tuần triệt, thiên hình, hoá kỵ hãm cần tuần triệt
3. Cung tật ách bất kể sao gì cũng cần tuần triệt để hoá giải bệnh tật
4. Phụ tinh tướng quân , quốc ấn tối kỵ tuần triệt
5. Cung vô chính diệu
6. Các bộ chính tinh đặc biệt cần tuần triệt mới tốt là :
- Cự môn độc thủ ở mọi vị trí
- Cự môn , thiên cơ mão dậu
- Cự cơ tý ngọ ( tuần triệt đóng ở vị trí của thiên cơ hoặc cự môn đều được)
- Thiên cơ, thiên lương thìn tuất
- Cơ lương sửu mùi ( tuần triệt đóng vào vị trí của thiên cơ hoặc thiên lương đều được )
- Vũ tham sửu mùi
- Phá quân thìn tuất
- Đồng Cự sửu mù. Tuần triệt thì cực tốt cho bộ đồng cự sửu mùi , khi ấy đương số sẽ ăn được cái giác quan thứ 6 của sao thiên đồng , ăn được cái khôn ngoan , khôn nói của sao cự môn .
II. Không bị ảnh hưởng bởi tuần triệt:
1. Những sao thuộc vòng tràng sinh
2. Sao lộc tồn
3. Tam hoá khoa quyền lộc
4. Bộ sao tứ đức : thiên đức , phúc đức , nguyệt đức , long đức
5. Bộ Ân quang thiên quý
6. Bộ sao tam giải : Thiên giải , địa giải , giải thần
7. Sao thiên đồng đắc vượng miếu . Nhưng thiên đồng hãm cực cần tuần triệt
*** Tuần triệt tác dụng cả đời

1/ Tam giải thì tự nhiên nó giải, dù bạn có làm việc xấu. Quang quý thì làm việc xấu sẽ mất tác dụng. Quang quý làm việc thiện thì sức giải là siêu đẳng.

--- Sưu tầm-----

Cách xem hạn của Agape

A. Vấn đề sinh khắc
Cứ tương sinh (sinh nhập, sinh xuất) là tốt, tương khắc (khắc nhập, khắc xuất) là xấu
Trong các hành thì hành Thổ có ưu điểm hơn là cho dù bị khắc nhưng cũng đỡ hơn
Dương Nam (+, + => +), Âm Nữ ( -, - => +) thuộc Dương (người Dương), đi đến cung Âm (Sửu , Mão, Tỵ....) thì ăn mạnh (nếu tốt thì tốt thêm, tốt gấp hai, xấu thì xấu hơn, xấu thì xấu gấp hai), đi đến cung Dương thì ăn yếu (tốt thì không tốt nhiều, xấu thì không xấu thêm)
Âm Nam (-, + => -), Dương Nữ (+, - => -) thuộc Âm (người Âm), đi đến cung Dương thì ăn mạnh, đi đến cung Âm thi ăn yếu hơn
Dương Nam, Âm Nữ thuộc Dương, đi đến cung Âm (từ Tuất đến Dần, ban đêm) thì ăn mạnh hơn khi đi đến cung Dương (từ Mão đến Dậu, ban ngày)
Âm Nam, Dương Nữ thuộc Âm, đi đến cung Dương thì ăn mạnh hơn đi đến cung Âm
Nguyên tắc này được vận dụng khi coi đại vận, tiểu vận, vị trí cung Mệnh!
Ví dụ người Âm Mệnh đóng tại cung Dậu (Âm) thì không ăn mạnh, nhưng cũng được gỡ phần nào do cung Dậu thuộc Dương (phân theo trục Mão Dậu)
Ví dụ Âm Nam Mệnh đóng cung Thìn thì tốt hơn cung Tuất
Hỏa và Kim thuộc Dương, Thủy và Mộc thuộc Âm. Như vậy Mệnh Thủy, người Dương (Dương Nam, Âm Nữ) thì ăn hơn người Âm (Âm Nam, Dương Nữ).

B. Xem đại hạn (đại vận)
Cung là hoàn cảnh nuôi bản Mệnh
Khi xem thi sự sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh quan trọng hơn chính tinh nhập hạn có hợp hay không (chỉ ảnh hưởng 30%)
Sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh:
Đồng hành thì ăn 100%
Sinh nhập thì được hoàn cảnh nuôi dưỡng, ăn 90%
Sinh xuất thì vất vả, phải chạy theo hoàn cảnh, nuôi dưỡng hoàn cảnh (ăn 60%)
Khắc xuất thì tuy chống đối hoàn cảnh nhưng vẫn vượt qua được (ăn 30%)
Khắc nhập thì bị hoàn cảnh chống đối không cho hoạt động (không ăn gì cả 0%)

Ngoài ra nếu trên 37 tuổi thì xét thêm tương quan giữa hành cung và hành Cục để biết thêm hoàn cảnh có tốt hay không

Chú ý: hành của cung tính toán trên hai cơ sở kết hợp: hành chính cung và hành tam hợp cục (ví dụ cung Tí hành Thủy vì chính cung là Tí hành Thủy, tam hợp Thân Tí Thìn hành Thủy, còn cung Sửu thuộc Thổ đới Kim vì cung Sửu hành Thổ, tam hợp Tỵ Dậu Sửu hành Kim. Như vậy cung Tỵ là Hỏa đới Kim, nếu Mệnh Hỏa thì ăn 70%, Mệnh Kim thì ăn 30%, cung Ngọ hành Hỏa, Mệnh Hỏa ăn 100%)

Chính tinh đắc địa nhập hạn quan trọng hơn chính tinh hợp Mệnh. Đắc mà không hợp Mệnh thì cũng hơn hãm mà hợp Mệnh
Đắc nếu hợp Mệnh thì ăn 100%, nếu không hợp thì cũng còn ăn 40%
Hãm và không hợp Mệnh thì không ăn, nếu hãm mà đồng hành thì cũng ăn vì là của mình
Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ)
Người chính diệu đi vào hạn VCD thì lao đao ít hơn người VCD đi vào hạn VCD
Người VCD đi vào hạn có hung tinh đắc địa độc thủ thì phát. Gặp Không Kiếp Tỵ Hợi người tuổi Tỵ Hợi thì phát mạnh, nếu Mệnh Kim thì càng ăn mạnh
Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đi vào hạn Sát Phá Tham thì xấu (Trúc La hạn)

C. Xem tiểu hạn (tiểu vận)
Đại hạn tốt nếu tiểu hạn có xấu cũng hưởng 50%
Xem tiểu hạn khi xét sao thì chỉ quan trọng sao thủ trong cung. Các sao chiếu phải là sao đôi (như Khôi Việt, Quang Quí)
Sao chính chiếu quan trọng. Sao tam hợp không quan trọng
Cung nếu có Tuần, Triệt thì chiếu mạnh hơn (Triệt: câu vào, Tuần: đẩy ra), nhất là cung Vô Chính Diệu, nếu không có Tuần Triệt thì chiếu ăn 30%
Cung tiểu hạn là cung lưu Mệnh. Mệnh rơi vào cung nào thì cung đó quan trọng, dính dáng đến cung đó (ví dụ tại Tử Tức thì vấn đề con cái quan trọng) (cách xem này đang khác với trường phái tứ hóa phái lấy Lưu Thái Tuế làm Lưu Mệnh, và của nhiều tử vi gia Việt Nam lấy Lưu Đại Vận làm Lưu Mệnh)

D. Lưu niên đại hạn (LNĐV) cũng quan trọng
Xem thêm cung có sao lưu Thái Tuế (ví dụ vào Phu Thê thì vợ chồng bất hòa? vào Điền Tài thì tranh chấp về Tài Sản? vào cung Tử thì đẻ con, khai sinh?)
Cần xem sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh để xét hoàn cảnh có nuôi dưỡng mình không?
Cần xét thêm sinh khắc giữa hành năm nhập hạn và hành Mệnh để biết tăng độ số hoặc giảm độ số (thêm hanh thông hoặc thêm trắc trở)

Trên 37 tuổi còn xét tương quan giữa hành Cục và hành sao tại cung Thân
Tiểu hạn là năm tam hợp với tuổi thông thường thì đàn bà tốt, đàn ông xấu, nếu là năm xung thì đàn bà xấu, đàn ông tốt (nhưng gặp xấu trước rồi mới tốt)
Vào năm xung lấy nhau thường dễ gặp khó khăn. Vào Năm tam hợp nếu gặp Đào Hồng Hỉ hoặc Tả Hữu Âm Dương đúng thế thì dễ lấy
Người Mệnh Âm thì ăn mạnh sao Dương hơn sao âm....

E. Cách xem tiểu vận

a) Có biến cố tốt, trọng đại xảy ra trong năm : Đẩu Quân
b) Thi đậu, thăng tiến công danh, làm ăn tốt : Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa
 Quyền Lộc, Long Phượng Hổ Cái, Mã ngộ Tràng sinh, Mã Khốc Khách, Đào
Hồng Hỉ , Phong Cáo, Quốc Ấn, Lưu Niên Văn Tinh..v.v..
c) Tình yêu, lập gia đình : Long Phượng Hổ Cái, Đào Hồng Hỉ, Thanh Long,
Riêu Y, Mộc Dục, Thai, Liêm Tham...v.v..
d) Vận tù tội : Sát Hình Phá, Liêm Hình, Liêm Phá + Sát tinh, Liêm Tham Tỵ
Hợi + Sát tinh, Bạch Hổ + Đường Phù và nếu thêm Thiên Không, Không
Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát thì càng rõ hơn...v..v..
e) Vận phát tài, làm giàu : Tham Vũ Lộc đồng cung, Lộc Mã, Song Lộc, Kiếp
Không Miếu ở Tỵ Hợi, Hỏa Linh Miếu, Sát Phá Tham Miếu Vượng Đắc
hợp với mệnh..v..v.
f) Vận tán tài : Song Hao hãm, Kình Đà..v..v..
g) Phát và Tán : Song hao Miếu..v..v.
h) Vận thay đổi : Thiên Mã, Thiên Đồng...v...v..

Khi xét Lưu Niên Tiểu Vận thì cũng xem ảnh hưởng của các sao lưu động vận hành trên các cung tùy theo từng năm xem hạn. 9 sao lưu động gồm Lưu Thái Tuế, Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Lưu Lộc Tồn, Lưu Kình Dương, Lưu Đà La, Lưu Thiên Mã.

- Lưu Thái Tuế : lưu Thái tuế tại cung nào thì kích động cung đó cho nên phải lưu ý đến cung đó. Mọi sự việc trong năm hay hoặc dở , xem hạn đều có liên quan mật thiết đến cung có Lưu Thái Tuế. Ví dụ Lưu Thái Tuế tại Tuất là cung Quan lộc, vậy trong năm Tuất những sự hay dở xảy ra đều có liên hệ đến cong danh sự nghiệp hay công việc làm ăn. Lưu Thái Tuế gặp nhiều sao sáng sủa đẹp đẽ thì hạn tốt đẹp may mắn, nếu gặp nhiều sao xấu mờ ám thì hạn xấu.

- Lưu Tang Môn Bạch Hổ : Cung nào có Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ gặp nhiều sát tinh hay bại tinh thì trong hạn sẽ gặp nhiều sự chẳng lành như ốm đau, tang tóc. Nguy hiểm nhất là Lưu Tang môn gặp Tang Môn cố định hay Lưu Tang Môn gặp Tang Môn đồng cung. Gặp trường hợp này nếu gốc Đại Vận xấu và không gặp sao giải lại mà gặp thêm nhiều sao xấu, tiểu hạn cũng xấu nếu không gặp sao giải thì tất ốm nặng có thể đi đến chổ mạng vong.

- Lưu Thiên Khốc Thiên Hư : Lưu Tang Hổ Khốc Hư cho biết những việc phải lo lắng, phiền não, ốm đau, buồn thương xảy ra tại các cung mà có các sao lưu này hội tụ. Cũng như Lưu Tang Môn Bạch Hổ, nguy hiểm nhất là lưu Thiên Khốc gặp Thiên Khốc đồng cung, lưu Thiên Hư gặp Thiên Hư đồng cung thì khó tránh được bệnh nan y hay tai ương bất ngờ nếu không gặp nhiều sao tốt đẹp cứu giải. Bộ sao Tang Mã Khốc Hư có vai trò rất quan trọng trong việc luận đoán sự sống chết nữa. Đôi khi bản thân lo buồn thì do thân nhân thường có nạn, khi thân nhân lo buồn thì chính bản thân cũng do gặp nạn.

- Lưu Lộc Tồn Kình Dương Đà La : Nếu Lưu Lộc Tồn gặp nhiều quí tinh, quyền tinh sáng sủa đẹp đẽ hội hợp nhất là gặp Lộc Tồn và Thiên Mã cố định thì mọi sự trong hạn đều hưng vượng hanh thông nhưng nếu gặp nhiều sát tinh và bại tinh như Không Kiếp Song Hao thì gặp nhiều bất mãn, phiền muộn , hao tán tiền bạc. Nếu Lưu Kình Dương và Lưu Đà La gặp Kình Dương và Đà La cố định đồng cung thì khó tránh được những tai nạn khủng khiếp. Đáng ngại nhất là Lưu Kình Dương hay Lưu Đà La gặp nhiều sát tinh hay bại tinh cũng gặp tai họa trong hạn nếu không gặp cát tinh cứu giải.

- Lưu Thiên Mã : Lưu Thiên mã chỉ sự di chuyển, hoạt động. Lưu Thiên Mã tại cung nào thì trong hạn có sự thay đổi hoặc có sự di chuyển liên hệ đến cung đó. Ví dụ: Tiểu vận năm Bính Tuất lưu Thiên Mã tại cung Thân là cung Phu Thê. Vậy trong năm Tuất có sự di chuyển, thuyên chuyển hay thay đổi nghề nghiệp có liên quan đến vợ hay chồng. Ngoài ra, nếu Thiên mã gặp Triệt, Thiên hình, Đại Tiểu vận xấu thì dễ xảy ra tai nạn, chia ly có liên quan đến cung có lưu Thiên mã rơi vào. Nếu Đại Tiểu vận tốt, Thiên mã không gặp Tuần Triệt thì có chuyện di chuyển, du lịch vui vẻ.

Thiên Mã Lưu Niên là con sao thường đem lại sự thay đổi quan trọng và ứng nghiệm mạnh mẽ hơn cả con Thiên Mã cố định. Bởi vậy khi gặp Tiểu hạn có Thiên Mã cố định đừng vội cho ngay là có sự thay đổi về nhà cửa, xe cộ hoặc sự di chuyển về mình hoặc cho thân nhân vì Thiên Mã cố định không ảnh hưởng gì nhiều đến hạn.

Lưu Lộc Tồn: Khi Lưu Lộc Tồn nhập vào Tiểu hạn thì đừng vội cho là có tiền ngay. Nhưng phải cần xem xét Tài Lộc đến ai mà là người được hưởng và tới bằng cách nào. Mình sẽ được hưởng khi Lưu Lộc Tồn nhập vào hạn liên quan đến những cung trực tiếp với mình như Mệnh Thân, Quan Tài Phúc Điền và còn phải ứng hợp với 1 Đại Vận thuận lợi nữa hoặc ít ra Mệnh Thân có yếu tố hoặc môi trường để được hưởng.
Trường hợp Lưu Lộc Tồn nhập vào cung Phụ Mẫu hay Huynh Đệ thì ít khi ta hưởng được tài lộc, nếu có thì may mắn lắm được hưởng gián tiếp khi cung nhập hạn có thêm Đào Hồng Hỷ, Thiên Quan, Thiên Phúc Quý Nhân, được như thế thì Cha Mẹ hay Anh Chị Em cho chút ít để xài.
Lưu Lộc Tồn gặp Lộc Tồn cố định không tốt bằng cách xung chiếu như thế tiền bạc sẽ dồi dào hơn vì do tiền cứ luân chuyển làm tiền sinh ra tiền, chứ hai lộc gặp nhau ở một cung thì giống như tiền bỏ vào quỷ tiết kiệm cùng lắm chỉ ăn được tiền lời thôi. Ngoài ra Lộc Tồn cần gặp Lưu Thiên Mã chứ không cần gặp Thiên Mã cố định vì Lộc Tồn tượng trưng cho tiền bạc hàng hóa nếu đem chất lên một chiếc xe không chạy đi đâu thì thật là vô ích.
Có trường hợp Lưu Lộc Tồn đóng cung Tài Bạch gặp Lộc Tồn cố định ở cung Phúc Đức xung chiếu là những cung liên quan trực tiếp đến mình mà năm đó vẫn chẳng có chút lộc nào để hưởng là vì Mệnh có Địa Kiếp hội với Phá Quân, tưởng năm đó số mình được hưởng nhưng lại không phải vì cả năm đi lãnh tiền về để phân phát cho thiên hạ mà mình trái lại chẳng hưởng được đồng nào.

Lưu Kình Dương
Khi thấy sao Kình Dương hầu hết mọi người đều sợ dù nó đóng cố định hay nhập hạn vì bản chất của nó dể đưa đến chuyện xui xẻo chẳng lành. Nhưng theo kinh nghiệm cho thấy dù nhập hạn gặp Kình Dương cố định chưa có gì đáng ngại cho lắm trừ khi có thêm nhiều yếu tố ác sát tinh khác tăng cường. Ngược lại, khi Tiểu hạn có Lưu Kình Dương đóng ở 4 cung Tí Ngọ Mão Dậu dù không có thêm yếu tố xấu khác vẫn thường có chuyện không hay xãy ra, nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào sự chế hóa của cung nhập hạn hay từ cung tam hợp mà ảnh hưởng đến chính mình hay cho thân nhân.
Ta có thể ví sao Kình Dương cố định như một tên trộm vác cuốc đi đào mệt quá đang ngủ , còn Lưu Kình Dương như một tên trộm khác đang thức vác cuốc đi đào đất ăn cướp vàng . Như vậy, tên trộm đang ngủ không nguy hiểm bằng tên trộm đang thức để đào đất. Tuy nhiên, khi Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định như tên trộm đang thức làm cho tên trộm đang ngủ tỉnh dậy cùng họp sức khiến cho sức phá hoại càng mạnh mẽ ác liệt thêm. Còn trường hợp Kình Dương cố định gặp Kình Dương xung chiếu thì đừng tưởng rằng sự nguy hiểm giảm bớt đi nhưng trái lại còn đáng lo ngại hơn vì cả hai đang ở thế gọng kìm hoặc 2 mặt giáp công khó có đường mà tẩu thoát. Còn nếu Lưu Kình Dương ở cung xung chiếu không gặp Kình Dương cố định thì vẫn cẩn thận như thường vì ảnh hưởng của nó vẫn mạnh mẽ dù ngay cả khi nó nhập hạn ở vào 1 trong cung tam hợp thì cũng vẫn có ảnh hưởng chút đỉnh. Nếu chẳng may Tiểu hạn rơi vào cung Thìn Tuất tức La Võng Chi Địa hội thêm Cô Quả Hình Linh thì thực là đại họa.
Khi Lưu Kình Dương nhập hạn coi thử có ảnh hưởng đến mình hay cho thân nhân thì nhận định như sau :
Ví dụ Tiểu hạn đi đến cung Tật Ách có Lưu Kình Dương ngay tại cung này. Nếu Đại Hạn không nhìn thấy liên quan đến cung Tật Ách và Mệnh thì đương số gần như an toàn nhưng cha mẹ, anh chị em bị ảnh hưởng vì cung Phụ Mẫu ở thế xung chiếu và cung Huynh Đệ ở thế tam hợp. Nếu thấy cung Phụ Mẫu có nhiều yếu tố khác xấu hơn cung Huynh Đệ như bị Lưu Tang Môn, Lưu Khốc Hư thì cha mẹ gánh chịu. Cũng trong trường hợp này nếu Mệnh đương số xấu, Đại Hạn cũng xấu mà Lưu Kình Dương nhập hạn vào những cung liên quan đến mệnh thì đương số lãnh đủ hết ảnh hưởng của Kình Niên và ít khi cha mẹ hoặc anh chị em bị chịu lây.
Trong trường hợp Tiểu hạn đi đến cung Điền Trạch nếu có Lưu Kình Dương nhập hạn mà Đại Tiểu hạn không trùng phùng thì dù mệnh đương số không tốt cũng không đáng lo ngại vì cung Điền trạch không gây trực tiếp đến cho bản Mệnh mà trái lại gây ảnh hưởng đến cung Tử Tức và cung Huynh Đệ. Lúc đó chỉ cần coi cung Tử Tức và Huynh Đệ cung nào chịu ảnh hưởng khắc xấu trong năm mà xét đoán. Nếu cung Tử Tức có Kình Dương cố định trong khi cung Huynh Đệ có Quan Phúc, Hóa Khoa, Khôi Việt thì chắc chắn con cái bị ảnh hưởng nguy hiểm còn anh chị em thì không việc gì.

Lưu Niên Đại Vận
Khi xem, phải xem gốc Đại vận chủ về cái gì rồi Tiểu vận một năm ăn từ gốc ấy mà ra. Thí dụ vào Đại Vận phát tài thì các Tiểu hạn hướng về phát tài, Đại vận chủ về công danh thì các Tiểu hạn hướng về công danh. Xem gốc Đại vận phải cộng cung chính và 3 cung xung hợp chiếu.
Nhìn vào lá số thấy các Tiểu vận dàn ra trên 12 cung và cứ 12 năm lại gặp lại một lần không lý các diễn biến lại diễn ra đúng như trước?? Dỉ nhiên là không phải như vậy. Vận số một năm như thế nào là do cung của Tiểu vận cho biết nhưng còn tùy thuộc vào Mệnh và Phúc đức cùng những cung chính và cũng tùy theo Đại vận nữa. Một trong những cách giải đoán vận hạn một năm là nhập các sao Tiểu Vận và Đại Vận vào mà giải đoán.
Khi xem hạn cần phải xem Lưu Niên Đại Vận nữa. Lưu Đại Vận là một cung cho biết cái hướng của vận hạn trong năm đó và tính từ gốc Đại vận giống như người tài xế lai xe hay dở thế nào. Vậy phải nhập cung Lưu Niên Đại Vận vào mà giải đoán. Xem Lưu Đại Vận cũng phải đủ cung chính và 3 cung xung hợp chiếu. Khi phối hợp Tiểu Vận một năm với Lưu niên Đại Vận một năm để xem. Tiểu vận một năm cho biết diễn biến của sự việc, còn Lưu Niên Đại Vận cho biết kết quả của sự việc

Luận Sắc Không trong Tử Vi

Luận Thiên Không

Thiên Không hiểu theo triết lý nhà Phật mang ý nghĩa “sắc sắc không không”. Thiên Không là "Mục không nhất thiết" nghĩa là không màng chuyện đời hay không coi chuyện đời ra gì, nhưng khi đảo ngược thì lại thật tha thiết với chuyện đời để chuyển thành mưu chước thủ đoạn.

Thiên Không luôn đi cùng Thiếu Dương và hợp cùng tứ Đức. Thiếu Dương và Tứ Đức đại diện cái Thiện. Mặt khác, Thiên Không luôn luôn có Đào Hoa và hoặc Hồng hoặc Hỉ hội tụ. Bộ ba Đào Hồng Hỉ chính là đại biểu "sắc". Bởi thế nên nội tâm người TK luôn bị dằn vặt của sắc và không.


Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ), không trừ một ai, không kể thời gian tuổi tác, nó đến để làm tình làm tội hay để tôi luyện con người thành Đức Hạnh hơn còn tùy thuộc vào nhân quả và nhận thức của từng cá nhân.

Vào hạn Thiên Không là hạn quả qua những năm tháng gieo nhân. Như vậy sao Thiên Không chủ sự đáo hạn (cái chết cũng là đáo hạn của cái sống), đến hẹn, những gì có tính hạn kỳ thì nay xuất hiện, hạn kết thúc, hạn mở ra con đường mới. Vì mình được sinh ra, được thành thân này nên nói tấm thân này của mình cũng đúng, nói là của cha mẹ cũng đúng.

Người ta thường nghĩ nặng chữ KHÔNG trong sao Thiên Không nên sợ đủ thứ, nhưng thật ra trước khi nó là KHÔNG thì phải là cái CÓ trước, Có để mà Không. Tất cả những gì đã lâu không giải quyết được hoặc ta đã quên, hoặc nó nằm im lâu ngày thì vào hạn Thiên Không sẽ xuất lộ, kể cả việc ly hôn, chữa bệnh, trả nợ, vay mượn, lục lại hồ sơ cũ, tìm hoặc gặp người hoặc vật đã bị thất lạc ... tức cái Có của cái Không cũ xì nó tới.


Mệnh có Thiên Không + Hồng Loan là người có tư cách thanh cao, thích an nhàn, ẩn dật, và khuynh hướng xa lánh trần tục rất rõ ràng. Hai chữ “không hồng” với quan niệm triết lý của nhà Phật, phải chăng là không vướng bụi hồng trần? Người Hồng Không là người ít màng chuyện đời, muốn tìm nơi vắng vẻ mà tu, hoặc sống nhiều với nội tâm, thích đóng cửa đọc sách, cô quạnh hay tự đặt mình, làm cho mình cảm thấy cô quạnh kể cả ở nơi đông vui.
------------------------

Luận Đào Hoa

Bộ Thiên Không Đào Hoa đồng cung: chủ họa đến bất ngờ, nhanh chóng

Ví dụ: tại Di thì ra đi bất ngờ, làm gì cũng bất ngờ, tại Tật Ách thì chết bất đắc kỳ tử, chết vì đau tim bất ngờ, tại Điền thì mất nhà cửa bất ngờ, tại Tài thì vỡ nợ, bị giật tiền...., tại Quan Lộc thì quan trường gãy đổ bất ngờ, tại Tử Tức thì con cái chết bất ngờ tuổi thanh xuân, tại Nô thì vợ chồng chia tay bất ngờ, tại Huynh Đệ thì có anh chị em chết bất ngờ. Hạn gặp Không Đào thì xui xẻo tới bất ngờ, ví dụ như Không Đào tại Nô thì đề phòng chồng chết bất ngờ vì tim mạch, bạn bè chơi với nhau không bền....

Một điểm đặc biệt khi coi phu thê là cung phu thê chỉ cho ta coi hoàn cảnh khi gặp gỡ, còn khi sống chung đã thành lập gia đình thì phải coi cung Nô làm quan trọng hơn. Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng bay bướm... Coi ly dị khi vợ chồng đã có con thì coi cung Nô, ví dụ như Âm Dương lạc hãm cách cung và chiếu Nô thì hai đời....

Đào Hoa Thiên Không đồng cung: hoa rơi
Đào Hoa Địa Kiếp đồng cung: hoa héo
Đào Hoa thuộc Mộc, Mộc Dục thuộc Thủy, gặp nhau thi độ số gia tăng
Đào Hoa cư Dậu thì duyên phận bẽ bàng, cư Tí thì lẳng lo, cư Mão thì tốt đẹp

Đào Hoa tại Mệnh thì xấu (mê trai, gái), chiếu Mệnh mới đẹp (người khác mê mình). Gặp Thiên Không đồng cung càng xấu thêm. Đào Hoa cư Mão đẹp nhất (có duyên, lập gia đình sớm, tươi tắn...), kế đến là cư Ngọ (nhưng kỵ gặp Tử Vi đối với Nữ Mệnh). Còn tại Dậu và Tí thì xấu. Tại Dậu thì như hoa héo, là cách lấy vợ thừa, thất tiết, không đứng đắn, hoặc về già mới lập gia đình, lấy trễ. Xấu nhất là gặp Không Kiếp, kế đến gặp Linh Hỏa. Gặp Tuần Triệt ví như hoa bị ngắt. Gặp Thiên Hình Không Kiếp thì bị bề hội đồng. Đào Hoa tại Tí gọi là phiếm thủy, chủ dâm dật, đàn bà thì lãng mạn, dễ mắc vào tình ái, nếu gặp Thiên Không đồng cung thì tuy thông minh nhung đường chồng con không khá, bị chồng bỏ... 

Trên 50 tuổi nếu Đào Hoa thủ hạn thì cần chú ý vì dễ bị bệnh nặng, chiếu hạn thì không sao,chỉ bị bệnh mà thôi. 

Tử Vi cư Ngọ gặp Đào Hoa đồng cung, đối với Nữ Mệnh gọi là Đào Hoa phạm chủ, chủ dâm dật, chỉ cách lấy nhau trái luân thường đạo lý như cách thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau....

Đào Hoa cư Nô thì đàn ông mới xấu (lấy tớ).

----------------------------------------------------

Sao Đào Hoa ở mỗi cung khác nhau, có ý tượng rất khác nhau:

Đào Hoa ở cung mệnh đã có tư tưởng lại cũng có hành động;

Đào Hoa ở cung tử tức thì nghiêng về việc trọng sắc dục;

Đào Hoa ở cung phu thê tất nghiêng về luyến ái bên ngoài;

Đào Hoa ở cung tật ách tất nghiêng về mặt quan hệ xác thịt, đụng chạm;

Đào Hoa ở cung phúc đức tất trọng về mặt cảm quan tinh thần;

Đào Hoa ở nô bộc tất là có ham mê về các tình cảm khuyến dụ từ bên ngoài.

Đào Hoa Có Chia Nội Đào Hoa Và Ngoại Đào Hoa.

Nội Đào Hoa chủ sự lãng mạn trong đời sống vợ chồng, sự sinh hoạt cũng thường xuyên, như các sao Xương Khúc.

Ngoại Đào Hoa tất là chủ các quan hệ luyến ái ngoài hôn nhân, như các sao Thiên Diêu, Hàm Trì.

Gặp Đào Hoa mà đưa đến phá tài, mang tiếng xấu, điều xấu, hôn nhân bất lợi, gọi là “Đào Hoa Kiếp”. Đào Hoa gặp Không,Kiếp, Đại Hao, hoặc gặp xung Tài Lộc Tinh, dễ phát sinh “Đào Hoa Kiếp”.

Đào Hoa mà đưa đến Quan Tư Tù Ngục, gọi là “Đào Hoa Sát”. Đào Hoa Tinh gặp Dương Đà Hình Bạch Hổ Quan Phù Phá Toái cũng coi là các tổ hợp đưa đến tù ngục hình hại, nó rất dễ sinh ra “Đào Hoa Sát”

Cung Phu Thê có Mộc Dục, Hàm Trì, chủ Đào Hoa có tính thực dụng (Nhục Dục Đào Hoa); Liêm Tham Tỵ Hợi (Nam Nữ đồng luận như nhau) hội thêm Sát Tinh, thì đó là Đào Hoa Nhục Dục hoặc thực dụng. Tham ở Hợi Tý gặp Dương Đà là “Đào Hoa Phiếm Thủy”(Bèo dạt mây trôi), cũng là một loại Đào Hoa Nhục Dục; Liêm trinh hội Hàm Trì lại hội Văn Khúc, là Đào Hoa mang tính tinh thần (Tức chỉ mang tính bạn bè mà không có sắc ái tình); Tham Lang hội Đà La là rất mực Phong Lưu, là Nhục Dục Đào Hoa, chủ có việc về tửu sắc; Đồng Cự hội Văn Khúc, là Đào Hoa Tinh Thần, nữ mệnh có thể nghiêng về Đào Hoa thực dụng; Liêm Cự hội Thiên Diêu, dễ có Đào Hoa thực dụng; Hồng Loan hội Thiên Diêu, là Chân Đào Hoa vậy(Mang tính thực dụng).

Đào Hoa = Đời sống tình dục; Hồng Loan = Cuộc sống hôn nhân và sự thủy chung; Thiên Hỷ = Cưới Hỏi và Sinh nở

-----------------------------------------------------------
Sưu tầm: Agape & others