Hiển thị các bài đăng có nhãn buudinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn buudinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

Sao vs. Cung, thế giới duy tâm và thế giới vật chất?


Có rất nhiều lá số cung này đẹp, cung khác đẹp, nhưng rốt cuộc lại không phải như vậy.

Từ đó làm cho lá số càng thêm phức tạp, gò bó, càng lúc bí hiểm và khó hiểu.

Vậy sao chúng ta không thử 1 lần trải rộng mình ra, thoải mái và nhẹ nhàng như những cơn gió, thoát ly khỏi sự gò bó của những cung vị để hiểu rõ nỗi lòng của đương số?! Gì mà phu thê, tử tức, gì mà phụ mẫu, nô bộc, huynh đệ, cần phải tạm quên chúng đi. Trước mắt chúng ta chỉ là 14 chính tinh, tượng trưng cho 14 ông thần quản các việc khác nhau, cùng với các vòng thái tuế, thiếu dương thiếu âm và các tinh đẩu khác sẽ đi cặp với các ông thần đó. Vậy các ông thần đó nói gì?

-Liêm Trinh: "Chào bạn, ta là thần liêm chính, công minh chính trực"
-Thái Dương: "Ô hô, chào bạn, ta là thần mặt trời, là một bố già quảng đại"
-Thiên Tướng: "Này thím, sớ rớ lại đây làm gì đây, hỏi về chuyện tình yêu phải không? Khôn đấy, thím tìm đúng người rồi đấy, yêu đương thì cứ hỏi ta, ta mách nước cho. Nhưng mà muốn hỏi về việc gia đạo, thành gia lập thất thì phải qua bên kia sông hỏi ông thần Phá quân đó"

-Phá Quân: "Các con tới đây làm gì đây, muốn làm lễ thành hun phải không?! Muốn thì thành khẩn cầu xin vào"
...vv...

Vậy khi các ông thần đi với các sao sát sẽ như thế nào?

-Thiên tướng cô quả: "Ôi, nơi ta đứng thật là hiu quạnh, thật là buồn tẻ. Người tình ơi, người tình đi đâu mất rồi, để ta một mình chơ vơ chốn này. 
-Liêm trinh không kiếp -> một ông thần bất chính
..vv...

-----------------------------------------

Như vậy, bản thân số này thần tình yêu (thiên tướng) đã lắc đầu nói: "No, ta không có tình yêu". Nhưng may thay, ông thần phá quân đối cung lại bảo: "Ừ, yes, ta có nghĩa vợ chồng". Nên tóm lại, người này lập gia đc nếu sống vì nghĩa, trọn nghĩa mà không trọn tình.

Vậy cung thê thái âm miếu cùng một loạt cát tinh nói lên điều gì? Chỉ là gia thế, bề thế và địa vị của người vợ thôi.

Khi quên đi hết cung vị, ta có thế giới duy tâm.
Khi trở lại thực tại với những cung vị rõ ràng, ta có thế giới vật chất.

-----------------------------


Kiếm chiêu chính tông Nam phái không có gì khó hiểu. Cái làm cho giới hậu học chúng ta không hiểu là do chính sự nhanh nhảu đoảng của chính chúng ta.

Tôi lấy một ví dụ cụ thể. Khi bạn đọc định nghĩa về sao thiên cơ. Sách có định nghĩa rất rõ thiên cơ chủ về huynh đệ. Nếu bạn bỏ qua chi tiết này mà đọc tiếp, thì bạn vẫn chưa thực sự nhận ra có cái gì đó không thông cho lắm, có cái gì đó vẫn lấn cấn và rất khó hiểu. Nó khó hiểu ở chỗ nếu thiên cơ chủ về huynh đệ rồi, thì cung huynh đệ có chức năng gì???? Chúng ta đã có 1 sao chủ về huynh đệ, rồi lại còn 1 cung tên là huynh đệ nữa, vậy thế là thế nào? Nếu thiên cơ đóng cung huynh đệ thì ta có sao huynh đệ nằm cung huynh đệ, ok, chuẩn không cần chỉnh. Nhưng nếu thiên cơ không nằm cung huynh đệ mà lại nằm cung khác, vậy phải hiểu ra làm sao, như thế nào? Chẳng lẽ có đến 2 cung huynh đệ??

Nhưng nếu bạn hiểu theo 1 cách khác, phân nó ra làm 2 tầng khác nhau, thì bức tranh về lý số sẽ vô cùng kì diệu. Mỗi người sinh ra đều được các sao (tinh đẩu) chiếu mạng theo các quy luật khác nhau, và các tinh đẩu như các thực thể, vì vậy nó sẽ biểu thị chất tình, đại diện cho thế giới nội tâm, thế giới duy tâm, nội tại. Các cung vị đuợc thiết lập trên bàn số với các tên cụ thể như cung quan lộc, cung phu thê, cung nô bộc,..vv... đó đều là những quy ước của con người đặt ra, vì vậy nó mang lý tính, đại diện cho hoàn cảnh vật chất, thế giới duy vật.

Như vậy, trở lại ví dụ trên, thay vì định nghĩa thẳng về sao thiên cơ và cung huynh đệ, bạn hãy tự đặt 2 câu hỏi:
1/ Tình cảm của tôi với huynh đệ như thế nào? Thân thiết hay bàng quan, lãnh cảm? Muốn biết, hãy nhìn vào sao thiên cơ và các sao đi cùng với nó.
2/ Huynh đệ của tôi giàu hay nghèo, làm ăn có tốt không, sống cô độc hay lập gia đình? Đó lại là cung huynh đệ, hãy xem trong đó chứa những gì?

Một ví dụ khác, thái dương là cha, thái âm là mẹ, sách nào cũng định nghĩa như vậy. Có bao giờ bạn đọc lấn cấn về việc khi vừa có 1 sao cha, vừa có 1 sao mẹ, lại vừa có 1 cung gọi là phụ mẫu, thế này là thế nào? Đó là 1 điểm mù trong tư duy mà rất rất nhiều người xem số cho qua và không bàn tới nó. Như vậy là không thực sự hiểu về nó rồi.

Nhưng nếu tôi thêm vài chữ, thì đọc sẽ hiểu ngay. Thái dương là tình cảm đối với người cha, thái âm là tình cảm đối với người mẹ. Tình cảm đó như thế nào, thì phải xem 2 tinh đẩu đó đi với sao gì. Nhưng nếu câu hỏi bạn là địa vị của cha mẹ, hoàn cảnh và tuổi thọ của bố mẹ, thì tất nhiên phải dòm vào cung phụ mẫu, chứ làm sao dòm 2 thằng âm dương được?!

Vậy còn thiên đồng, thiên đồng là gì, là trẻ con sao? Ồ không, không đâu. Thiên đồng là mối quan hệ, tình cảm với con cái đấy. Còn muốn biết con cái có thành đạt, giỏi dắn hay không, tất nhiên xem cung tử tức rồi.

Tướng phá thì quá rõ rồi còn gì. Tướng là tình yêu trai gái trong khi phá là tình nghĩa vợ chồng.

..vv...

Có thế thôi, thế giới duy tâm và thế giới duy vật. Đỉnh cao của kiếm tông Nam phái đâu nằm ở những cái khó khăn. Đơn giản vẫn là nhất.

Tất nhiên mỗi phái có cái hay riêng, nhưng kiếm tông Nam phái vẫn dựa trên những điều mẫu mực, chuẩn mực nhất.

Vài dòng kinh nghiệm, cùng nhau nghiệm lý


St - Atula07

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2016

Bệnh lý (tvud)


PHẦN 1
BỆNH TÂM THẦN


Bệnh tâm thần là bệnh thần kinh, gọi nôm na là bệnh điên, điên cuồng tùy trường hợp bệnh nặng nhẹ người ta thường nói khùng, chạm mạch, mass, loạn thần kinh,... rối loạn thần kinh. Từ chính thức đúng với TỬ VI là bệnh thần kinh.
Hai sao HỎA LINH là 2 sao chủ thần kinh trong con người. Khi bị hưng phấn thái quá đi với KÌNH, hay bị đè ép thái quá đi với ĐÀ dễ sinh ra cuồng điên với 2 trạng thái: “hưng phấn và trầm cảm”.
Một người nổi tiếng nói, đại ý là; “trong ngày dễ bị điên đầu trong 5 phút”. Trong 5 phút ấy bình tâm trở lại thì dễ qua thôi. Theo người ấy. Mọi người dễ mắc chứng cuồng điên.
Có thật thế không?
HỎA LINH tác động vào Mệnh, chỉ có 1 phần 3 số người có khả năng mắc phải. Hai sao này còn có tác động tại Tật Ách cung làm cho số người mắc phải càng lên cao, chiếm 2/3. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng tại đại hạn, nhất là 10 năm qua đó có nguy cơ mắc phải cũng lên rất cao.
HỎA LINH là 2 sao giận hờn, từ giận hờn thần kinh bị căng thẳng, ức chế nó sinh ra trầm cảm, khiêu khích thái quá sinh ra hung dữ. Vì thế bệnh thần kinh thường có 2 dạng hiền và dữ. Người ta thường bảo “nổi điên” (HỎA KÌNH) đâm chém lung tung (hoặc chưởi bới, hoặc đập phá…). Trầm cảm nặng (ĐÀ ĐẠI HAO) thì xa lánh mọi người ngại giao du tiếp xúc, thậm chí là sợ hãi. Nhẹ thì vẫn sinh hoạt bình thường nhưng vẫn là con người kín đáo, ngại tiếp xúc.
HÌNH DIÊU Y.
Bộ sao này kỵ gặp ở Tật. Bộ HỎA LINH kết hợp với THIÊN HÌNH DIÊU Y còn dễ bị mắc phải hoang tưởng, tức tâm thần phân lập. Ta đây là thần, là thánh… là thượng đế sai xuống, là con của Chúa trời, thậm chí là chúa trời. Càng hoang đường hơn đi với các bộ THIÊN HƯ , ĐƯỜNG PHÙ xa rời thực té.
Bộ HÌNH DIÊU Y nếu đóng tại Tật rất kỵ bộ PHỦ TƯỚNG. Cả bộ sao này đều kỵ THIÊN HÌNH và trong trường hợp tại Tật có ông THIÊN SỨ, càng dễ ngộ nhận mình là sứ giả của trời. đại diện cho ai đó toàn là thần thánh. “Hình như là “ trong đám mê muội (DIÊU) ấy, cố tạo dáng (HÌNH) và “y như” thần thánh, tiên phật. Và một khi có bộ PHỦ TƯỚNG tại Tật. Mệnh thường có THIÊN ĐỒNG, một ngôi sao rất bốc đồng. Mệnh thì ưa bắt chước ai đó, Ách cung lại thích tương đương với ai đó. Nêu như HỎA TINH tại Mệnh, LINH tại Tật ắt có chuyện.
Chính tinh nào kỵ HỎA LINH?
Nhóm TỬ VŨ LIÊM có VŨ KHÚC rất kỵ HỎA LINH.
Nhóm SÁT PHÁ THAM có SÁT PHÁ rất kỵ HỎA LINH.
Nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG có THIÊN ĐỒNG.
CỰ MÔN cũng kỵ HỎA LINH, như CỰ HỎA KÌNH và nhất là cách CỰ ĐỒNG.
Chỉ có 2 chính tinh là THAM LANG và TỬ VI hợp với LINH HỎA.
VŨ KHÚC
Là ngôi sao có những uẩn khúc rất khó nói. Rất kỵ HỎA, lửa bốc dùng vũ lực không kềm chế được. Rất kỵ gặp cách LINH XƯƠNG LA VŨ. Tính uất ức càng cao, giải bày càng khó, đôi khi cũng chỉ vì 1 lời xúi giục nào đó, mà có thể là lời khuyên tưởng chừng như đứng đắn nhưng lại theo lời khuyên đó… đắng ngắt. Từ đó uẩn ức sinh bệnh.
SÁT PHÁ
Sát Phá lại càng dễ điên hơn ai hết. Vì chính PHÁ QUÂN dễ gặp hoàn cảnh lộn xộn, rối loạn như tơ vò. PHÁ QUÂN tốt là tự gỡ rối tơ lòng, nhưng đâu phải PHÁ QUÂN nào cũng được thế, chỉ làm rối ren thêm và vì thế người ta thường nói điên loạn. Điên là Hỏa, loạn là Phá. Và THẤT SÁT luôn luôn tam hợp với PHÁ QUÂN tính thất thường sao này rất cao, vui buồn mỗi ngày 7 sắc mặt khi đi với HỎA LINH
CỰ ĐỒNG
Bộ sao này đi với HỎA LINH có tính khác thường, vì thế bị phê dị chí. Nhưng nếu chỉ dừng ngang đó thôi thì CỰ ĐỒNG HỎA LINH không đáng ngại nhưng gặp thêm KÌNH DƯƠNG thì cũng nổi khùng thậm chí là tự sát. Vì CỰ luôn luôn phản đối, phản đối không thành dễ nổi khùng mà tự sát.
Trong 3 cách VŨ HỎA, SÁT PHÁ HỎA, CỰ ĐỒNG HỎA. Đáng sợ là là cách SÁT PHÁ HỎA có KÌNH gia VIỆT HÌNH nổi điên dùng hỏa khí giết người hàng loạt như ta thường thấy, nhất là ở Mỹ, nơi súng đạn dễ tìm kiếm, mua sắm. Kể cả đại liên cũng bán.
Nếu đem trắc nghiệm tâm lý những kẻ giết người đó không có điên đâu, thậm chí là thông minh. Nhưng họ là kẻ điên đáng sợ nhất. Ngay cả những kẻ tìm cách gieo rắc chiến tranh, cũng là kẻ điên nhưng ở cương vị lãnh đạo. Đố ai dám bảo họ điên. Xô đẩy cả dân tộc sống trong lò lửa chiến tranh, làm cho các dân tộc khác cũng lo soạn sửa lại khí giới.
Hai ngôi sao điên cuồng HỎA LINH bốc cao khi có KÌNH, bộc phát khi có KHÔI VIỆT. Nguy cơ tiềm ẩn trong cung Mệnh và cả cung Tật. Nếu gặp ở hạn thì qua hết hạn rồi thôi.
Cuộc sồng người ta dễ điên đầu vì những câu nói. Dễ diên đầu vì những áp lực do SÁT PHÁ gây ra. Từ đó THẤT SÁT gây ra khủng hoảng về địa vị, kinh tế, tình cảm… làm người ta dễ nổi tam bành lục tặc (tam bành là SÁT PHÁ THAM, lục tặc là CỰ NHÂT và CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG giao hội với nhau).
Bộ SÁT PHÁ đi với HỎA đã là khủng hoảng thần kinh rồi. Vốn là nhóm sao chịu nhiều áp lực, gặp HỎA có tính nhanh mau. Áp lực tăng quá nhanh chịu không nổi. Cứ y như 2 vật cọ sát vào nhau sinh nhiệt dễ cháy.
Không may bản thân mình có các sao kể trên tại Mệnh Tật giữ tình cảm cho ổn đinh, nếu người thân bị như thế, cũng không chê bai, trách móc, nói xa gần làm tinh thần họ dễ bị tổn thương. Thường chỉ sau vài ba phút, nửa giờ tinh thần ổn định trở lại.
Chúng ta dễ bị ấn tượng những câu nói, cả những câu viết… dễ điên không kìa thế mà nói được, viết được.. Có lúc ông thầy giáo dùng vũ lực với học trò vì vượt qua ngưỡng VŨ HỎA giờ thêm VIÊT HÌNH KÌNH
(tham khảo Lá số Nữ THÁI ÂM sáng của F13, Dường Nữ sinh 22/9 Giáp Dần giờ Tý)


PHẦN 2
BỆNH THẬN


Đó là bộ HƯ HAO. THIÊN HƯ TUẾ PHÁ là sao gây ra hư hỏng, Sao này còn gây ra răng xấu và làm các phủ tạng đi theo sao này dễ bị hư hỏng. Người có biểu hiệu bên ngoài bị đau thận, mắt thường bị quầng. Thận là cơ quan bài tiết trong cơ thể. Vì thế liên quan trực tiếp đến sao HAO. Chủ về bài tiết, một khi HAO ngộ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ đóng tại Thân Mệnh Tật đều có thể bị bệnh liên quan về thận. Nhất là đi với KỴ HÌNH, KHÔNG KIẾP. Chủ yếu là 2 cung Thân và Tật
Từ bộ HƯ TIỂU luôn luôn có KÌNH hay ĐÀ là lo chống đỡ với bệnh tật tại thân thể. Vì thế có KHÔNG KIẾP bệnh tật càng dễ phát triển, nguy cơ càng cao. Có thêm KỴ cũng thế.
Thân lại nhị hợp hay lục hội với Tật lại càng khó khăn thêm.
Nếu may mắn có các sao sau đây tại Thân, hay nói cách khác nếu có các chính tinh đi theo, kềm chế bộ HƯ HAO hợp cách nhất là THIÊN LƯƠNG, bộ PHỦ TƯỚNG, bộ TỬ TƯỚNG…
Vì sao? THIÊN LƯƠNG chủ thầy thuốc giỏi, lại có tiền (có tiền mới chữa được bệnh, chữa trị là TRIỆT ) tất nhiên THIÊN LƯƠNG tốt đẹp. Sao này đóng Thân Mệnh chủ thọ là thế, nhờ có tiền, có thầy thuốc giỏi, có lương tâm.
Bộ PHỦ TƯỚNG ngoài sự trợ giúp được mọi người thương mến che chở, trong đó có sự trợ giúp của tiền bạc. Vì thế cũng cần thiết để chạy chữa. Ngoài ra, PHỦ TƯỚNG còn chủ nối, ghép là THIÊN TƯỚNG khâu quan trọng trong phẫu thuật… thương tích ở tay chân dễ có cơ hội hàn gắn. Bộ PHỦ TƯỚNG đóng tại Thân rất tốt, ngược với sao VŨ KHÚC chủ cắt.
Bộ HƯ HAO dễ gặp tại các tuổi:
BÍNH ĐINH MẬU KỶ NHÂM QUÍ. Kể cả các trường hợp HƯ tam hợp với HAO.
Bởi thế có câu:
“KÌNH HƯ TUẾ KHÁCH gia lâm. Mãn thế đa phùng tang sự”.
Suốt đời gặp nhiều chuyện buồn phiền. Tang sự không có nghĩa chỉ là tang tóc. Tất cả chuyện xấu xa trong gia đình của là tang sự, rong nhà có chuyện buồn phiền người ta còn dùng từ. Ví dụ. Trong nhà có “nhớp” anh ạ. Có chuyện buồn gì đó không tiện nói ra, nhất là vấn đề tang chứng càng khó giải thích. Vì khi có KÌNH HƯ tất có KÌNH TANG trong đó. KÌNH HƯ đóng tại Thân dễ chống đỡ với những căn bệnh trong người, vì có cái gì đó bị HƯ. Đó là cách hư thân, đóng tại Mệnh dễ mất nết.
Các tuổi Giáp Ất Canh Tân không hình thành bộ HƯ HAO nhưng TIỂU HAO gặp Sát tinh, KỴ HÌNH thì cũng thế thôi.
Người thay thận phải là người có của.
Và thay đổi là sao gì ? Là ĐẠI HAO chủ thay đổi, thay thế đồng thời nó đóng tại cung Thân, có nghĩa là thân thể có sự thay đổi, thay thế về phủ tạng, tức THIÊN PHỦ, tiếp nối , lắp ghép là THIÊN TƯỚNG.
Năm thay đổi thay thế phải là năm Đinh Kỷ chứ không thể là chữ Quý bị xung. Chữ Đinh hợp hơn chữ Kỷ vì có thêm TRIỆT. Không TRIỆT cũng dễ chết. (tham khảo lá số Thay Thận F13, Âm Nữ sinh 19/12 năm Đinh Dậu giờ Dần)


PHẦN 3 BỆNH UNG THƯ
Dựa vào đặc điểm đó ta có 1 số công thức cơ bản để xác định bệnh ung thư qua Tử vi. Những lá số có các cách sau đây tỉ lệ ung thư sẽ rất cao.

  • TẤU THƯ+BỆNH PHÙ (DIÊU Y)+KHÔNG KIẾP
  • LƯU HÀ +BỆNH PHÙ (DIÊU Y)+KHÔNG KIẾP
  • LIÊM TRINH+ +BỆNH PHÙ (DIÊU Y)+KHÔNG KIẾP
Ba cách trên có tại Mệnh hoặc Thân hoặc Tật hoặc Đại Hạn.
Ung thu bộ phận nào? Cái gì thì mời các bác triển khai tiếp.

Tấu Thư, Lưu Hà chủ tích tụ, Bệnh Phù chủ bệnh tật, sự suy giảm, xu hướng xấu đi. Diêu Y chỉ sự rối loạn. Liêm Trinh chủ lâu dài...Không Kiếp chủ tai họa làm mất cân bằng gia tăng đột biến...Ngàoi ra có thể Thêm Hóa Kị, Thiên Hình.....và một số sát tinh khác.

-------- TVUD



Bệnh chứng:


Thiên Hư:
- Thân thể suy nhược
- Kiệt sức

Hỏa Tinh:
- Phát sốt
- Viêm tấy
- Bỏng rát
- Ngứa

Linh Tinh:
- Đau
- Ù ù

Kình Dương
- Đau buốt (cấp tính)
- Đau nhói do bị đâm đụng
- Sưng
- Nổi hạch
- Phát chứng nhanh chóng

Đà:
- Nồi u
- Đau dài lâu

Phá Toái:
- Ung Thư
-Rách bể-vỡ
- Rữa nát

Phi Liêm
- Ngứa
- Nấm ngứa

Âm Sát
- Thâm đen
- Ngứa dẫn đến hoại tử
- Độc tố

Thiên Việt đi với Thiên Hình
- Xơ hóa
-Cắt bỏ

Thiên Khôi
- Bệnh lạ (ma làm)
- Kinh hãi
- Sưng cấp tính

Lộc Tồn
- Kết sỏi

Địa Không+ Triệt
- Cắt bỏ
- Tiêu hủy

Thiên Khốc
- Đau đớn
- Chảy nước mắt

Địa Kiếp
- Teo lại
- Sụp xuống

Cự Môn - Giải Thần
- Ói
- Tiêu chảy
- Đi lị
- Suy kiệt

Phong Cáo
- Bí thở
- Tắc nghẹn
- Tắc chỗ nào đó


Mấy sao trên chỉ là tín hiệu thôi. Muốn chắc chắn có bị bệnh hay không phải để ý Bệnh, Bệnh Phù.



Hạn tình cảm hôn nhân (tử vi ứng dụng)



2.1.LƯU Ý CHUNG

Để nghiên cứu về Hạn Tình cảm, chúng ta chỉ cần lưu ý tới 2 ngôi sao THIÊN TƯỚNG và TƯỚNG QUÂN. Đây là hai ngôi sao chủ tình yêu, tình cảm trong Tử Vi. Người có hai ngôi sao này đẹp chuyện tình cảm thường êm đẹp. Hai ngôi sao này xấu xem như một đời sầu với chuyện tình cảm. Nếu mất một còn một cũng được xem là hay, thà mất một còn một còn hơn là mất cả hai.
Nếu Mệnh, Đại Vận, Phu Thê có TƯỚNG hay THIÊN TƯỚNG cố định tất có thiên hướng yêu sớm. Ngược lại là không, nếu có chỉ xuất hiện ở Tiểu hạn, qua năm đó họ lại không bận tâm tới việc đó nữa.
2.2.TÌNH YÊU TỪ ĐÂU ĐẾN

2.2.1.Tình cảm nảy sinh từ đâu

Nhìn trên lá số xem TƯỚNG QUÂN và THIÊN TƯỚNG cố định đóng tại các cung số nào thì tình cảm hay nảy sinh từ cung số đó.
Với bộ TƯỚNG BINH lưu động cũng thế, năm ta có tình cảm cần xem xét xem vị trí lưu TƯỚNG hay BINH ở cung số nào. Ở đâu ta đoán tại đó.
VD: THIÊN TƯỚNG hay TƯỚNG QUÂN tại Quan Lộc ta hay có tình cảm với đồng nghiệp hay trong công việc.
2.2.2.Vợ/chồng thường xuất phát từ mối quan hệ nào

Để xem xét về Người Chồng/Vợ ta quen ở đâu nhìn vào các cung Nhị Hợp và Lục Hội (đứng từ cung Phu Thê để xem xét).
Nếu cung Phu Thê Lục hội hay Nhị hợp với cung Phụ Mẫu thì chuyện tình cảm bị phụ thuộc vào cung Phụ Mẫu, tương tự TƯỚNG QUÂN hay THIÊN TƯỚNG đóng tại Phụ Mẫu, Huynh Đệ chuyện tình cảm cũng bị tác động bởi cung số này. Nếu có thêm ĐÀ LA ở cung Phụ Mẫu thì càng rõ rang về việc Thuận theo cha mẹ trong chuyện tình cảm (ĐÀ LA chủ thuận theo, đong tại cung số nào ta hay thuận theo cung số đó).
2.2.3.Tính chất về phương và hướng

Trên Tử Vi ta có các Hướng như trong Phần một của Tử Vi cơ bản đã đề cập. Nhìn vào vị trí của TƯỚNG hay TƯỚNG QUÂN để xem xét về Phương và Hướng của người yêu ta (họ từ Phương nào tới). Tiểu Hạn có bộ TƯỚNG BINH ta nhìn vào đó.
2.3.HẠN TÌNH CẢM

Ta quan tâm tới bộ TƯỚNG QUÂN (TƯỚNG), PHỤC BINH (BINH), hai sao này luôn Xung chiếu nhau dù cố định hay lưu động như đã nói ở trên. Tiểu Hạn, Mệnh Hạn hay Phối Cung có bộ TƯỚNG BINH tất có liên quan tới chuyện tình cảm. Một sao chủ thương yêu gắn bó và 1 sao chủ phục vụ, và theo về.
Nói là bộ TƯỚNG BINH nhưng thực chất là ngôi sao TƯỚNG QUÂN. Nếu đứng tại Vị trí thấy cả TƯỚNG và BINH tức tình cảm nảy sinh từ hai phía. Nếu đứng tại ví trí xem xét chỉ thấy 1 trong hai sao TƯỚNG QUÂN hay PHỤC BINH thì tình cảm chỉ xuất hiện từ một phía, hay là năm ta bị kích động về việc đó .
Từ vị trí TƯỚNG QUÂN ta luôn có LỘC TỒN, QUỐC ẤN, BỆNH PHÙ (TỒN TƯỚNG ẤN BỆNH) hội họp. Thực chất được mô ta như sau: Chuyện tình cảm (TƯỚNG) bao giờ cũng là một kỷ niệm (QUỐC ÂN) khó phai mờ và được lưu giữ (LỘC TỒN) và khi yêu thường lo sợ mất đi người mình yêu nên dễ bị ảnh hưởng xấu của ngôi sao BỆNH PHÙ. Kỷ niệm liên quan tới tình yêu thường để lại cho ta niềm vui hay nỗi buồn hay cả vui lẫn buồn hay sự tủi nhục. Muốn đánh giá tính chất tốt đẹp cần kết hợp với nhóm Tam Minh hay thấy PHƯỢNG kể là hay ngược lại với TANG HƯ KHÁCH không có PHƯỢNG được kể là xấu.
2.3.1.Đại Hạn có TƯỚNG BINH cố định

a. Nội TƯỚNG ngoại BINH: tại gốc Đại hạn có TƯỚNG QUÂN tại chính cung tức là tình cảm xuất phát từ phía ta. Tức bên trong ta thấy thương người đó, muốn gắn bó với người đó còn bên ngoài (đối phương, người ta đang thương) họ cũng muốn quấn quit, chìu chuộng phục vụ ta và theo ta.
b. Nội BINH ngoại TƯỚNG: được lý luận ngược lại với cách Nội TƯỚNG ngoại BINH.
c. Từ gốc Đại Hạn có TƯỚNG hội họp trong Tam hợp mà không
thấy BINH
Tức ta muốn có chuyện tình cảm, muốn được gắn bó với ai đó tuy nhiên ta chưa biết đối tượng cần gắn bó là ai. Tất nhiên có kẻ muốn quấn quit, chìu chuộng phục vụ ta và theo ta mà ta lại không biết có khi không thích.
d. Từ gốc Đại Hạn có BINH hội họp trong Tam hợp mà không thấy TƯỚNG
Lý luận ngược lại với trường hợp c
2.3.2.Tiểu Hạn có TƯỚNG BINH cố định

a. Nội TƯỚNG ngoại BINH: tại gốc Tiểu hạn có TƯỚNG QUÂN tại chính cung tức là tình cảm xuất phát từ phía ta. Tức bên trong ta thấy thương người đó, muốn gắn bó với người đó còn bên ngoài (đối phương, người ta đang thương) họ cũng muốn quấn quit, chìu chuộng phục vụ ta và theo ta.
b. Nội BINH ngoại TƯỚNG: được lý luận ngược lại với cách Nội TƯỚNG ngoại BINH.
c. Từ gốc Tiểu Hạn có TƯỚNG hội họp trong Tam hợp mà không
thấy BINH
Tức ta muốn có chuyện tình cảm, muốn được gắn bó với ai đó tuy nhiên ta chưa biết đối tượng cần gắn bó là ai. Tất nhiên có kẻ muốn quấn quit, chìu chuộng phục vụ ta và theo ta mà ta lại không biết có khi không thích.
d. Từ gốc Tiểu Hạn có BINH hội họp trong Tam hợp mà không
thấy TƯỚNG
Lý luận ngược lại với trường hợp c
Lưu ý
Với 2 trường hợp c và đ của “Mục 1.1.1” và “Mục 1.1.2”. Nếu Đại Vận chỉ thấy TƯỚNG cố đinh mà không thấy BINH khi đến Tiểu Hạn thấy BINH cố đinh tất ta biết được ai là kẻ đang muốn quấn quit, chìu chuộng phục vụ ta và theo ta. Ngược lại với Đại Vận chỉ thấy BINH mà không thấy TƯỚNG đến Tiểu Hạn có TƯỚNG cố định tất ta sẽ tìm thấy đối tượng để quấn quit, chìu chuộng phục vụ và người ta sẽ có tình ý với ta.
2.3.3.Tiểu Hạn, Mệnh hạn hay Phối cung có bộ TƯỚNG BINH hội họp

Được phân ra theo các trường hợp như ở hai “Mục 1.1.1” và “Mục 1.1.2
2.4.TÍNH CÁCH TỪNG NGƯỜI YÊU VÀ NGƯỜI SẼ LẬP GIA ĐẠO

Đa phần chúng ta thường trải qua hơn 1 mối tình mới có thể tìm được người Phối ngẫu của mình. Cá biết có trường hợp chỉ yêu 1 mà lấy một. Có trường hợp yêu nhiều vô kể. Như vậy ta cần đoán xem ai là người ta có thể sẽ kết hôn với họ.
Nếu chúng ta để ý cung Phu Thê là một cung số cố định. Ở đó có thể thể hiện yếu tố đa thê, đa tình nhưng ta không thể dồn tất cả các tính cách của nhiều người yêu vào đó được. Việc xem xét về tính cách của từng người yếu tưởng chừng như khó khăn nhưng kỳ thực rất đơn giản và thú vị.
2.4.1.Tính cách các người tình

Để đoán tính cách của người yêu ta đứng từ cung có TƯỚNG QUÂN Lưu động mà cung đó là Mệnh Hạn, Tiểu Hạn, Phu Thê hay Tiểu Hạn có TƯỚNG QUÂN cố định mà đoán.
Sử dụng bản đồ Phi Tinh kết hợp với Chính tinh và các Phi Tinh lưu động hội họp về cung số có TƯỚNG QUÂN Lưu động mà luận đoán giống như ta đoán tính cách của cung Mệnh. Trường hợp TƯỚNG QUÂN cố định dùng các cách cục cố định để đoán.
Có trường hợp 1 năm có tới mấy người tình, người yêu là do cùng một năm đó họ vừa thấy TƯỚNG QUÂN cố định lại thấy cả TƯỚNG QUÂN lưu động có khi thấy luôn cả THIÊN TƯỚNG nên có những người một năm vui vẻ với mấy
mối tình.
2.4.2.Ai là người phối ngẫu

Muốn đoán ai là người Phối ngẫu (Chồng/vợ) trong số các người tình hoặc khi nào ta gặp được người chồng/vợ của mình ta cần xem xét như sau:

  • Năm cung Phu Thê có bộ Lưu TỒN TƯỚNG ẤN
  • Năm có Phu Thê xung và tại Tiểu Hạn đó ta thấy TƯỚNG QUÂN hội họp.
  • Năm đến Tiểu Hạn Phu Thê lại có TỒN TƯỚNG ÂN cố định
Đó là những năm ta sẽ gặp được người mà ta sẽ lấy làm chồng hay vợ.

2.5.HẠN LẬP GIA ĐẠO

2.5.1.Điều kiện về Cung

Có Đại Hạn hay Tiểu Hạn hội họp tại Phối cung (Di, Phúc, Quan) tức là cần phải có một trong hai Hạn hoặc cả hai thấy cung Phu Thế (Tam hợp hay Xung chiếu). Đại Hạn thấy cung Phu Thê là lúc người ta thường lo nghĩ nhiều hơn đến cái cung thường thấy là cung Phối, cho nên vấn đề hôn sự đăt lên hàng đầu, hầu hết hỉ sự thường gặp tại đây tương tự với Tiểu Hạn cũng vậy. Nếu hôn nhân xảy ra tại Đại Hạn thứ 2 (Phụ, Huynh) là sớm. Đến từ Đại Hạn thứ 4 là muộn.
Sớm muộn còn báo hiệu tại Phối cung là các sao KÌNH chủ sớm, ĐÀ chủ muộn, HỶ THẦN tại Phối cũng báo hiệu niềm vui đến sớm từ cung này. Tuy nhiên từ vị trí HỶ THẦN cần có PHƯỢNG hay nhóm Tam Minh để thiên về niềm vui mừng sớm và tốt đẹp về sau. Nếu HỶ THẦN đi với nhóm TANG HƯ KHÁCH thiếu PHƯỢNG tất có bất trắc kèm theo về lâu dài không tốt đẹp. Dễ ở tình trạng chống đỡ với khó khăn (KÌNH) cản trở (ĐÀ) sau hôn nhân (từ vị trí HỶ THẦN luôn thấy KÌNH ĐÀ). Nếu cung Phu Quân xấu tất sinh chuyện phức tạp ở cung số này.
Bộ ÂM DƯƠNG quá sáng tại Phối cung cũng báo hiệu quá sớm.
Bộ Tam Minh tụ tập tại đâu báo niềm vui tại đó, nếu là Quan Cung công việc thuận lợi, Phối cung dễ có hỉ sự nếu chưa có gia đình, nếu có rồi báo hiệu 1 năm tình cảm tốt đẹp. Tử tức cung báo những tin vui do con cái mang lại. Nếu là Nô Cung là do bạn bè mang lại niềm vui đến cho ta….
2.5.2.Điều kiện về Chính tinh

Nam cần đi với nhóm ÂM DƯƠNG LƯƠNG (biểu tượng đôi nam nữ) hoặc nhóm CƠ ÂM LƯƠNG (hình tượng phụ nữ).
Nữ cần gặp nhóm SÁT PHÁ THAM (người đàn ông quấn quit bên tôi,
phá… tôi).
Chung của cả nam nữ có thể gặp là PHỦ TƯỚNG chủ vỗ về, ve vuốt, thương yêu. Nói chung cả 3 nhóm sao kể trên đèu có dấu hiệu hôn nhân nhưng cần gặp các nhóm sao hàng Can và Chi, để quyết đoán.
2.5.3.Điều kiện về Bàng Tinh

Có thể gặp ít nhất một bộ Bàng tinh thuộc các nội dung từ “Mục a” đến “Mục c” sau đây
a.Bàng tinh hàng Chi cố định

Đại Hạn hay Tiểu Hạn có bộ Tam Minh (ĐÀO HỒNG HỶ), hoặc ĐÀO HỒNG cũng tốt hay Song Hỷ (THIÊN HỶ, HỶ THẦN) kế tiếp là bộ LONG PHƯỢNG, biểu tượng kết đôi của trai và gái, hai giới.
b.Bàng tinh hàng Can cố định

Đại Hạn hay Tiểu Hạn có bộ TƯỚNG BINH (hay nhất). Một sao chủ thương yêu gắn bó và 1 sao chủ phục vụ, và theo về. Bộ sao này hợp với chữ vu quy bên nữ. Tiếp theo là bộ HAO KÌNH ĐÀ có HỶ THẦN, chủ sự xây (ĐÀ) dựng (KÌNH) gia đình, tổ ấm.
c.Các bộ Bàng tinh Lưu động

Mỗi năm nhất định, ta luôn có bản đồ Phi Tinh cho cả Nam và Nữ. Từ bản đồ Phi Tinh của Nam hay Nữ kiểm tra cac bộ sao Lưu động giống như các bộ Bàng Tinh của hàng Can và Chi cố định ở “Mục 1.1.2” và “Mục 1.1.4”. Cần lưu ý các bộ sao Lưu động tại năm lập gia đạo có thể lưu tại Mệnh Hạn, Tiểu Hạn và Phối Cung.
2.5.4.Kết luận

Hạn lập gia đạo cần thỏa mãn:

  • Điều kiện về Cung như “Mục 1.1.1”;
  • Điều kiện về Chính tinh ứng với Nam hay Nữ như “Mục 1.1.2”;
  • Điều kiện về Bàng tinh như “Mục 1.1.3”.

2.5.5.Tiếng sét ái tình, tình ảo

Một lá số có THIÊN TƯỚNG đi với KHÔI VIỆT hay từ vị trí THIÊN TƯỚNG có sao này dễ bị sét ái tình đánh te tua, nếu THIÊN TƯỚNG không có KHÔI VIỆT đánh thì sẽ đánh vào năm có lưu KHÔI VIỆT. Cho nên Mệnh có sao THIÊN TƯỚNG hội họp dễ bị sét ái tình.
Tương tự ta có cách Tình Ảo khi THIÊN TƯỚNG đi với TUẾ HƯ hay từ vị trí THIÊN TƯỚNG có TUẾ HƯ hội họp. Các năm TƯỚNG có TUẾ HƯ lưu vào cũng dễ bị tình ảo. Người TƯỚNG hội họi hay bị đặc điểm này vì 12 Chi khi xoay vòng tất có các năm TƯỚNG thấy TUẾ HƯ.
2.5.6.Các cách phản bội tình cảm

Mệnh có THIÊN TƯỚNG hạn đến CỰ MÔN. CỰ và THIÊN TƯỚNG luôn luôn kề nhau. THIÊN TƯỚNG qua hạn CỰ MÔN dễ gặp tình đã xa, CỰ MÔN đến hạn THIÊN TƯỚNG dễ phản bội tình cảm.
Mệnh có THIÊN TƯỚNG hay CỰ MÔN mà có TRIỆT đóng giữa hai sao này.
Mệnh đóng tại LƯƠNG hay TƯỚNG mà có TRIỆT đóng giữa hai sao này. Tình đi với Tiền, Tiền hết thì tình tan.
Đại Hạn hay Tiểu Hạn có CỰ MÔN đi với LỘC TỒN hay TƯỚNG QUÂN. Đó là cách Cát xứ tàng hung. Đó là cách dễ bi phản bội về tình cảm nhất.
Mệnh có CỰ MÔN có Lưu TỒN TƯỚNG ÂN hội họp cũng dễ xảy ra chuyện.
Phối cung có CỰ MÔN hạn có TÔN TƯỚNG ÂN lưu vào cũng được kê
là xấu.
Kỵ nhất là trường hợp có thêm KỴ cố định hay lưu động hội họp
2.5.7.Các cách đánh mất tình cảm

Mệnh, Hạn, Phối có SÁT PHÁ lại có TỒN TƯỚNG ÂN hoặc có TỒN TƯỚNG ÂN lưu vào dễ chịu cảnh thất tình, mất tình, bỏ tình kỵ nhất là trường hợp có KỴ cố định hay lưu động.
2.5.8.Cách dễ bị lộ chuyện trăng hoa (nếu có trăng hoa)

THIÊN TƯỚNG ngộ TRIỆT LỘ, TƯỚNG LỘ cách
Đây là cách mà các từ thường dùng là vạch măt tên phản bội, cháy nhà ra mặt chuột, bị lộ mặt… THIÊN TƯỚNG ngộ TUẦN dễ bị bắt. Rất kỵ gặp thêm THIÊN KHÔNG. Tạo thành cách Tam KHÔNG, kỵ cho toàn bộ TỬ PHỦ VŨ TƯỚNG LIÊM.
Hay xảy ra với trường hợp TRIỆT đóng giữa TƯỚNG và LƯƠNG và TƯỚNG và CỰ. Và cũng chỉ có 2 trường hợp đó mà thôi.
Khi có hai cách trên thường có dấu hiệu ngoại tình đặc biết Mệnh có ĐÀO HOA hội họi. Nếu xảy ra chuyện trăng hoa, phản bội thì các năm bị Lưu TRIỆT dễ lộ mặt đặc biệt là bộ KỴ TRIỆT.
Các tuổi Dương sợ năm có TRIỆT lưu vào TƯỚNG lại có THÁI DƯƠNG thấy KỴ lưu.
Các tuổi ÂM sợ năm có TRIỆT lưu vào TƯỚNG lại có THÁI ÂM thấy
KỴ lưu.
Các năm LIÊM có KỴ cũng là năm ta dễ bị nghi ngờ về chuyện đó.
Trường hợp tình yêu quay lại ta hay gặp khi bộ KHÔI PHỤC cố định ở cung Phu Thê hay năm có bộ sao này lưu tại cung Phu Thê. Nếu Mệnh, Phu có dấu hiệu ngoại tình tất sinh chuyện “tình cũ không rủ cũng tới”.
2.5.9.Các bộ sao không nên gặp ở Hạn hôn nhân, tình cảm

Hạn hôn nhân, tình cảm rất kỵ Tiểu Hạn hay Phối cung có nhiều sao ám tinh nhất là bộ DIÊU ĐÀ KỴ lại đi với CỰ MÔN. Các Cách THAM ngộ KHÔNG, ĐỒNG ngộ KHÔNG, TRIỆT THIÊN TƯỚNG. Các bộ KỴ TRIỆT. Một số các tuổi Dần Thân Tị Hợi nữ vị trí sao HỒNG LOAN bị mất tác dụng. Ngoài ra ai ngại THIÊN KHỐC hay THIÊN HƯ hội họp với TƯỚNG hay THIÊN TƯỚNG.
Nếu cưới hay yêu trong các năm có những bộ sao đó rất bất lợi, hay bị cản trở, chuyện tình cảm phức tạp nếu Phối cung xấu về sau rất bất lợi và khó bền vững.
Hạn tình cảm có bộ KHỐC lại có KỴ đi với KHÔNG KIẾP rât xấu. Đây là cảnh OÁN HẬN RỒI RA TAY LÀM HẠI có các sao HỎA LINH KÌNH ĐÀ đi với KHÔNG KIẾP mới đoán xấu.
Nhìn chung các hạn về bỏ tình, thất tình, đánh mất tình cảm, phản bội tình, hay lộ về việc lăng nhăng bồ bịnh hầu hết có KỴ cố định hay lưu động.
2.5.10.Các trường hợp bất lợi trong tình cảm

Nếu các lá số có THIÊN TƯỚNG, TƯỚNG QUÂN đặc biệt là THIÊN TƯỚNG cố định tại Mệnh, Thân, Đại Hạn, Tiểu Hạn hay Phối rất bất lợi cho chuyện tình cảm. Sợ các năm có TRIỆT lưu, KHỐC lưu lại thêm KỴ rất khổ về tình cảm. Bộ THIÊN TƯỚNG THIÊN KHỐC là tiếng khóc trong tình yêu. Có thêm KỴ rất sợ có thêm KHÔNG KIẾP càng nguy hiểm. TƯỚNG có KHỐC là ta vừa thương vừa vận, có KỴ ta cộng thêm chữ oán, có KHÔNG KIẾP ta thêm cụm từ RA TAY LÀM HẠI, có KỴ HÌNH cũng xấu, có KỴ thêm KÌNH cũng xấu thiên về ĂN MIÊNG TRẢ MIẾNG, có KHÔNG KIẾP thêm KÌNH ĐÀ HỎA LINH xấu không thể nói hết.
Tuổi Dần có cung Sửu (HỒNG QUẢ) và cung Thìn (TANG KHỐC) rất bất lợi cho chuyện gia đạo kế đó là các cung Tị và Dậu, Thân và Tý.
Tuổi Thân có cung Mùi (HỒNG QUẢ) và cung Tuất (TANG KHỐC) bất lơi kế đó là các cung Mão, Mùi và Dần, Ngọ.
Nhìn chung ai có TANG ở Mệnh hay Phối đa phần bất lợi cho chuyện tình cảm. Có TANG ở Phối nếu không có PHƯƠNG dễ có chuyện bất chính hoặc không trên người tất có Tỳ vết hay cưới chạy tang hay phải có Tang mới có
lâu dài.
Cung Phối có TRIỆT mà Phối cung lại có các Chính tinh sợ TRIỆT như ÂM DƯƠNG sáng, TỬ VI, THIÊN TƯỚNG đa phần bất lợi hôn nhân. Xem thêm cách đa phối ở “Mục 1.6”;
Với nữ còn sợ cách ĐÀO HỒNG SÁT PHÁ THAM tại Mệnh hay Phu là cách sat Phu và cách KIẾP PHÙ KHỐC KHÁCH đi với CỰ NHẬT tại Mệnh hay Phối hoặc Mệnh có KIẾP PHÙ KHỐC KHÁCH đáo hạn có CỰ NHẬT.
Mệnh CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG qua hạn CỰ NHẬT cũng dễ xảy
ra chuyện.
Kỵ nhất cung Phu Thê có CƯ lại có THAI CÁO trong TỒN TƯỚNG ÂN thêm KỴ càng nguy hiểm. Là cách dễ đưa nhau ra tòa. Công thêm các Sát Tinh (lấy KHÔNG KIẾP làm gốc) và KỴ HÌNH để tăng thêm độ xấu.
2.5.11.VD Hạn hôn nhân năm Nhâm thìn

Đoán hạn hôn nhân năm (Nhâm Thìn) chỉ cần tập trung vào bộ Lưu tam Minh là chính, mạnh nhất tại cung Tị, nếu đó là cung Phối dễ động hôn nhân. Hai cung còn lại xếp hạng nhì, ba là cung Dậu, Mão. Và cứ thế Hỉ sự hằng năm thay đổi giành cho nơi khác. Năm nay lợi nhất là những người có hạn HỶ HỒNG ĐÀO cố định cùng lúc bộ lưu tam Minh hội họp đúng vào cung Phối.
Năm Nhâm Thìn lợi thế nhất với nữ. Là các tuổi Mão Dậu vì hạn đáo bộ tam Minh cố định. (Nếu cung Phối nằm ở vị trí tại Tị rất là hay nhì là vị trí Mão Dậu như đã nói.).
Nhưng cung Tị không phải là cung Phối lại là cung Đại Hạn vẫn dễ động hôn nhân.
Tất nhiên mạnh nhất là những người Tiểu Hạn đang có bộ tam Minh cố định, Đại Hạn lại đóng ở cung Tị, cung đó chính là cung Phối, trường hợp này duy nhất 1 lần trong đời.
Nhì là. Đây là cung Phối, Đại Hạn đóng nơi khác lại đắc bộ tam Minh. Trường hợp này bất cứ tuổi nào cũng có thể gặp miến sao cung Tị là cung Phối, và Đại Hạn có tam Minh.
Ba là. Đại Hạn đóng tại đây là cung Phối, nhưng Tiểu Hạn không đắc bộ tam Minh. Trường hợp này tuổi nào cũng có thể gặp.
Bốn là. Đây không không phải là cung Phối nhưng Tiểu Hạn đắc bộ tam Minh.
Tức là cả 2 hạn đều có Tam Minh.
Nói chung khi ai đó hỏi hạn hôn nhân. Bạn chú ý tìm bộ lưu tam Minh ở đâu, nếu không được tam Minh thì cần bộ Nhị Minh ĐÀO HỒNG, bộ lưu Song Hỉ không phải năm nào cũng có và tuổi nào cũng có, bộ này hợp với hôn nhân còn mạnh hơn cả bộ Hỉ Hồng Đào. Xem nó có hội nhập vào Phối cung hay không, nếu không thì cũng hội họp tại cung Mệnh hay Đại Hạn. Tức là nhắm vào bộ sao lưu động nhiều hơn.
2.6.CÁCH ĐA PHU VÀ ĐA THÊ (trích bài học TVUD)

Nói đến chữ đa phải nghĩ ngay đến THIÊN PHỦ chủ đa, nhiều, đông đúc... ngược với VŨ KHÚC chủ ít, giảm bớt và có tính cô đơn.
-Thưa cụ THIÊN PHỦ vì sao cụ nhiều phối ngẫu vậy.
-Vì tui có PHÁ QUÂN nếu bỏ thì cũng mang tiếng nhiều đời vợ hoặc chồng, nếu gắn bó thêm cho sum xuê lại mang tiếng là đa phu, đa thê. Chú mi cũng biết rồi đó THIÊN PHỦ chủ ve vuốt, vỗ về an ủi và cũng thích… phủ lắm.
- Là sao?
- Còn phải hỏi, người này phủ kín người kia. Có thương (THIÊN TƯỚNG) mới làm vậy.
- THIÊN PHỦ là phú ông có dư tiền lắm của mới làm vậy.
- Ối dào, đâu phải là giàu, nghèo cũng lắm người đa phu, đa thê. Do cái số kiếp cung phối có PHÁ QUÂN ưa gắn bó. Bỏ người này có người khác gắn vào. Không bỏ thì cũng có người khác gắn thêm vào cho sum xuê cây leo hạnh phúc.
Như thế là Mệnh THIÊN PHỦ có khuynh hướng đa phu, đa thê. Có nhiều vong tinh tại Phối, tức TUẦN TRIỆT càng dễ mất, và PHÁ QUÂN chơi ngay
chữ bỏ.
Mệnh THAM LANG lại có THIÊN PHỦ tại Phối cung, có cái THAM LANG dễ dính nhất là ham muốn người khác giới. Tại Thiên Di cung luôn luôn THAM LANG thấy người mình thương PHỦ TƯỚNG cho nên, THAM LANG không thua kém, có phần sung sức hơn THIÊN PHỦ.
Thứ Ba là kẻ có ĐẠI HAO tại Phối cung. Vì ĐẠI HAO là ưa sự thay đổi, thay cũ đổi mới, thay lòng đổi dạ, thay đổi nhân tình... và dễ gặp nhất là THÁI DƯƠNG bậc tu mi nam tử này dễ dính CỰ MÔN cãi cọ dễ chia ly, và là cái cớ tui có vợ khác, dính THÁI ÂM luôn luôn có biểu tượng trai gái thành ra cũng dễ có thể cơ sở riêng để đi đêm, về hôm có công khai và có âm thầm như số phận. Ngoài ra luôn luôn THIÊN ĐỒNG tại Phối có nghĩa là dễ có nhiều vợ “cùng” một lúc. Nhất là THÁI DƯƠNG ưa giương, ưa khoe làm phụ nữ chết mê mệt vì
nam tính.
Và CỰ MÔN khéo nói, ưa chơi trội có tui đây. Để ý thì Phối cung luôn luôn có THÁI ÂM tất nhiên có THIÊN LƯƠNG và cũng dễ gặp THIÊN CƠ, tức bộ CƠ ÂM mưu trí đàn bà, qua sự phơi bày của THIÊN LƯƠNG, chiêu này không thành thì còn chiêu lương thực thực phẩm, ăn đi mà… chiêu này không thành lại chiêu con gái nhà lành, khiến người khác động lòng trắc ẩn… Và một hôm CỰ MÔN về nhà, cửa không mở, vợ khóa kín khuê phòng. CỰ ta ngẫm nghĩ… không khéo bác Bửu Đình nói đúng. CỰ MÔN là cái cửa.
Nói chung cách Đa Phu Đa Thê rất dễ gặp tùy hoàn cảnh xã hội và môi trường sống. Hoàn cảnh trong TỬ VI là Đại Hạn tiếp xúc với người khác giới mới sinh chuyện. Đó là LIÊM TRINH thiếu nữ trong sáng hồn trinh bạch (?), là THÁI ÂM thiếu phụ (thiếu nữ) hiền lương (con nhà lành). Đối với nam. Với phụ nữ cũng đa dạng không không kém là THÁI DƯƠNG bậc tu mi nam nữ, rồi THAM LANG sẵn sàng chìu chuộng dâng những đóa hoa tươi thắm cho sư đoàn 8.3 (đọc là 8 chấm 3, sư 83 có thể trùng phiên hiệu gây phiền cho người viết). Còn có THIÊN PHỦ là phú gia, bi chừ gọi là đại gia, người già nhưng lắm của, đến CỰ MÔN cũng là tay cự phú, cũng gọi chung là đại gia nốt. Tô điểm niềm vui là các bộ ĐÀO HỒNG ở hạn. Nếu có LƯU HÀ niềm vui ấy càng tràn trề.
Lắm vợ nhiều con, lắm chồng nhiều dòng còn tìm thấy ở cung Tử Tức. Không tin hỏi cụ THIÊN PHỦ mà xem. 


Cách xem hạn (tử vi ứng dụng)

trước tiên một vài vấn đề về phương pháp của Bửu Đình:

A. PHẦN I:

1. VỀ AN SAO
:

1.1. Không sử dụng sao Thiên Không đứng trước Thái Tuế. Gọi sao Thiên Không chính là sao Địa Không như thuở ban đầu của Tử vi. Và không dùng các sao như Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh, Thiên Quang, Thiên Phúc....là các sao Tử vi Việt Nam thêm vào sau này.

1.2. Vòng Thái Tuế: sử dung đúng 2 bộ Tuế Hổ Phù và Tang Hư Khách các sao còn lại như Thiếu Dương, Thiếu Âm....không dùng.

1.3. Có sự khác biệt trong an bộ Khôi Việt, như sau: tuổi Giáp: Khôi (Sửu), Việt (Mùi), Ất: Khôi (Tý), Việt (Thân);Bính: Khôi (Hợi), Việt (Dậu); Đinh: Khôi (Dậu), Việt (Hợi); Mậu: Khôi (mùi), Việt (sửu), Kỷ: Khôi (Thân), Việt (Tý); Canh: Khôi (Mùi), Việt (Sửu); Tân: Khôi (Ngọ), Việt (Dần), Nhâm: Việt (Mão), Khôi (Tỵ); Quý: Khôi (Mão), Việt (Tỵ).

1.4. Có sự khác biệt trong an sao Lưu Hà:Giáp: dậu; Ất: Tuất;Bính: Mùi, Đinh: Thân, Mậu: Tỵ; Kỷ: Ngọ; Canh: Mão; Tân: Thìn; Nhâm: Hợi; Quý: Dần.

1.5. Về Tứ Hóa:

Giáp: Liêm Phá Vũ Dương;
Ất: Cơ Lương Vi Nguyệt;
Bính: Đồng Cơ Xương Liêm;
Đinh: Nguyệt Đồng Cơ Cự;
Mậu: Tham Nguyệt Bật Cơ;
Kỷ: Vũ Tham Lương Khúc;
Canh: Nhật Vũ Âm Đồng;
Tân: Cự Dương Khúc Xương;
Nhâm: Lương Vi Phụ Vũ;
Quý: Phá Cự Âm Tham;

2. Về xem Hạn:

+ Chỉ sử dụng Đại hạn, và Tiểu Hạn không dùng Lưu Đại Hạn;
+ Hạn Tháng Giêng: Khởi từ Dần, Can Tháng Giêng phụ thuộc Can Năm;
+ Hạn ngày như Can Chi của Lịch, ví dụ hôm nay 29/12/2010 DL nhằm ngày 24 AL là ngày Quý Sửu tại cung Sửu, tháng Mậu Tý tại cung Tý.
+ Sử dụng đủ: Tam hợp, nhị hợp, Lục hợp, Xung, Giáp;
+ Các sao Lưu Động: áp dụng cho tất cả các sao thuộc Can Chi (bao gồm Lưu Tứ Hóa, Tuần Triệt: nói để các bạn khỏi nhầm).
+ Cũng áp dụng các câu phú như mọi trường phái khác tại Việt Nam.

3. Điều khác biệt Quan trọng:

+ Đó là việc giải nghĩa thích ý nghĩa sao. Rất xem trọng cách cục nhưng vì việc giải thích ý nghĩa sao khác biệt nên khi kết hợp dẫn đến nhiều khác biệt từ Tổng thể cho đến chi tiết khi so với sách vở hiện nay.
+ Nêu quan điểm không phân biệt đắc hay hãm mà là có ĐẮC Ý hay không. Không gọi là Phụ tinh thay vào đó gọi là Bàng tinh (để tỏ rõ tầm quan trọng).....


-------------------------------

1.2.1.Lưu ý chung về Hạn




Khi xem xét Hạn ta luôn lấy các cung số của bản thân làm gốc (Mệnh Thân Tài Quan Tật). Cho dù ở bất cứ Đại Vận, Tiểu Vận,… nào Cung số nào thì các tính chất của Mệnh Thân Tài Quan Tật không thay đổi. Có chăng họ chỉ thay đổi cách nhìn nhận
mà thôi.
Đại Vận là hoàn cảnh tác động lên ta, ta phải đối mặt trong giai đoạn 10 năm của Đại Vận. Trong 10 năm đó bản thân ta vẫn vậy, hoàn cảnh đó tác động tới ta ra sao mà thôi từ đó vẫn cái nghiệp đó, cái nghề đó, cái tính cách đó hay tai Ách đó ta thế nào với hoàn cảnh đó.
Tiểu Vận là hoàn cảnh ta phải đôi mặt trong một năm ta đi qua. Xấu tốt tùy thuộc vào cách cục của Phi tinh lưu động tại mỗi năm.
Tương tự với Nguyệt vận và thời vận,… cũng hiểu như vậy.
Khi xem xét về Hạn (Đại Hạn hay Tiểu Hạn hay Nguyệt hạn,…) thì cung nhập Hạn là cung số tại giai đoạn đó ta phải bận tâm nhiều, chịu sự chi phối nhiều nhưng không phải chỉ xem xét ở cung đó thôi. Ta phải xem xét được toàn bộ 12 cung số trên lá số Tử Vi để quyết đoán.
Có khi Tiểu Hạn xấu nhưng Mệnh Hạn tốt có khi ta vẫn toại ý thì ta đoán khác và ngược lại.
Một năm bất kỳ ta hoàn toàn tìm được các cung xấu tốt ra sao.
Để có thể xem xét được Hạn cần phân định được các nhóm sao cơ bản trong Tử Vi để xem xét. Nguyên tắc bao giờ cũng cần có 2 bộ sao cùng đặc tính gặp nhau mới xảy ra sự kiện đó.

1.2.2.Hạn và quy tắc định Hạn



Đại Hạn đầu tiên đóng tại Mệnh;
Không dùng lưu niên Đại Hạn. Chỉ dùng Đại Hạn và Tiểu Hạn;
Nguyệt hạn, Nhật hạn áp dụng như Tiểu Hạn. Tất cả đều được xem xét tại gốc
Tiểu Hạn.
Không quan tâm đến hạn Nhi đồng, như 1 tuổi coi ở đâu, 3 tuổi coi ở đâu,… chỉ quan tâm đến Tiểu Hạn. Và hãy chờ nhập vào số cục rồi hãy xem. Dễ hiểu là Hỏa Lục Cục hãy chờ đến 6 tuổi ta hãy xem.

● Đại Hạn: là thời gian 10 năm (thập niên), được tính dựa theo Cục và tuổi Âm, Dương. Mỗi thập niên được ghi vào một cung, bắt đầu từ cung Mệnh trở đi trong đó:
Dương Nam, Âm Nữ thì ghi theo chiều Thuận, Âm Nam, Dương Nữ thì ghi theo chiều Nghịch.
Thủy Nhị Cục bắt đầu bằng 2, rồi 12, 22, 32… Mộc Tam Cục bắt đầu bằng số 3, rồi 13, 23, 33… Kim Tứ Cục bắt đầu bằng số 4, rồi 14, 24, 34… Thổ Ngũ Cục bắt đầu bằng số 5, rồi 15, 25, 35… Hỏa Lục Cục bắt đầu bằng số 6, rồi 16, 26, 36…
Phương pháp xác định Cục sẽ được trình bày ở Phần tiếp theo của Tài liệu.
Thí dụ: Dương nam, Mộc Tam Cục, bắt đầu ghi số 3 ở cung Mệnh, rồi ghi số 13 ở cung Phụ Mẫu, ghi 23 vào cung Phúc Đức,...

● Tiểu Hạn: là thời gian 1 năm, được ghi theo vòng chu vi Địa bàn, mỗi cung ghi một tên. Nếu là Trai thì ghi theo chiều Thuận. Gái thì ghi theo chiều Nghịch. Cách xác định gốc Tiểu Vận được tổng hợp trong “Bảng 3-2” sau đây:





Năm sinh

Cung khởi lưu niên




Dần, Ngọ, Tuất
Thìn




Thân, Tý, Thìn
Tuất




Tỵ, Dậu, Sửu
Mùi




Hợi, Mão, Mùi
Sửu






Bảng 3-2: bảng định khởi Lưu niện Tiểu Vận


Ví dụ: 3 tuổi Hợi, Mão hay Mùi thì ghi chữ Hợi, chữa mão hay chữ Mùi ở

cung Sửu.
● Nguyệt Hạn: là thời gian 1 tháng;
● Nhật Hạn: là thời gian trong ngày;
● Thời Hạn: là các giờ trong 1 ngày.

1.2.3.Những lý luận về Đại Hạn và phương pháp xem Đại Hạn



Như vậy ta cần hiểu Đại Vận là hoản cảnh sống mới tác động lên ta (Mệnh Thân Tật,..) là giai đoạn 10 năm mà ta phải đối mặt. Xấu tốt tùy thuộc vào Đại Hạn có các Sao, Bộ sao có phù hợp với các cách cục ở Mệnh Thân hay không.
Khi ta hiểu Đại Hạn là hoàn cảnh ta tới đó; vi như người sinh ra tại Hà Nội (Mệnh họ) nhưng lại có những giai đoạn vào Sài Gòn làm việc, có những giai đoạn lại vào Đà Nẵng làm việc,… thì coi như Sài Gòn hay Đà Nẵng là một hoàn cảnh mới, môi trường mới giống như Đại Hạn. Khi ta tới đó Mệnh Thân Tật ta có gì thì ta vẫn vậy. Không thể hiểu khi đến đó ta lại là người có tính cách khác, ta vẫn phải là ta, đi đâu cũng là ta, tới Đại Vận nào cũng là ta, ta đến Sài Gòn hay đến Đà Nẵng thì kiến thức, tri thức, nghiệp vụ, tình cảm, tính cách trước ta thế nào giờ ta vẫn vậy có chăng là trước ta đang thiếu gì thì đến đây có gì, trước ta đang sợ gì thì đến đây có gì mà thôi. Giống như ta đang ở Hà Nội, được đi đường tốt nhưng lại phải đi tới vùng sâu vũng xa mà đường xá khó đi, như vậy là hoàn cảnh khắc nghiệt,….
Điều cần thiết nhất vẫn là nhớ, hiểu được lý tính các sao, các bộ sao quan trong, các sao cần gặp và kỵ gặp với mỗi sao, bộ sao.
Cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán.
Vi dụ 1; một người có thiên hướng chuyển động nhưng cả một thời gian dài, có khi từ bé tới 30 tuổi họ cũng không đi đâu quá xa cả. Nhưng đến 1 Đại Vận X nào đó có ít nhất một bộ sao cùng tính chất chuyển động. Khi đó họ sẽ đi.
Vi dụ 2; Một người có Bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hay SÁT PHÁ THAM đáo hạn HỎA LINH rất mệt mỏi nếu có BỆNH PHÙ hay DIÊU Y ở Mệnh Thân, Tật hay tại gốc Đại Hạn mà Mệnh SÁT PHÁ THAM rất dễ vào bệnh viện,….
Ví dụ 3: Người có TỬ VI tại Mệnh nếu không có TẢ HỮU thì làm vua cũng như không vì không có quần thần nhưng khi đáo hạn có TẢ HỮU tất có quần thần,…
……

1.2.4.Những lý luận về Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn,… và phương
pháp xem



Để xem xét Tiểu Hạn, Nguyệt Hạn, Thời Hạn người xem Hạn cần lưu được các sao lưu động.
Trong pham vi của phương pháp Tử Vi này chúng ta sử dụng khoảng 46 sao lưu động cho phần Tiểu Hạn. Khi xem xét đến Nguyệt Hạn ta lưu thêm các sao Tháng (5 sao), xem xét đến Nhật Hạn Lưu thêm các sao Ngày và các sao an theo Ngày và Tháng (2 sao) xem đến thời hạn lưu thêm các sao Giờ và các sao an theo Ngày và Giờ
(10 sao).
Sử dụng Can Chi của Năm, Tháng, Ngày Giờ để tiến hành Lưu sao 
Sau khi an toàn bộ các sao lưu động của Năm hoặc Tháng hoặc Ngày hoặc Giờ ta coi bản đồ các sao này như 1 lá số thứ 2. Mang lá số cố định ghép với lá số Phi tinh lưu động để xem xét. Quan tâm tới tính kết bộ giữa các sao để quyết đoán, cần phân định các nhóm sao trong Tử Vi để quyết đoán. Đặc biệt là các sao và nhóm sao Kỵ nhau. Quan tâm tới Tứ Hóa của năm, bộ Tam Minh và ngôi sao PHƯỢNG CÁC để quyết đoán ảnh hưởng tốt đẹp hay kết quả của 1 năm lên các cung số.

a. Tiểu Hạn
Được hiểu như ý nghĩa của Đại Hạn, tuy nhiên phương pháp luận đoán lại chủ yếu dựa vào Lưu Phi Tinh của năm nghiên cứu, xem xét.
Liên tưởng tới các phương trình phản ứng Hóa học hay sử dụng chất xúc tác để gây phản ứng. Để dễ hiểu ta cũng coi các sao Lưu động như các chất xúc tác để đánh thức các sao cố định. Ví dụ: Một cung có TRIỆT cố định, đến năm có Lưu TRIỆT ở cung đó được xem là xấu, khi đó ý nghĩa của TRIỆT được phát tác. Một người muốn thay đổi cũng cần có các sao, bộ sao lưu động hội về cung cần thay đổi để có sự thay đổi. Một cung Điền Trach có HÓA LỘC cố định đến năm có Lưu HÓA LỘC tại đó tất sẽ sinh ra LỘC,… Cung có Tai, Ách, Họa, Nạn cần các sao để kích động cho Tai, Ách, Họa, Nạn tác họa. Ví như năm nào có KHÔI VIỆT đặc biệt là VIỆT lưu vào cung Tật rất vất vả với Tật Ách,… muốn có sự khơi sự (lập công tý hay làm một việc gì đó) cần có sự kích hoạt để ngôi sao có ý nghĩa KHỞI SỰ được đánh thức,…. Và mọi vấn đề khác cũng vậy cả mà thôi.
Như vậy để xem Tiểu Hạn, cần có các công thức luận đoán Hạn như: Hạn tình cảm (yêu, phản, chia tay, lập gia đạo,….), Hạn Tang chế, Hạn Chuyển động, Hạn nhà đất, Hạn công việc, Hạn sinh con, Bệnh tật, Kiện cáo, Bắt bớ, Tai nạn,… để xem xét
luận đoán.
Về cơ bản cung số nào có bộ Tam Minh ta tìm thấy vui mừng ở cung số đó, cung số nào có LỘC ta tìm thấy tiền bạc tại cung đó, cung số nào có QUYỀN hay KHOA tức ở đó có dấu hiệu của hai sao này, cung số nào có BỆNH PHÙ tất liên quan đến ốm đau, bệnh tật, lo lắng suy nhược… Cung số nào có PHƯỢNG CÁC thì cung số đó được xem là hay. Ngôi sao PHƯỢNG CÁC có ảnh hưởng rất mạnh tới tính chất tốt đẹp của bộ TANG HƯ KHÁCH. PHƯỢNG CÁC làm cho 1 năm tưởng xấu lại hóa hay khi đi vơi bộ TANG HƯ KHÁCH,…. Đặc biệt cần nhớ một số cách cục đặc biệt để luận đoán vd: bộ THÂT SÁT BÁCH HỔ, ĐÀO HOA TANG MÔN, HỒNG LOAN BẠCH HỔ,… để quyết đoán nhanh về tính chất phức tạp không thuận lợi tại cung số có bộ sao này
lưu vào.

b. Nguyệt Hạn và Thời Hạn,…
Không xem xét như các phương pháp khác, TVUD không xem xét theo phép an Tháng, Ngày, Giờ sau đó chạy quanh 12 Cung số.
Tất cả các Tháng, ngày, giờ nằm chung trong 1 cung Tiểu Hạn quan trong ta xem thế nào, dùng cái gì để xem mà thôi.
Vẫn là Phi Tinh lưu động, ứng với các Tháng, Ngày, Giờ ta luôn có cả Can Chi. Cũng giống như xem Tiểu Hạn ứng với Can Chi của Tháng, Ngày, Giờ nào ta dùng Phi Tinh tương ứng.
Khi xem xét đến Tháng, Ngày, giờ ngoài tính chất kết bộ của các sao thì các ngôi sao đơn lẻ rất quan trọng. Dùng bộ KHÔI VIỆT để kích hoạt ý nghĩa các sao và kết hợp với tính chất kết bè, bộ để luận đoán.
VD: Ngày X tại lá số của A tại vị trí THIÊN ĐỒNG (nằm bất cứ ở đâu) thấy lưu VIỆT của ngày thì ngày hôm đó A dễ có việc đi làm phúc hay được ngươi khác làm phúc,… Cần hiểu các ý nghĩa của sao để xem xét

1.2.5.Mệnh Hạn



Bạn đọc thường thấy người viết hay nhắc đến từ Mệnh Hạn nhưng có lẽ đa phần các bạn không quan tâm đến. Và chúng ta thường quan tâm đến Tiểu Hạn hay Đại Hạn
mà thôi.
Mệnh hạn nghe có vẻ mơ hồ và khó hiểu. Thật ra cũng dễ hiểu và đến lúc các bạn cần hiểu. Vì Mệnh Hạn cũng là cái Hạn tại Mệnh đừng hiểu lầm từ này ghép đôi của Mệnh và Hạn và Mệnh hạn là từ riêng dung đẻ chỉ sự tốt xấu tai cung Mệnh của
năm ấy.
Ví dụ như thế này bạn dễ hiểu. một người có chính tinh tọa thủ tại Mệnh bất kể nó hợp Mệnh hay là không. Ví dụ THÁI DƯƠNG cho là sáng sủa tốt đẹp nhưng không phải bao giờ họ cũng đắc ý và thành công, cũng không phải là do họ gặp Tiểu Hạn xấu hay Đại Hạn xấu. Mà còn do cái năm ấy không hợp với họ.
Ví dụ, người THÁI DƯƠNG rất kỵ năm Giáp, tất nhiên tháng Giáp ngày Giáp đều kỵ vì chữ Giáp, hóa khí THÁI DƯƠNG là HÓA KỴ. Từ đó người THÁI DƯƠNG dễ bị người ta ghét, nghi kỵ (nghi ngờ) rồi cấm đoán. Tự nhiên người THÁI DƯƠNG năm ấy vụng về hơn, hoặc cũng chẳng vụng về nhưng tự nhiên dưới con mắt nhiều người dễ bị ghét bỏ hơn, bình thường họ vẫn thế. Nhưng hôm nay họ dễ bị người ta chỉ trích, dễ ghét chưa kìa hay tự đắc, hoặc thấy kênh kiệu, hoặc là khoe khoang… và họ tìm ra được cái để chỉ trích nhưng năm trước đây, ngày trước đây họ lại không chỉ trích.
Lại ví dụ tiếp, Mệnh DƯƠNG LƯƠNG tại Mão vào năm Giáp ngoài lưu KỴ còn thêm lưu KÌNH, cái đố kỵ đó càng thêm mạnh mẽ. Hoặc bộ KỴ ĐÀ nếu như Mệnh ÂM DƯƠNG tại Sửu. Hoặc Mệnh có bộ CỰ NHẬT tại Tuất như trường hợp THÁI DƯƠNG tại Tuất lưu Hóa Kỵ tại đó còn làm cho cả CỰ MÔN bị mất tác dụng.
Ta hãy hình dung một người tự nhiên năm ấy bị xấu đi do Mệnh hạn, di chuyển trong Đại Hạn tương đối xấu và Tiểu Hạn cũng tương đối xấu. Tất mọi việc càng dễ thêm xấu. Với người THÁI DƯƠNG họ kỵ năm Giáp nhưng lại hợp năm Canh (do Canh và Giáp xung nhau, chữ Canh THÁI DƯƠNG hóa khí là HÓA LỘC) và năm TÂN hóa khí thành quyền. Nếu Đại Hạn hay Tiểu Hạn tương đối xấu nhưng gặp năm Mệnh hạn tốt đẹp cũng trở thành dễ chịu.
Cũng lý luận như thế người ÂM DƯƠNG chịu liền 2 năm Giáp Ất bị lưu KỴ. Trừ các trường hợp kỳ tài không nói làm gì nhưng các trường hợp cung Mệnh vốn đã không tốt đẹp bị lưu Kỵ thêm Kình hay Đà rất xấu cho các trường hợp NHẬT NGUYỆT. Tât nhiên người NHẬT NGUYỆT hợp các năm Mậu Đinh Canh Tân.
Theo những lý luận đã có, người có LIÊM TRINH rất kỵ các năm Bính, THAM LANG kỵ năm Quý. Nếu chỉ có KỴ thôi đã phiền lại có thêm ĐÀ, KÌNH TRIỆT càng phiền nhiều hơn. Những chi tiết này làm cho vận hạn đã xấu lại càng xấu hơn.
Chỉ có các sao không có hóa khí như bộ PHỦ TƯỚNG… là ít chịu hóa khí tác động, vì bộ này chủ yếu là đa phần được người ta thương. Nó bi xấu là do các chính tinh khác tác động. Và bị xấu do hàng Can Chi sẽ đề cập ở dưới.
Trên là phần lưu hóa khí các năm. Phần các sao trong bộ Can Chi cũng thế. Các sao CỰ MÔN, PHÁ QUÂN tọa thủ Mệnh không thích lưu LỘC TỒN hội họp tại Mệnh mà nó chỉ thích sao HAO. Bộ PHỦ TƯỚNG không hợp với KÌNH TRIỆT. THIÊN CƠ rất kỵ TANG MÔN. TỬ VI rất kỵ THIÊN HƯ TUẾ PHÁ, nhất là Hư TRIỆT… Nếu có những sao kỵ tất nhiên cũng có những sao đem lại vui mừng như ĐÀO HỒNG HỈ, Song Hỉ và Tứ Linh che chở Mệnh làm cho cung Mệnh có giá trị hơn. Như thế có nghĩa là Mệnh hạn năm này có thể tốt hay xấu, đối đầu với Đại, Tiểu Hạn.
Ngoài ra chú ý các bộ Can Chi tại cung Tật Ách, lưu tại cung Mệnh thường đem lại những tai ách. Một sao thuộc hàng Can thiên về việc làm và 1 sao thuộc hàng Chi thiên về trạng thái. Kể cả các trường hợp lưu tại Đại Hạn, Tiểu Hạn cũng là xấu vì nó đại diện cho tai ách.
Cũng thế các bộ Can Chi tại các cung, lưu động tại Mệnh hay đai Tiểu Hạn tất nhiên có việc liên quan đến cung đó. Ví dụ bộ Can Chi của cung huynh đệ lưu tại Mệnh hay đại, Tiểu Hạn tất nhiên có vấn đề liên quan, tốt xấu còn tùy thuộc vào hung cát tinh
để luận đoán.

1.2.6.Cách tính Can Chi của tháng



Dựa trên cơ sở Can của năm theo lịch kiến dần (nguyên tắc ngũ dần)
Trước hết tháng giêng là tháng Dần, tháng Hai là tháng Mão..., mỗi tháng đi với một Chi nhất định
Muốn biết Can của tháng thì áp dụng phương pháp sau gọi là phương pháp
Ngũ Dần:
Năm Giáp và Kỷ tháng giêng là tháng Bính Dần
Năm Ất và Canh tháng giêng là tháng Mậu Dần
Năm Bính và Tân tháng giêng là tháng Canh Dần
Năm Đinh và Nhâm tháng giêng là tháng Nhâm Dần
Năm Mậu và Quí tháng giêng là tháng Giáp Dần

1.2.7.Cách tính Can Chi của ngày



Dựa trên Can Chi của tháng. Theo nguyên tắc tháng giêng là tháng Giáp Tí thì ngày mùng một sẽ là ngày Giáp
Tí, mùng hai sẽ là Ất Sửu...Vì số ngày trong năm không chia chẵn cho 60, nên ta không thể có qui tắc tính Can Chi của ngày dựa trên Can Chi tháng được mà phải
tra lịch.

1.2.8.Cách tính Can Chi của giờ



Căn cứ vào Can Chi của ngày theo nguyên tắc ngũ Tý
Ngày Giáp và Kỷ giờ Tý là Giáp Tý;
Ngày Ất và Canh giờ Tý là Bính Tý;
Ngày Bính và Tan giờ Tý là Mậu Tý;
Ngày Đinh và Nhâm giờ Tý là Canh Tý;
Ngày Mậu và Qui giờ Tí là Nhâm Tý.



- TVUD (sưu tầm)