Nơi sưu tầm các bài viết hay về tử vi, khoa học, phật giáo, và cuộc sống
Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016
Xem vận nước - Tử vi chiêm bốc
02/09/1945 2h chiều tuyên ngôn độc lập khai sinh Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến nay 72 tuổi, Vận nước là đây các bạn tự xem nhé :-)
Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016
Lá số mẫu LTCN (lá số tù chính trị)
Lê Thị Công Nhân bị bắt tạm giam tại Hà Nội vào ngày 6 tháng 3 năm 2007 vì bị cáo buộc hoạt động "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam", và bị xóa tên khỏi danh sách Đoàn Luật sư Hà Nội
Vào ngày 11 tháng 5 năm 2007, sau hơn hai tháng tạm giam, cô được đem ra xét xử, bị kết án 4 năm tù giam và 3 năm quản chế
Ngày 6 tháng 3 năm 2010, Lê Thị Công Nhân đã thi hành xong 3 năm tù, cô được thả về và chịu sự quản chế tại địa phương.
* Lưu ý với là số chính trị sẽ luôn có 2 chiều luận giải đọc giả cần công tâm
------------------------------------------------------------
Lá số rất ứng với cuộc đời chị này, và ứng với thuyết Bửu Đình.
Phá Đào Cô Quả Không Kiếp Khôi Hỏa. Thân lại Tử Phủ, lại thêm Việt Hình.
KỊ GẶP:
LỘC TỒN: Hội họp tức đồng cung, xung chiếu, tam hợp là “cát xứ tàng hung”, có thêm MÃ nam đa lãng đãng nữ đa dâm. PHÁ QUÂN là ngôi sao kỵ nhất với LỘC TỒN, so với CỰ MÔN ngộ LỘC TỒN còn đỡ rất nhiều. Kỵ nhất là LỘC TỒN xung, tức PHÁ QUÂN ngộ PHI LIÊM báo hiệu một tai họa “phá tan tành” chẳng còn chi cả. Các trường hợp PHÁ QUÂN đồng cung với TƯỚNG QUÂN đều ẩn tàng những tai họa rất xấu.(Cái mà các sách TỬ VI cho là nội Tướng ngoại Binh, hay nội Binh ngoại Tướng không hết lời ca ngợi ấy. Không sớm thì muộn cũng bỏ Binh, bỏ Tướng mà chạy nhưng trước khi bỏ nhau. Tướng và Quân có giai đoạn gắn bó để mà sau đó bỏ nhau vì thế mới gọi là “cát xứ tàng hung”. Cái tốt đẹp ẩn tàng tai họa. Nhớ lại ngày xưa, bản thân người viết cũng mê man theo cách này. Vậy thì “LỘC phùng xung PHÁ cát xứ tàng hung” nằm ở đâu?. Ngẫm lại thấy người xưa viết môt câu phú rất hay còn ẩn tàng nhiều ý mà không tiện nói ra, nói ra cũng chẳng ích gì. Ai muốn hiểu gì thì hiểu.
ĐÀO HOA: Chỉ gây ra sự ồn ào, ăn chơi quậy phá. Đập phá mua vui, đánh lộn thì tài, đánh giặc không dám có chăng là đào... ngũ. Đại kỵ có thêm KHÔNG KIẾP gây họa thậm chí giết người. Hoặc có bộ KỴ HÌNH chủ quậy phá vi phạm pháp luật đưa đến tù tội. PHÁ QUÂN lúc đó trở thành kẻ bị bắt.
HỎA LINH: Chủ sự bôn ba lao khổ vì bộ sao này chủ lịnh lạc khẩn cấp, làm cho PHÁ QUÂN ăn không ngon ngủ không yên, luôn luôn phải ở tư thế phải sẵn sàng. Nếu có HỎA TINH còn kỵ bộ HAO KÌNH dễ phát sinh nổi điên vì lịnh với lạc, còn kỵ bộ KHÔI VIỆT, nổi giận phát hỏa đốt bỏ, nếu có KỴ HÌNH lại là chủ bị lịnh bắt khẩn cấp. Bởi thế có câu: “Hỏa Hao ngộ PHÁ tai ương...”. PHÁ QUÂN đi với LINH hay hơn là với HỎA nhưng cũng cần có QUYỀN hay KHOA trợ lực. Nếu không cũng dễ bị bắt.
KÌNH DƯƠNG: hỗ trợ cho SÁT PHÁ làm điều bạo ngược, nhất là khi có LINH, KIẾP SÁT.
Có câu: “SÁT PHÁ hung trợ KÌNH DƯƠNG”. Sát Phá vốn là Hung tinh nay thêm KÌNH DƯƠNG như vũ khí mạnh càng thêm bạo nhất là dễ gặp KÌNH có KIẾP SÁT. Lại có thêm LINH TINH tạo thành cách KÌNH LINH (chống lịnh trên) thì việc chi chẳng dám làm. Đây là PHÁ QUÂN hung hăng nhất. Một khi KÌNH DƯƠNG đồng cung hay tam hợp với PHÁ tạo thành các cách SÁT KÌNH (tranh đoạt...) THAM KINH (tham gia chống đối...) PHÁ KÌNH (chống phá...) toàn bộ SÁT PHÁ THAM toát lên tính sát khí đằng đằng. Thành công hay thất bại, được mất do Cát tinh, Sát tinh quyết định. Xếp bộ PHÁ KÌNH vào phần Kỵ gặp có thể bất công nhưng muốn nhấn mạnh tầm nguy hiểm của bộ sao này. Bộ PHÁ KÌNH sinh ra để chống đối, chống phá đi với nhóm TUẾ HỔ PHÙ hay TANG HƯ KHÁCH còn chấp nhận được vì có liên quan đến đường lối, lập trường nhưng đi với HỒNG ĐÀO chỉ gây ồn ào vô bổ vì những tranh giành, tranh đoạt có tính cá nhân.
KHÔNG KIẾP:
Đồng cung với một trong hai sao này, hay tam hợp có KHÔNG KIẾP hội họp cũng không đáng sợ. PHÁ QUÂN có thể khám phá ra tai họa do KHÔNG KIẾP gây ra, đập tan những tai họa đó nhưng có thêm KÌNH ĐÀ hay LINH HỎA thì chưa biết ai thắng ai trong cuộc chiến này. Một PHÁ QUÂN giỏi có thể chơi với vài ba tên địch nhưng nhiều hơn con số đó là dễ mang họa vào thân. Một khi không phá nổi tai họa ắt bỏ mạng, hoặc bị bắt bớ trói buộc.
PHÁ QUÂN ngộ KHÔNG KIẾP cũng không đáng sợ bằng có thêm ĐÀO HỒNG vì PHÁ QUÂN đó gây ra tai họa rất lớn bị bắt bớ là chuyện không tránh khỏi.
HÓA KỴ: Nếu chỉ có KỴ thôi hoặc có KÌNH ĐÀ còn có thể vô hại. Chủ đừng bắt, đừng giết, đừng tham sân si lợi cho tu hành., lúc ấy Kỵ có nghĩa là “ghét” 3 cái thứ ấy. Nhưng tối kỵ gặp thêm HÌNH biến thành vi phạm pháp luật của trời cũng như luật pháp của người. Hoặc bộ KỴ KIẾP lại là nạn nhân của đố kỵ ức hiếp kèm thêm áp bức của SÁT PHÁ. Nhưng có thêm ĐÀO lại là họa lớn do bị ức hiếp thái quá chịu không nổi phản ứng lại sinh họa. PHÁ QUÂN có KY không nên gặp thêm TRIỆT. Chủ bị ghét bỏ, bị trừ bỏ.
THIÊN HÌNH: Chỉ một THIÊN HÌNH thôi chẳng có gì đáng sợ. (Chủ phá lệ như trong lễ nghi ta có thể linh động nhập 2 lễ cưới hỏi vào 1. Trong văn chương như thơ lục bát có thể làm câu 6 câu 10. Hoặc gieo vần không nhất thiết vào chữ thứ 6 câu 8 gọi là phá lệ, các thể thất ngôn bát cú đa phần làm tự do). Nhưng kỵ gặp thêm KỴ thành ra vi phạm tương tranh xung đột, kể cả gặp thêm KHÔI VIỆT biến thành tội lớn hoặc tai họa giáng xuống, tất nhiên kỵ KHÔNG KIẾP. Nếu có HÌNH DIÊU Y lại có thêm THIÊN MÃ là ăn chơi phiêu đãng. Có HÌNH DIÊU Y đi với KHOA lợi về ngành Y KHOA. Chủ thăm khám bệnh.
KHÔI VIỆT:
Bộ sao này không thích hợp mấy với PHÁ QUÂN. Vì nó chủ bộc phát, sinh ra sự chán, bỏ, đoạt, giết, ham muốn. Nếu thấy KHÔI VIỆT gia thêm XƯƠNG KHÚC lợi cho văn học, học vấn. Có KHÔI VIỆT rất kỵ gặp thêm LINH HỎA, HÌNH, KHÔNG KIẾP. Nó chủ bộc phát tai họa to thêm ra mà thôi. Nếu có bộ VIỆT KÌNH chủ bôn ba đó đây.
cách Phá Quân
CẦN GẶP :
KHỐC HƯ: Hợp cách, uy hùng, tăng tính táo bạo cho PHÁ QUÂN vì KHỐC HƯ có tính tàn nhẫn ở trong đó, làm cho PHÁ QUÂN thêm gan dạ. Bộ KHỐC HƯ được gọi là hay chẳng qua là nhờ PHƯỢNG CÁC tam hợp. Đó là hình ảnh một người trước hư sau nên. Tuổi trẻ hư hỏng như về sau thành đạt. (Quan Công và anh em vườn đào kết nghĩa, thoạt đầu là bọn ăn cướp, nhưng biết chuyển hướng làm ăn lưu danh muôn thuở). Khi có bộ KHỐC HƯ cần đi với bộ KÌNH ĐÀ mới hay.
TUẾ HỔ PHÙ, TANG HƯ KHÁCH:
Đi với nhóm sao này hay hơn là đi với nhóm ĐÀO HỒNG CÔ QUẢ. Trừ trường hợp Tang Binh đồng cung phải xét lại.
TUẦN, TRIỆT:
Đi với TUẦN chủ tận trung, chung thủy gắn bó dài lâu. Chủ phá đúng, phá trúng biết phá bỏ những cái cần phá, biết bỏ những cái cần bỏ. TUẦN TRIỆT là 2 sao cần thiết đối với PHÁ QUÂN. Còn chủ phòng tránh bị bắt bớ giam cầm. Hay nhất là cả 2 sao nằm chung với PHÁ QUÂN, lúc đó gọi là triệt để tuân thủ, tuân theo, từ góc độ nào cũng thấy PHÁ QUÂN có cả TUẦN TRIỆT. Từ vị trí THAM LANG hay THẤT SÁT nhìn lại cũng hưởng cách hay kể trên. Bộ sao này giúp ngăn ngừa PHÁ QUÂN làm điều bậy bạ (phòng ngừa bị bắt). Đi với vài sao tam Hóa nói lên sự thành đạt nhưng nếu thấy bộ ĐÀO KHÔNG KIẾP hay HỎA HAO KÌNH, KỴ HÌNH phải đoán là xấu. Lúc đó PHÁ QUÂN bị bắt vì gây ra tai nạn, tai họa, vi phạm luật cấm. TUẦN TRIỆT lúc đó là trọng nạn, trọng tội, bắt đúng người đúng tội, loại trừ ra, loại bỏ ra khỏi xã hội. Gọi là bị TRIỆT PHÁ như ta thường nghe “triệt phá một... băng đảng (tổ chức, đường dây...)
Tam HÓA:
PHÁ QUÂN Tý Ngọ không cần thiết có tam Hóa vì bố cục của cách này không thể có đủ bộ được. Ngoài ra PHÁ QUÂN đơn thủ chủ phá bỏ cho nên các hóa khí như Hóa LỘC chưa chắc đã hay hoặc không phù hợp với chiến binh.
HOÁ KHOA: Đi với PHÁ QUÂN hợp cách lợi cho khám phá cũng như đánh phá một cách khoa học có sao này mới hay, càng hay hơn khi có thêm QUYỀN hay LỘC. PHÁ QUÂN đó được quyền phá những cái cần phá. Có KÌNH ĐÀ càng thêm hay. Lúc đó mang ý những khó khăn trở ngại mà thành công. Muốn đánh chiếm một vị trí của địch ư? Đó là một bài toán khó.
XƯƠNG KHÚC: Hợp cách lợi cho giáo dục chủ tham khảo. Hay nhất là có thêm TẢ HỮU.
TẢ HỮU XƯƠNG KHÚC: Hợp cách ‘Tá quân vương’. Khi có XƯƠNG KHÚC thì không lo sợ có KHÔNG KIẾP hội họp. Không những Tá quân vương có QUYỀN KHOA còn là cao quý nhất.
“PHÁ QUÂN Tí Ngọ hội VĂN XƯƠNG
TẢ, HỮU song song nhập miếu lang
Tài bạch phong doanh đa khẳng khái
Quan lộc chiêu tước tá quân vương...”
ĐÀ LA tam hợp: tức ĐÀ tại vị trí THAM LANG, THẤT SÁT. PHÁ QUÂN tam hợp có ĐÀ, hay đồng cung với ĐÀ, lúc ấy cả bộ SÁT PHÁ THAM đều ngộ ĐÀ. Những PHÁ QUÂN ngộ ĐÀ hay hơn dễ chịu hơn PHÁ QUÂN ngộ KÌNH. Hay nhất là hợp ĐÀ có KÌNH xung. Mang ý vì áp bức nên tôi phải chống đối, vì thuận theo lòng người nên tôi chống... ĐÀ chủ thuận theo, hướng dẫn... Trong trường hợp này có TUẦN TRIỆT rất là hay. Thành công hay thất bại tùy vào bộ Tam Hóa hay KHÔNG KIẾP KỴ HÌNH hội họp. So sánh với KÌNH ở dưới.
BLOG BUU DINH
-------------------------------------
Cung Thân dính Thiên hình, chị này mệnh Hỏa nên có thể con Thiên hình đã ảnh hưởng khá mạnh. Những gì chị thể hiện ra ngoài cũng thông qua con Thiên hình này nhiều:
Công việc liên quan đến Thiên hình (luật), đi đòi Thiên hình (công bằng, chính xác), và nhận về cũng là Thiên hình (hình phạt - tù).
------------------------------------------
Di Liêm Hình Kiếp giáp Kình Đà, bại cách, tù tội
Quan Quyền ngộ Hỏa Không, quyền chức bị cắt
Ngoài ra cung Tật cũng đóng vai trò quan trọng trong sự cứu giải, Tật có Thiên Lương nhưng tiếc là có Kình Tuế Sứ hội Hổ Kị Hao Linh.
Số này, Liêm Kiếp giáp Kình Đà vĩnh viễn "giám sát" Mệnh Thân
Liêm chủ hình tù, Kình Đà giáp Kiếp là bại cách
Nên càng kháng cự ra mặt thì càng bại
Thân có Tử Phủ, hành xử như Tử Phủ
Mệnh có Tuần, hành xử trong khuôn phép thì là hợp.
Mệnh Quan Di:
Mệnh Phá Khôi TUẦN là tượng bị ràng buộc, ngoi lên bị kéo xuống
Quan Quyền gặp Không vong, ắt có một lần chức vị bị truất giáng
Di Liêm lạc Kiếp giáp Kình Đà, gặp họa ở ngoài
Bản án đã xong, giờ còn là chờ xem vai trò cung Thân xem có cứu giải hay không và Vận để xem khi nào thì gặp nạn.
Cung mà có bộ đôi trong lục sát tinh giáp một sao trong lục sát tinh hoặc Hóa Kị thì gọi là bại cách, ví như: Không Kiếp giáp Kị, Không Kiếp giáp Kình, Hỏa Linh giáp Kiếp, Kình Đà giáp Linh ... Ở đây cung Di là Kình Đà giáp Kiếp.
Thân Vận:
Đương số bị bắt tại đại vận đúng cung Thân với hai đế tinh nhập miếu Tử Phủ.
"Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ, Giáp Đinh Kỷ vị trí công khanh"
Tiếc là Tử Phủ này không còn là thuần Tử Phủ mà đã bị lạc con "gián điệp" Thiên Hình vào trong nội cung, đây là cơ hội để Liêm Trinh vốn là tù tinh đã bị Kiếp Kình Đà phá tạo cách hình tù "thông đồng" với Thiên Hình cũng là một hình tinh để "qua mắt" Tử Phủ vốn không được Tả Hữu phò trợ.
Năm Đinh Hợi, lưu Thái Tuế tại Hợi : Thái Dương hãm lại hóa Kị, sự sáng suốt của ánh sáng Thái Dương bị che mất, tranh cãi thị phi Cự Đà đối cung hội về, gia thêm Kình Hổ Hao Linh, anh em nhà Liêm Kiếp Hình được cơ hội, điều kiện cho tai họa phát tác theo đúng số mệnh.
Đó là sợi dây xuyên suốt của Mệnh, Thân, Đại Vận và Tiểu Vận.
Thiết nghĩ, câu chuyện sẽ khác nếu:
Mệnh là sao chủ cẩn trọng hơn
Thân không có Thiên Hình có thể sẽ không đi vào ngành luật pháp
Ứng vào cuộc sống thật
Sau đợt bắt giam này, đương số sẽ luôn bị ràng buộc (Mệnh gặp Tuần), bị giám sát chặt chẽ (Liêm Kiếp chiếu Hình tại Thân), nên đành phải hành xử trong khuôn khổ TUẦN và một cách nhã nhặn Thiên Phủ thì mọi thứ sẽ dần tốt đẹp hơn. (Tuy nhiên, đại vận kế tiếp cũng không ổn).
Mệnh Phá Quân hội Không Kiếp tại Di, Quan: Cuộc đời là một cuộc tranh đấu !
Nói chung, bàn về tính chất sao thì những con người bị thủ chiếu Không Kiếp có một cái nhược điểm đó là ngoan cố. Và một khi đã lao vào cái guồng đó rồi thì như ở tư thế phản kháng lại mọi quan điểm đối nghịch mình mà không đủ bình tĩnh suy nghĩ, để rồi thời gian sau nhìn lại sẽ thấy hối hận. Có thể xuất phát điểm là đúng về mặt đạo lý, nhưng chính cái nhiệt huyết quá đáng của Không Kiếp đã vượt quá giới hạn, để biến cái đạo lý của mình trở nên bất bình thường, mà cụ Vũ Tài Lục gọi là phản trào lưu, phản truyền thống. Vì vậy, những người bị ảnh hưởng bởi Không Kiếp cần phải rõ một thực tế về xã hội và tâm lý con người là:
- Mọi sự đổi mới, thay đổi, phát triển cần phải có thời gian. Điều này hết sức quan trọng.
- Hãy nghĩ tới đại cục, không phải vì thắng thua tiểu tiết trước mắt mà bình tĩnh suy xét hơn.
Vì thế Không Kiếp ái mộ Tuần Không để làm "chậm lại" cái hung hăng, cái nhiệt huyết quá mà có thời gian suy nghĩ chu đáo.
Các cụ ngày xưa cho rằng Khoa Quyền, Lộc Tồn, Thiên Phủ, Tử Vi tối kỵ Không Kiếp là bởi có lý do rất cơ bản của nó:
- Hóa Quyền, Tử Vi chủ quyền hành, chức vị, yêu cầu sự cẩn trọng, đàng hoàng, từng bước, nay gặp Không Kiếp e rằng vì có lúc ngoan cố, bồng bột, nhiệt huyết muốn ý định của mình được chấp nhận vội vàng quá mà sinh hỏng chuyện.
- Hóa Khoa chủ danh tiếng, phẩm hạnh lạc Không Kiếp sinh những hành động, lời nói thiếu suy nghĩ, thiếu chín chắn thì còn đâu là danh tiếng, là phẩm hạnh nữa?
- Thiển Phủ, Lộc Tồn chủ sự bảo tồn, tích lũy, cất giữ, lạc Không Kiếp vì ngẫu hứng bồng bột mà vung tay quá trớn, khôn 3 năm dại 1 giờ, tiết kiệm làm ăn 10 năm có ít tiền bị xúi giục đầu tư bất động sản thời bong bóng chẳng hạn.
Vì vậy, Không Kiếp là sự phá phách những gì mà ta đã gây dựng được lâu nay, tư cách, phẩm hạnh, tiền bạc, địa vị một cách chính thống, bài bản. Còn một khi những con đường trên không phải chính thống bài bản nữa thì nó sẽ không còn sợ Không Kiếp mà thu nạp như một đàn em đắc lực. Và các cụ cho rằng Không Kiếp hợp với bộ SPT bởi bộ này hành sự khá đột biến, không bài bản. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng như vậy. Có những vị trí, tổ hợp mà SPT rất chính thống bài bản, và cũng có những vị trí, tổ hợp mà TPVT rất không bài bản. Vì vậy, khi luận cần xem lá số biến theo hướng nào.
-------------------------------------
Thân Tử Phủ tại tam hợp Hỏa
Mệnh - Thân là cả một sự đấu tranh, không phải để phát triển, mà là bài trừ lẫn nhau: Thủy - Hỏa sao có thể dung, Tử - Phá sao có thể hợp ?!
Phá Quân làm chủ cung mệnh, lại bài trừ những tốt đẹp của cung Thân, thêm vào đó tam phương tứ chính là Không Kiếp trực chỉ lăm le, xung kích, không thể yên nổi !!!
Cung tuổi nơi đất sinh ra của mình lại nằm ở Mùi, rơi đúng cung Tật với Kình Kị Hổ Hao Linh sẵn sàng phá hoại phúc ấm tinh Thiên Lương, tạo ra một báo hiệu không hay về những họa mình phải gánh, và cũng nhắc nhở đương số rằng: Khả năng cứu giải khỏi họa là rất rất yếu, nếu vẫn lao vào con đường chông gai một cách không cẩn thận thì chỉ mang thiệt vào thân thôi. Thân ta là một chuyện, cung Tử - Điền đại diện cho đời sống về già và hậu duệ cũng không sáng sủa lắm.
Cự Môn mang tính Ám, là Văn tinh
Phá Quân mang tính Hung, là Võ tinh
Cái Cô của Phá Quân không phải là cô kiểu không giao du, quan hệ, bè đảng. Phá Quân vốn ưa xông pha, Tham Lang vốn ưa giao tế, nên hai sao này thường đông đảo bạn bè, không giống với Thất Sát vốn ưa tĩnh mịch, trầm mặc. Nhưng cho dù đông bạn bè, nhưng với cái cá tính đặc trưng của Phá Quân, cá tính mạnh, đa nghi, độc đoán nên vẫn luôn cảm giác cô độc về cả nội tâm, lẫn hoàn cảnh.
Phá Quân - Hao tinh, chủ tiêu hao, do vậy quan hệ rộng, đông đảo bạn bè, nhưng vì chủ hao nên các mối quan hệ thường ngắn ngủi, không bền vững lâu dài nên "Cô" biểu hiện kết quả của "Hao" mà ra. Tất nhiên đó chỉ là ý nghĩa mang tính cơ bản, còn cụ thể phải có sự phối hợp tổng thể.
-------------------------------------
Ở đây la Việt Phá thấy Khôi tức là Trọng cái mới của Việt, nhưng bỏ cái cũ của KHôi. Mẫu người hành động theo tư tưởng cải cổ canh tân là đây.
Tuy nhiên ở mệnh có bộ sao Phi phá ngộ đào, bộ SPT ưa hoạt động, nay gia thêm Phi liêm nữa, là mẫu người quá manh động, có đào hoa chủ sự chủ động.
Bộ đào cô quả gia Sát ắt sẽ sớm gây kết quả, hạn tới Quốc Ấn Việt KHôi, gây tiếng vang Hồng loan cho cả nước biết.
Bàn về cung quan, một cung quan có THam Hỏa ngộ Khôi Việt là phá cách, là tham muốn tiền bạc đã nguội lạnh, nó nghĩa là sao:
Tôi có ham muốn, tham vọng giàu có, nhưng vì cuộc đời không cho tôi được nên tất cả chỉ còn là tro tàn. Nhưng trong tro tàn vẫn nhen nhóm hy vọng vì ở đây có Việt Đào, hy vọng sự tương trợ từ cung Thiên DI chăng, từ huynh đệ, và nô bộc chăng.
Mệnh đóng tại Tý Ngọ có lộc tồn xung, nên ắt hay nhặt được của rơi từ trên Di rơi xuống, và rơi xuống kèm theo thuốc độc địa kiếp.
-------------------------------------------
Di có Kiếp, Hà, Riêu, Thai ứng nghiệm là khi đi tù, cô ấy phải tắm khỏa thân giữa trời. Lũ Kiếp, Riêu, Thai ở Di tha hồ hau háu bông hoa Đào khỏa thân giữa trời. Những kẻ nào chưa biết sự ứng nghiệm này của cung Di thì đừng vội viết gì cả. Mệnh có Tuần khóa chặt, lũ Di hạ lưu không thể ảnh hưởng đến Mệnh, cũng có nghĩa các sát tinh ở Di là thuộc đối phương, chúng không thay đổi được chủ kiến của đương số.
Thân cư Phúc đức, hành động để thỏa mãn tinh thần, theo lý tưởng chứ không vì tiền. Ai chưa biết điều này đừng có nhìn Lộc tồn, Địa kiếp ở Di mà đoán bừa. Lộc tồn ở Di là đối phương của cô ấy đắc thời, bảo thủ, không phải cô ấy toan tính, đừng có suy bụng ta ra bụng người.
Quan có Quang Quý, Tứ Đức làm việc công minh, rõ ràng, gặp Địa Không là bị nghiệp chướng, bị vất vả, gặp họa vì nghề nghiệp.
Thân có Long Đức, Địa Tồn, là người lương thiện, trách nhiệm, kiên trì không bỏ cuộc, được gợi ý cho đi xuất cảnh định cư nhưng không đi.
Đang vận Bạch hổ có Tự Lộc nhị hợp Lộc, có điều may bất ngờ. Từ 42 tuổi Tham Hỏa tương phùng, Quang Quý, Quyền Lộc là phong vân tụ hội, mặt trời rực sáng trên đầu, dùng Thiên Hình biện rõ phải trái, có hậu phúc về sau.
-----------------------------------------
Đại hạn 22 thân cư Phúc có Tử Phủ được song Lộc , Lưỡng Tướng chiếu nên danh nổi là đúng. Nhưng Mệnh Thân Tài Quan Di đều vướng hung tinh nên đều có phải thiệt hại.
Đại hạn 32 Âm Dương hãm , nằm thề Bạch hổ nên phải làm việc nhiều và ít thoải mái. Nhưng vẫn có nhiều phúc tinh nên cũng không tổn hại nhiều.
Đại hạn 42 có danh vị , quyền lộc tốt , nhưng vẫn có xấu.đi kèm.
Riêng người Phá quân , hãm hay vượng thì cũng phải thăng trầm, nhiều phúc tinh đóng tại các cung vận thì tốt , còn sát tinh nhiều thì thành công như chớp xẹt ngang trời. Nếu số này không có đại hạn 32 gặp Tử phủ , Tướng lôc chiếu , chắc chắn không làm chuyện như đã làm , mà sẽ đi làm ăn cũng tốt
--------------------------------------------
Chúng ta đã thấy lá số của chủ đề này phản ảnh 2 cuộc đời khác hẳn nhau . Cả 2 nguời đều thông minh, tài ba vuợt bực hơn nhiều nguời . Vậy mà 1 nguời đuờng Quan bị triệt tiêu thành 1 con số Không, còn nguời kia lại theo nghiệp cứu nhân độ thế (thật ra đó là bề mặt).
Không Kiếp hãm là những gì tệ hại nhất của 1 lá số . Địa Không làm cho sạch, còn Địa Kiếp là nghiệp báo hành hạ thế nhân . Di cung thấy Địa Kiếp cùng chỗ với Lộc Tồn tức cách Cát Xứ Tàng Hung, gia thêm Riêu làm nguời lăn vào đấu truờng chính trị quá gian nan, thâm chí đi tù vì Liêm Trinh biến thành tù tinh khắc nghiệt vô cùng . Nhưng ấn bản thứ 2 lại bình yên vô sự, phải chăng làm thầy thuốc y thuật cứu nguời tôn xưng Thiên Tuớng làm bậc thầy cao cả tư cách không hèn nên Tuớng mới đủ tư cách đạo hạnh kềm chế Địa Kiếp quá ác ôn trong DH hiện hành tại cung Phúc khá đẹp giải nạn Liêm Kiếp + Kiếp Sát hội chiếu . Thiên Phúc là sao cứu giải, nay đi với Tuớng Y Tử Phủ tại Phúc là sự may mắn của đuơng số đuợc phúc ấm dòng họ ban phát tối đa khi con đuờng nghề nghiệp là bậc luơng y cứu nhân độ thế mới thóat nạn Liêm Kiếp cư cung Di ác độc với nguời đấu tranh trong truờng chính trị mà Lưu Quan an tại Ngọ có Kiếp, cộng với Địa Không có sẳn trong Quan cố định thành lực luợng dữ dằn đòi tiêu diệt mệnh Phá Quân ngang tàng không chịu khuất phục truớc bất công, độc tài và tham nhũng .
Thiên Hình vốn là con dao sắc bén, ở vị trí đắc địa là hình ảnh Bao Công ngồi xử án nhưng trớ trêu thay, LTCN lại bị cuờng quyền xử phạt cho vào tù ! Nguời bác sĩ kia có làm việc liên quan đến mổ xẽ không thì chúng ta chưa rõ nhưng theo tôi cô đó không thể dính với cách cầm dao kéo vì Hình không trong tam hợp của Quan .
Sự chọn lựa của ds nhiều khi do thiên mệnh khéo gài, không phải lúc nào cũng do cha mẹ định đọat vì cha mẹ của 2 cô khác nhau thì duyên phận khác nhau từ buổi thiếu thời. Lắm khi thấy kết quả đúng theo tuồng sắp đặt thì cho là do nguời đạo diễn mà thành lớp lang mà không biết rằng Mưu Sự Tại Nhân Mà Thành Sự Tại Thiên.
---------------------------------------
Năm bính tuất lưu thái tuế nhập cung tuất, lnth tại cũng tại tuất. Ln đại hạn (27 tuổi) cũng tại tuất. Không cần nói tới mệnh chủ của CN với lá số này – như trước đây tôi đã nói là Liêm trinh – thì năm này, ba cung vận niên đều nhập cung tuất. Can niên vận Bính, tứ hóa là Đồng – Cơ – Xương – Liêm. Tuế lưu tại tuất thì Lưu tang nhập mệnh. Cách cục đáo tụng đình hình thành: Tuế (L) Liêm – Kỵ – Thiên hình, mệnh Lưu Tang nhập chủ lo buồn, ưu tư. Lộc tồn nhập nô bộc thành cách cự đà kỵ lộc chủ bạn bè đồng nghiệp vì tiền tài phản bội, thị phi, đấu đá – nói nhẹ nhàng là vì miếng cơm manh áo mà bị phản bội – nên CN năm này bị rút "phép thông công", mất quyền hành nghề luật sư do đoàn luật sư thực hiện theo sự chỉ đạo của công an.
Lá số phá quân tại tý – thủ mệnh. Tuế vận tại Hợi, Đinh thì cự hóa Kỵ. Ta thấy chỉ với cung tuế vận, đã có cách cực hung, chủ về hình ngục nan đào. Tuế (L) Kỵ (hai lần Kỵ) Cự môn hãm địa Đà Kình (hai lần) cùng Tuế cố định hội quan phù quan phù. Thử hỏi, với cách cục này, ai có thể tránh được khỏi lao tù ? Xin thưa rằng, không ai có thể tránh được cả, kể cả có mệnh làm vương. Đằng này mệnh thân cách của CN lại chủ về hình luật, thì việc CN bị tù tội là đúng lý số vậy.
------------------------------------
Đào Riêu Phi Liêm, môi chẻ đôi như cánh hoa đào
Lá số này, xét về khả năng thì có thể là không tồi, nhưng mà máu mê khai sáng, cầu đầm quá (mệnh Phá Quân, Thiên Khôi, hội KK, Thiên Diêu, quan Tham Hỏa Hóa Quyền) - người phụ nữ cứng như đá, có thể tạo được ảnh hưởng lên người khác, nhưng tài năng lại đặt vào lĩnh vực "nhạy cảm" quá..... Không thể có 2 chúa sơn lâm cùng cai quản 1 vùng.
Mệnh Phá Khôi thích cầm đầu, thích đương đầu
Mệnh Phá Quân tại tam hợp Thủy
Phá Quân tại Khảm Ly, cô thân độc ảnh
Cô CN này mệnh SPT ở đây mệnh đóng ở Phá thấy Tuần Triệt là hay, chủ mẫu người ưa hành động gắn bó với cái gì đây, từ bỏ cái gì đây có tính chọn lọc.
Mệnh Đào hoa, Nguyệt Đức, cô ấy nữ tính, là người tử tế, vị tha, hành động vì người khác.
Nhìn cung Quan của cô Lê thấy 1 Địa Không chình ình, vậy là ứng với 1 hạm đòi tiền nếu muốn chạy việc. Rồi lại nhìn cung Di có thằng Địa Kiếp đầy khắc nghiệt và hung ác, đi với Liêm nên ngoại nhân tức ngọai cảnh biến thành Tù Ngục giam giữ mình và răn đe mình
--------------------------
--------------------------
THÂN ÔM THIÊN HÌNH , ÁCH THÁI TUẾ KÌNH DƯƠNG , KÌNH HÌNH LÀ TÙ TINH , THÁI TUẾ LÀ THỊ PHI MIỆNG LƯỠI , LÀ CAN DỰ VÀO CHUYỆN THIÊN HẠ , CUNG ÁCH Ở CUNG MÙI , MÙI ĐÈ TÍ HẠI MỆNH ., CHO NÊN CAI MIỆNG HẠI CÁI THÂN PHẢI TÙ , VÀ DĨ NHIÊN LÀ HÓA KHOA CỨU GIẢI .
-------------------------------------------------
-------------------------------------------------
Số này sát tinh nhiều. Bản tích không phải tốt , hơi ích kỷ. Có ý tưởng hơn người, nhưng luôn ngang ngạnh , quyết đoán , ..nên làm việc cũng không ngại khó. Sát tinh nhiều , mệnh phá quân , sát tham , di liêm trinh , không kiếp , ... quá nhiều sát tinh nên đẩy con người đến chỗ hay làm việc có tính chất lớn bất chấp mọi thứ khi làm.
Quan cung của LTCN nát bét, vòng DH tòan gặp chỗ xấu . Cuộc đời như vậy hỏng, hữu danh vô thực .
Một lá số, hai cuộc đời
-Biến cố năm bính tuất – 2006.
Cách tuế (L) liêm – kỵ – Thiên hình là cách tù tội, nhưng ở đây cần nhớ liêm đây sáng sủa, hóa thành kỵ thì chuyển thành xấu, hội thiên hình cũng miếu địa là "thanh gươm sáng" cùng với liêm sáng thì chủ về hành pháp, thực thi luật pháp minh bạch, sắc bén, người có cách này nhập vận thì chủ về uy tín, minh bạch và công bằng trước luật pháp, hành nghề luật sư hay thực thi luật pháp đều tốt cả, chủ về sự thăng tiến, sự tín nhiệm trong nghề nghiệp. Nhưng hóa kỵ thì chuyển thành xấu, nên có ý nghĩa là bị luật pháp "hãm hiếp", đọa đày. Nhưng bù lại tất sẽ được nổi tiếng – đó là bản chất của cách cục đang sáng sủa hóa thành hung. Do cách này sáng sủa, biến thành hung, chứ chưa phải là cách tù tội – ai theo tử vi truyền thống cũng biết, cách liêm đơn thủ dù hội hung sát cũng chưa đủ đưa đương số lâm cảnh tù tội, mà cách tù tội đủ mạnh là liêm tham, cự kỵ, cự hỏa, hình sát hãm địa. Theo lẽ đó, năm này với CN chủ về đáo tụng đình, bị bạn bè đồng nghiệp phản bội, chủ ưu phiền. Ta cũng lưu tâm tới cách lưu niên hình thành là Tuế (l) – Đà (l) – Kình (l) hội kiếp không chủ về đánh đập, xâm phạm thân thể, gia thiên mã (l) thì có dấu hiệu tai họa về giao thông. Nếu như tôi nhớ không lầm thì năm này, CN nhiều lần khi đang lưu thông trên đường bị "quần chúng tự phát" (tự nhiên bức xúc) chèn ép, đâm xe cho CN ngã khiến cho CN bị thương. Các sao hóa khác như Đồng, Cơ, Xương đều xa lánh Vận niên. Nên không thể có ảnh hưởng hóa giải chút nào !
-Biến cố năm 2007 – đinh hợi.
Lại xem lnth nhập cung dậu, thiên đồng hãm địa cùng hao ngộ triệt lại hóa quyền là hung chủ không cát, bị cự môn tại tị hợp chiếu gia đà la (hai lần) chủ vận bế tắc, lại hóa kỵ nữa thì đầy thị phi, vu cáo. Còn ln đại vận nhập cung hợi thì khỏi nói bởi vì niên vận tuế vận đụng nhau mà hung cách thì sách viết tất có tai họa.
Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016
Lá số mẫu ông Sáu Cò - Sok Kong (1 cuộc đời ly kỳ - cách Song lộc)
Tóm lược
Một người VN thành công và thành danh nơi xứ người. Hiện giờ là Thượng nghị sĩ và là một doanh nhân thành đạt.
Ông Sáu cầm súng năm 1978 sau khi xẩy vụ thảm sát ở Ba Chúc. Nông dân nhà nghèo, Vào lính được biên chế vào binh đoàn lái xe vận tải chuyên chở súng ống đạn dược, quân dụng ra mặt trận, và chở thương binh tử sĩ về hậu cứ. Đó là hên vì không phải trực tiếp tác chiến.
Tháng 8, 9 là cao điểm mùa mưa ở Cam, đường xá bị ngập rất khó khăn trong việc vận chuyển, không thể đi đường vòng hay đi tắt để về tuyến sau, các điểm phục kích rất dễ xẩy ra vì các tuyến đường bị chia cắt nhiều vì nước ngập. Những tuyến đi được đều không tránh khỏi bị phục kích. Xe của Ông Sáu trong chuyến đi về bị phục kích trúng B40 cháy xém.
Hơn một ngày sau, quân tiếp viện mới đánh thốc vào mở đường lại, Ông Sáu bị cháy xém nửa người bên trái, thoi thóp trốn vào trong bụi rậm lấy xác thương binh che lên người. Miên Đỏ sau khi phục kích xong chúng lục soát từng xác một, ai còn thoi thóp chúng bắn chết tại chỗ luôn, sau đó chúng đặt mìn bẫy, gài lựu đạn dưới các xác chết, nếu không kinh nghiệm, đến nâng xác lên là lại thương vong.
Ông ấy lết được vào rừng trốn thoát chết. Nhưng di chứng sau này là vết cháy nửa người bên trái, tay trái bị sẹo co cơ thành tật, và mắt trái bị mờ.
Hai anh em đi làm phụ hồ, gập chủ Cam đàng hoàng thì trả tiền, gặp chủ Cam cà chớn, làm xong nó quỵt tiền rồi còn chửi là mày là jun về VN đi.
Đi thồ thuê ( mang vác ) thuốc lá lậu, thời " ba số 5 vừa nằm vừa ký, Samit nói ít hiểu nhiều " thì bị bắt mất hàng.Sau đó 2 anh em đi làm nghề đập nhà thuê, ai kêu thì làm. Sau chiến tranh có những nhà đổ nát vì chiến tranh, người ta thuê đập phá ra để xây lại.
Và đó chính là lúc mà 2 anh em ông Sáu đổi đời. Trong một lần đập nhà ông Sáu bắt được vàng, vàng đúc như những viên gạch xây trét vào tường để dấu.
Sau đó ông Sáu bắt đầu mua đất và công việc kinh doanh đầu tiên là mở cây xăng và từ đó phất lên.
Vàng của Cam phải ở lại Cam, ông ấy chọn ở lại Cam làm quê hương. Nhưng ông là một người sống rất đàng hoàng, không hợm mình khoe của, ông có đóng góp làm từ thiện rất nhiều như là xây trường học, trạm xá các vùng nông thôn nghèo, đóng góp cho Hội Chữ Thập Đỏ của Cam giúp đỡ các nạn nhân tàn tật, què cụt vì chiến tranh, nuôi trẻ mồ côi vì chiến tranh, hỗ trợ chính phủ trong việc xóa bỏ nạn mãi dâm vị thành niên. Ông Sáu là một người giàu có, thành danh và sống tử tế.
Bà thứ hai là người Cam, 2 vợ chồng có 3 trai đầu và út gái
-----------------------------------------------------------------------
Một lá số hượng trọn vẹn Tam Hóa : Hóa Lộc, Hóa Quyền ( Thượng nghị sĩ, vua Sihanouk ban khen Công dân Danh dự ), Hóa Khoa ( chỉ mới là lớp 7, lớp 8 nhưng điều hành công việc kinh doanh mà người có bằng cấp chưa chắc đã bằng được ông ).
Cung phúc ngộ Triệt nên lập nghiệp phương xa. Cách lập nghiệp phương xa tuy có nhiều cách nhưng cách cung phúc ngộ Triệt nên lập nghiệp phương xa là tỷ lệ cao nhất.
Năm 1979 trúng tổ hợp Hỏa Linh Hình Việt may mà có Quang Qúy Quan Phúc cứu giải
-----------------------------------------
Ông cầm vòng Thái Tuế lại cả Lộc Tồn. Đại vận 10 năm từ 25-34 Mã ngộ tràng sinh lại cùng thêm cả Phi Liêm hẳn sẽ dắt ông ta sang một miền đất mới để hoàn thành sứ mệnh của mình khi nơi đây ông Sáu đủ cả 3 vòng. Triệt đáo kim sẽ giúp ông đi xa, có lẽ ra bên ngoài biên giới, tuy nhiên trớ trêu thay trước khi ông có thể ra đi ông sẽ còn vướng thêm một đại hoạ, sát triệt mã sẽ khiên ông qua phen thập tử nhất sinh, duy vì mệnh lớn và sức sống mãnh liệt của Tràng Sinh sẽ không khiến ông gục ngã. Mùa thu năm Kỷ Mùi, Tuyệt khí đã hiện ra mang theo Hoả Hình Linh Kỵ mà giáng vào thân. Tang Mã lúc này gặp Hình có lẽ tan tành mây khói, Phi Liêm đụng Hoả chắc tóc cháy khét mù ( tạm dịch là toàn thân bỏng nặng, tang mã tràng sinh phi liêm thử gọi là một đoàn xe đang hành quân đi chiến đấu bị phục kích, tan nát hoàn toàn, ông Sáu may mắn thoát chết nhưng toàn thân bỏng rất nặng, tuy nhiên lúc đó thần trí ông lại minh mẫn lạ thường( có lẽ do Tuế kích Thiên Không mà trí tuệ thông suốt mà cố gắng lết bằng vai thoát khỏi lưỡi hái tử thần.
Ông Sáu có cung di đẹp Phá quân hóa quyền lộc mã khốc khách cư chiếu di, mệnh ông kim sinh thủy phá quân
------------------------------------------------------------
Nhìn cung Phúc: cách phân loại thượng, trung và hạ cách thì Thất sát ở đây vừa vượng địa hợp hành kim mệnh lại ở đất trường sinh của thổ cục.
LS này là một thí dụ hay cho cách Tuyệt xứ phùng sinh , cung Tài cư Thân ở tuyệt địa của mạng Kim (vì vậy mà nghèo lúc đầu chăng ?) , nhưng may có Tử Phủ sáng láng lại sinh cho bản Mệnh nên may mắn mà phất (đúng hơn là cho cơ hội).
Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016
Vai trò của hàng Can & và bố cục các sao
Vai trò của hàng Can trong các câu phú Tử-vi * Cách bố-cục của các sao: thấy sao này biết ngay sao khác và đóan tức khắc
PHONG-NGUYÊN
1. Vai trò của các hàng Can trong câu phú
Chắc quý bạn ai cũng đều biết câu phú: “Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”, và ai cũng hiểu nghĩa câu phú này đồng thời thấy dễ áp dụng. nhưng nếu ai hỏi quý bạn tại sao chỉ có các tuổi Giáp, Đinh, Kỷ mới được hưởng cách này thì chắc quý bạn sẽ lung túng. Thực ra các vị uyên thâm tử vi đều giải thích được cả vì trong các sách tử vi của người Tàu cũng có đề cập tới. Điểm này tuy khó nhưng nếu được nghe giải thích quý bạn sẽ thấy giản dị vô cùng. Có nhiều người đóan mò cứ cho rằng nêu ra hàng Can tức liên quan đến ngũ hành sinh khắc chế hóa, nhưng thực ra hàng can được nêu ra chỉ nằm mục đích nói tới cách bố cục của một số sao, nhất là Khoa, Quyền, Lộc và Lộc Tồn vì các sao này được xem là nhóm sao bổ túc tối cần thiết cho cách đã nêu ra trong câu phú (trong trường hợp này là Tử Vi cư Ngọ).
Bây giờ hẳn quý bạn đã hiểu sơ qua về lý do tại sao có hàng Can trong câu phú, và tôi xin bàn trực tiếp đến câu phú trên cho quý bạn hiểu rõ rang. Điều cần nhất là quý bạn phải nhớ cách bố cục của các chính tinh. Nghĩa là khi Mệnh có Tử Vi cư Ngọ thì phải nhớ Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung tại cung Tuất (tức là cung Quan Lộc), Vũ Khúc, Thiên Tướng tại Dần (tức là cung Tài Bạch), Tham Lang cư Tý (tức là cung Thiên Di), và sau hết là Phá Quân cư Thân (tức là cung Phúc Đức). Quý bạn chỉ cần nhớ các chính tinh tại những cung chiếu về Mệnh và tại cung Phúc là đủ, nếu nhớ thêm các cung khác thì hơi mệt óc một chút mà lại không liên hệ gì đến cách đóan. Có nhớ được như vậy thì mới hiểu được mau lẹ cách bố cục của các nhóm sao bổ túc kể trên vì các sao này luôn an theo các chính tinh. Như tuổi Giáp an Hóa Lộc đồng cung với Liêm Trinh (cung Quan), Hóa Khoa đồng cung với Vũ Khúc (cung Tài), Hóa Quyền đồng cung với Phá Quân (cung Phúc); riêng Lộc Tồn tuy không an theo chính tinh nhưng vì ảnh huởng của sao này rất quan trọng nên phải chú ý, và trong trường hợp tuổi Giáp thì Lộc Tồn an tại Dần, đồng cung với Vũ Tướng và Hóa Khoa. Qua cách bố cục trên quý bạn thấy rằng Tử Vi đã hội đủ Tam Hóa và Lộc Tồn như vậy có đáng làm “công khanh” hay chưa? Nhất là không được gặp Hình Kỵ lại càng chắc ăn nữa, như trong câu phú đã ấn định. Về sao Hóa Quyền đồng cung với Phá Quân tại cung Phúc Đức quý bạn phải hiểu rằng cũng thuộc về mình vì cung Phúc Đức rất quan trọng cho mình. Ngòai ra, ta còn phải kể tới các sao Tướng Quân, Quốc Ấn nữa vì khi Lộc Tồn an tại Dần thời đối với tuổi Giáp đương nhiên Tướng Quân phải đồng cung với Tử Vi ở Ngọ và Quốc Ân sẽ tọa thủ tại Tuất (cung Quan), và khi Tướng Quân ở Ngọ, Phục Binh ắt phải ở cung xung chiếu, tức là được cách “nội tướng ngọai binh” là cách chỉ huy. Các bạn nên ghi nhớ thêm là tất cả các tuổi Giáp (như Giáp Tý, Giáp Ngọ, Giáp Dần, Giáp Thân…) nếu áp dụng cho đàn ông thời đương nhiên là Dương Nam và do đó Tướng Quân phải cư Ngọ trong trường hợp trên. Nếu là Dương Nữ chăng nữa thì Tướng Quân lại lọt vào cung Quan, như thế vẫn trực tiếp “phục vụ” cho Tử Vi cư Ngọ. Nói tóm lại, quý bạn hẳn nhận thấy cách trên đã hội đủ gần hết những yếu tố cần thiết cho Tử Vi cư Ngọ trong khi các tuổi khác không thể nào được như vậy. Tỷ dụ như tuổi Ất chẳng hạn chỉ được mỗi Hóa Khoa đồng cung với Tử Vi, còn Quyền Lộc chạy sang các cung khác, hơn nữa còn có khuyết điểm nặng nề là có Triệt án ngữ tại Ngọ-Mùi vì Tử Vi sợ nhất Triệt và nguy hại hơn nữa là Tướng Quân ngộ Triệt (mà Triệt lại lại chặn đầu nữa!) (Đối với các tuổi khác, quý bạn cứ việc suy luận theo như trên là hiểu ngay).
Qua thí dụ trên đây, quý bạn thấy rõ là các câu phú thật là súc tích và do đó các nhà tử vi điêu luyện nhiều khi chỉ bấm sơ trên tay là đóan được liền. Đối với những người có óc thực tế họ chẳng nhớ câu phú mà cứ nhắm vào các sao bổ túc kể trên để phối hợp với các chính tinh, nhưng như thế cần phải có sẵn lá số trước mặt chứ không thể bấm trên tay mau lẹ được.
2. Cách bố cục của các sao
Trong mục này tôi không chỉ dẫn về cách an sao mà trong các sách tử vi đều có. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến vấn đề phải nhớ đến hệ thống cố định của các sao, nhất là của các chính tinh, nghĩa là khi thấy các sao này ở cung Mệnh là đương nhiên sao nọ ở cung Quan, cung Thê v.v… Mục này khác với mục trên ở điểm là không phải chú trọng đến các nhóm sao bổ túc mà phải lưu ý đến các chính tinh cùng những sao an theo hệ thống cố định (tỷ dụ như có Hoa Cái ở Mùi thì đương nhiên Thiên Mã ở Tỵ, có Tang Môn ở Mệnh là đương nhiên có Thái Tuế ở cung Thê hoặc Phu v.v…). Có nhớ được như thế quý bạn mới hiểu được dễ dàng những điều tôi sẽ trình bày sau đây.
Tôi còn nhớ Cụ Song An Đỗ Văn Lưu (tác giả cuốn Tử Vi Chỉ Nam) khi còn sinh tiền có kể cho tôi nghe là Cụ thường thi đua với các nhà tử vi lành nghề về phương diện an sao cho nhanh và chính xác, và tất cả những nhà tử vi dự cuộc thi đặt điều kiện là phải an từng cung cho xong mới được qua các cung khác, chứ an theo cách đếm thường lệ thì rất dễ dàng. Tôi nêu ra chuyện này không phải đề cao Cụ Đỗ Văn Lưu vì thực ra Cụ đóan tử vi cũng chẳng giỏi gì, mà chỉ muốn nói rằng việc an sao như vậy rất có lợi cho cách đóan tử vi, nhất là khi muốn bấm bằng tay. Thực thế, khi quý bạn vừa nói với thầy tử vi là mạng quý bạn có Liêm Sát chẳng hạn, nếu thấy ông thầy đóan ngay lập tức là người vợ quý bạn đàng hòang, trung hậu, đảm đang thì bạn có phục và ngạc nhiên hay không? Nhưng nếu bạn nhớ cách bố cục cố định thì quý bạn cẳhng cho là lạ chút nào, vì khi cung Mệnh có Liêm Sát thời đương nhiên cung Thê có Thiên Tướng là sao có những đặc tính nêu trên, dù cho có gặp những sao khác chế hóa đi, cũng chỉ sai lệnh chút ít mà thôi.
Tôi xin nếu thêm một ví dụ khác nữa nếu biết cung mạng của quý bạn có Tang Môn ở bất cứ vị trí nào là tôi có ngay một khái niệm hạnh phúc lứa đôi của bạn, nghĩa là tôi đã biết sơ sơ là vợ chồng bạn (trường hợp có gia đình rồi) nương tựa lẫn nhau trên đường đời tuy hơi khắc khẩu.
Tại sao vậy? Cũng suy luận như trên khi mạng có Tang Môn thì cung Phối pảhi có Thái Tuế là sao hay cãi cọ, khẩu thiệt, nhưng cũng nói lên là sao nương tựa lẫn nhau vì tuổi mình ẩn trong sao đó (Thái Tuế an theo tuổi) và như vậy cung Thê phải đóng tại cung tuổi mình, tức là cách truyền cung mà tôi đã khen trong bài “Hạnh phúc vợ chồng qua cung Phối” đã đang trên KHHB. Nếu ngược lại, quý bạn cho tôi biết là cung Thê của quý bạn có Thái Tuế là tôi biết ngay quý bạn có tính đa nghi, hay hờn dỗi, ưa nghiên cứu kín đáo, có óc tế nhị, học hành dễ bị gián đọan hoặc chậm trễ; đó cũng chỉ vì tôi biết cung Mệnh của quý bạn đương nhiên có Tang Môn tượng trưng cho các tính chất trên.
Để chấm dứt mục này, tôi xin nêu ra một câu phú thong thường để nêu rõ sự cần thíêt về việc ghi nhớ cách bố cục cố định của các chính tinh. Đó là câu “Cự Nhật Dần Thân, quan tam đại”. Tại sao chỉ có cách Cự Nhật này mới được “quan phong tam đại”? Lại cũng suy luận theo cách bố cục của các chính tinh, ta thấy khi Mệnh của mình có Cự Nhật thì đương nhiên cung Ph1uc có Cơ Lương (ở Thìn hoặc Tuất) và cung Tử Tức có Thiên Phủ. Như thế phải 3 đời làm quan không? Cung Phúc có Cơ Lương ở Thìn Tuất thì ông cha của ta phải có chức phận trong chính quyền; cung Mệnh của ta có Cự Nhật thì chính ta phải làm quan, rồi đến cung Tử Tức có Thiên Phủ thì con cái ta cũng phải là người có công danh trong xã hội, lớn hay nhỏ còn tùy theo các sao khác, nhưng dù sao ta cũng mường tượng được dòng dõi của Cự Nhật rồi.
10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi & 10 dữ kiện khi giải đoán
10 dữ kiện khi giải đoán Tử vi
Giáo sư Lê Trung Hưng
1- Dữ kiện nghị lực : Sao Thiên Mã.
2- Dữ kiện sinh tồn :các sao vòng Tràng Sinh.
3- Dữ kiện hưng thịnh : các sao vòng Lộc-Tồn.
4- Dữ kiện tính khí : các sao vòng Thái Tuế.
5- Dữ kiện thời vận : các sao Tuần và Triệt.
6- Dữ kiện bẩm chất : các sao Thiên Không, Đào Hoa, Hồng Loan.
7- Dữ kiện hoạt động : các sao Vòng Mệnh và vòng Thân.
8- Dữ kiện thú tính : các sao Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh.
9- Dữ kiện phù trợ : các sao Tả-Phù, Hữu-Bật, Lực Sĩ, Bác-Sĩ, Hóa Quyền, Hóa Khoa.
10- Dữ kiện ma thuật : Mệnh vô chính diệu.
Ngoài các dữ kiện sao vừa nói, ta hãy nói sơ lược lại nền tảng phối hợp ngũ hành, để thích nghi luận lý :
a- Tương sinh : Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Mộc.
b- Tương khắc: Mộc-Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc.
c- Bình Hòa : Thổ gặp Thổ (dù là loại Thổ gì cũng vậy)
d- Bất cập : Hỏa gặp Hỏa (dù là loại Hỏa gì cũng vậy)
e- Thái quá : Thủy gặp Thủy (dù là loại Thủy gì cũng vậy)
f- Phát triển :Kim gặp Kim và Mộc gặp Mộc.
2- Dữ kiện sinh tồn :các sao vòng Tràng Sinh.
3- Dữ kiện hưng thịnh : các sao vòng Lộc-Tồn.
4- Dữ kiện tính khí : các sao vòng Thái Tuế.
5- Dữ kiện thời vận : các sao Tuần và Triệt.
6- Dữ kiện bẩm chất : các sao Thiên Không, Đào Hoa, Hồng Loan.
7- Dữ kiện hoạt động : các sao Vòng Mệnh và vòng Thân.
8- Dữ kiện thú tính : các sao Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh.
9- Dữ kiện phù trợ : các sao Tả-Phù, Hữu-Bật, Lực Sĩ, Bác-Sĩ, Hóa Quyền, Hóa Khoa.
10- Dữ kiện ma thuật : Mệnh vô chính diệu.
Ngoài các dữ kiện sao vừa nói, ta hãy nói sơ lược lại nền tảng phối hợp ngũ hành, để thích nghi luận lý :
a- Tương sinh : Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Mộc.
b- Tương khắc: Mộc-Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc.
c- Bình Hòa : Thổ gặp Thổ (dù là loại Thổ gì cũng vậy)
d- Bất cập : Hỏa gặp Hỏa (dù là loại Hỏa gì cũng vậy)
e- Thái quá : Thủy gặp Thủy (dù là loại Thủy gì cũng vậy)
f- Phát triển :Kim gặp Kim và Mộc gặp Mộc.
10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi
Giáo sư Lê Trung Hưng
Sách Tử vi mỗi ngày càng nhiều nhưng ý nghĩa các Sao vẫn thấy không thấy thêm ra, chỉ quanh quẩn trên nhưng câu Phú với ý nghĩa mơ hồ, nhiều khi đặt để ở một trạng thái gán ghép thành ra làm nản chí những người ham học hỏi Tử-vi không ít. Trong chiều hướng phải làm sao sáng tỏ cho ngành học lý đoán cổ truyền này, những công trình nào dù bé nhỏ tới đâu, nếu đem phổ biến một cách trung thực và nhiệt thành, thiết tưởng cũng là một nỗ lực khách quan nhất của người tri thiên mệnh để xây dựng xã hội. Học phái Thiên Lương xin lại mạn phép chư vị quân tử trình làng Tử vi “Mười Kinh nghiệm” được coi là những đòn sát thủ trên mỗi bản số Tử-vi để cùng nhau chiêm nghiệm :
1.Sinh bất phùng thời: Hạn Thái tuế vô chính diệu
2.Đồng bệnh tương lân: Hình, Riêu, Không Kiếp
3.Đời là bể khổ: cung ách
4.Công ơn tổ phụ: cung Phúc đức vô chính diệu
5.Đen như mõm chó: Cung quan lộc vô chính diệu
6.Làm thân trâu ngựa: Thế tương quan giữa cung Thân Mệnh và cung Nô bộc
7.Trắng tay sự nghiệp: Hạn Thiên không ở tứ mộ
8.Sớm đầu tối đánh: Nhận diện nhóm hung tinh chiến lược Kình, Đà, Linh, Hỏa, Không, Kiếp.
9.Được làm vua thua làm giặc: Người Tỵ, Dậu, Sửu với sao Phá toái.
10.Anh hùng tạo thời thế: Luận bốn mẫu người Tử sát, Tử tướng, Tử phủ và Tử Phá.
Bây giờ xin vào chi tiết
1- Sinh bất phùng thời :
Mỗi bản số đều được hưởng 10 năm thuận lợi, đắc ý nhất ở cung Tam hạp với Sao Thái Tuế (được gọi là vòng Thái Tuế).
Thí dụ : Người tuổi Tỵ, vậy khi đến hạn 10 năm ở một trong ba cung Tỵ, Dậu, Sửu là được hưởng vòng Thái Tuế. Nhưng có 01 điều cân nhắc cận thận về cường độ của sự thoải mãi, nghĩa là xem, đắc ý tới mực nào, thì phải xem xét cung Mệnh (và cả cung an Thân) có chính diệu tọa thủ hay không, đồng thời cung nhập hạn của vòng Thái Tuế có chính diệu hay không ?. Sự đắc thắng vẻ vang hay chiến thắng trong gian lao là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây :
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu hãm địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi một cách tương đối.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu đắc địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi trung bình.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì vẻ vang trong gian khổ, sinh bất phùng thời.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung có Chính diệu tọa thủ (nhất là bộ Sát, Phá , Tham) thì chiến thắng rạng rỡ huy hoàng đắc lợi như ý muốn.
•Trường hợp Cung Mệnh trùng hợp với ngay cung của vòng Thái Tuế không tốt bằng cung an Thân trùng hợp với cung của vòng Thái Tuế (vì Thân chủ về hành động, còn Mệnh là lý thuyết và tư tưởng, nên chỉ có làm mới có hưởng, tay có làm thì hàm mới có nhai ! )
2- Đồng bệnh tương lân :
Trong những tai nạn cộng đồng, nghĩa là nhiều người vướng vào vòng hoạn nạn cùng một lúc và bởi một nguyên do (Thí dụ : tai nạn rớt máy bay làm nhiều người chết ... ) Tử vi đã trở lên nghi vấn trong cách giải thích trường hợp khó khăn và tế nhị này ? Tuy nhiên, nếu đem đối chiếu với những lá số thiệt mạng (hay chỉ mang thương tích) trong tai nạn cộng đồng, thì khi dùng phép quy nạp đã cho thấy nét tương đồng kể sau :
- Tam hợp với cung Mệnh có Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không và Địa Kiếp (hay tam hợp của cung Ách )
- Cung Ách có Thất Sát, Phá Quân hay Tham Lang (Hay cung Mệnh có cách này)
- Tiểu Vận (một năm) hay Đại Hạn (10 năm) vào vòng tam hạp của Thiên Không (Thiếu Dương - Tử Phù và Phúc Đức)
Hầu hết những người có cách trên đều phải nếm qua mùi vị của " Đồng Mệnh tương lân " : Việc xảy ra nếu có người chết, kẻ chỉ bị thương, là còn do cung Phúc Đức chi phối, dù thế nào đi chăng nữa thì cũng phải cộng đồng tai ách. Chắc chắn không ai dám kiểm chứng trường hợp này, bằng cách tập hợp tất cả các cá nhân có Hình-Riêu-Không- Kiếp ở Mệnh (và Ách cung là thế Sát Phá Tham), nhưng nếu quý vị nào chịu khó sưu tập những lá số có có tiêu chuẩn vừa nói, thì sẽ thấy ngay cá nhân của bản số đều vướng phải chuyện xui xẻo này một lần trong đời của họ.
3- Đời là bể khổ : Cung Ách
Thế nhị hợp của cung Ách với hai cung Mệnh, Thân đã nói lên rõ ràng cái nghiệp mà nhà Phật chủ trương .
- Mệnh, Thân sinh phò Ách cung , là ta phải lãnh đủ mọi chuyện do ta đã làm. Cá nhân phải trực tiếp chịu ảnh hưởng cái hậu quả của việc ta đã tạo ra trong đời sống hằng ngày (gieo nhân nào, gặt quả ấy). Đây là giai đoạn tạo nghiệp mà Nguyễn Du tiền bối đã nói : "Thiện căn ở tại lòng ta"
- Ách cung sinh phò Mệnh, Thân là bản thân ta ở kiếp này phải hứng chịu nhiều những hậu quả truyền kiếp (do dòng họ tiền nhân để lại, cũng có thể là do đời sống ta kiếp trước để lại) Cho nên, trong chuyện Kiều có câu ứng :
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng có trách lẫn trời gần trời xa.
- Mệnh,Thân sinh phò Ách cung là khi nào hành Tam hợp của cung Mệnh, Thân sinh ra hành của Tam hợp cung Ách (Ví dụ: Mệnh ở cung Dậu, vậy hành của Tam hợp Tỵ Dậu Sửu là Kim. Ách ở cung Thìn, vậy hành của Tam hợp Thân Tý Thìn là Thủy. Tam hợp Mệnh là Kim đã sinh phò tam hợp Ách là Thủy). Còn Ách cung sinh phò Mệnh, Thân cũng tính như cách vừa nói (Ví dụ : Ách ở cung Tỵ thuộc Tam hợp là hành Kim. Cung an Thân ở ngay cung Thân thuộc Tam hợp Thủy, do đó Ách (Kim) sinh xuất ra Thân (Thủy)
Mặt khác, đã gọi cung Tật Ách, thì chỉ được hiểu là những nghiệp xấu tích lũy tích tụ lại (còn nghiệp tốt tích tụ ở cung Phúc-Đức mới đúng nghĩa của nó) thành ra không bao giờ Đại Tiểu hạn đến cung Tật Ách mà người ta thấy thoải mái đắc ý được (sách xưa ghi đơn sơ : hạn Thiên Sứ xấu, chính là ẩn ý vậy). Đã biết cung Tật Ách xấu, và hiểu là những tai nạn cho mỗi bản số trong kiếp đang sống, thiết tưởng phải lưu ý hai bộ mặt của cung Ách :
- Ách cung thuộc cách Sát Phá Tham là hay bị ngoại thương, chủ về sự sát phạt tích cự mau lẹ.
- Ách cung thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Tử Phủ Vũ Tướng chủ về nội thương, các tai họa có tính cách gậm nhấm, tiêu hao dần mòn ...
4- Công ơn Tổ-Phụ :
Nếu cung Ách tiêu biểu cho nghiệp xấu, thì cung Phúc Đức tượng trưng cho nghiệp tốt. Có điều cần phải nhấn mạnh là : nghiệp tốt với những cường độ khác nhau (phước mỏng hay phước dày là thế). Đa số sách Tử-vi đều hời hợt ghi chú :”Sao Mộ ở cung Phúc Đức là cách tốt đẹp”. Tôi thấy điều này trái hẳn với ý nghĩa Tăng–Trưởng–Hủy–Diệt của vòng Tràng Sinh (phải hiểu là 12 giai đoạn của một kiếp sống , chứ không phải là 12 sao: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai và Dưỡng, được đa số nhìn như những tinh đẩu riêng biệt là một điều lầm lẫn lớn).
Cung Phúc Đức bản chất là một kho tích tụ những may mắn cho một đời người, nếu nó có sao Mộ đóng, tức là có nghĩa : giai đọan may mắn đã chìm sâu trong bóng tối một cách dễ hiểu hơn hơn là không còn hên nữa. Phúc Đức ở giai đoạn của Thai, của Dưỡng của Trường Sinh … là cách tốt đẹp khả quan nó biểu hiện cho những tiềm lực dồi dào, tài nguyên “may mắn” còn phong phú, còn tiềm tàng …
Ngoài ra, một kinh nghiệm khác về cung Phúc Đức, là khi nào cung này Vô Chính Diệu , được Thái Dương, Thái Âm (đắc địa) ở thế Tam Hợp hội nhập chiếu sáng rõ ràng một đời “Họa bất trùng lai, phước vô đơn chí”
Ví dụ : Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu ở cung Mùi, có Thái Dương ở cung Mão, có Thái Âm ở cung Hợi chiếu sáng. Sách xưa có ghi “Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” là một đời có nghĩa “ Bao nhiêu hạnh phúc ở trần gian, trời đã dành riêng để tặng … lá số “. Thiên địa hòa mình thì nhân sự thanh bình vậy.
5- Đen như mõm chó
Sống là phải tranh đấu, nhất là đối với những ai còn chủ trương : Có trung hiếu nên đứng trong trời đất, không công danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ), thì cung Quan Lộc phải kể là quan trọng đối với đấng ”mày râu” (Riêng đối với phái đẹp, thì tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang đã bàn rõ cách Thân cư Quan Lộc có Tuần-Triệt án ngữ, xin miễn bàn nhiều !) Các cách tốt xấu của chính tinh ở Quan Lộc đã có nhiều sách giải rất chi tiết, nhưng khi cung này Vô Chính Diệu thì sao ? Xin thưa ngay rằng : Đen như mõm chó. Cổ nhân nói câu thành ngữ này là có ý diễn tả cái cảnh bấp bênh, cái tráo trở, cái bất hạnh, cái long đong … của con người. Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu là một trạng thái bi đát, mà cụ Uy Viễn Tướng Công đã cay cú :
– Người trần thế muốn nhàn sao được ?
Nói dễ hiểu hơn : Công danh sự nghiệp, thăng trầm vật vờ như phù vân. Kể cả trường hợp được Nhật Nguyệt chiếu sáng thì cũng chỉ là cái thế của Quân Sư quạt mo, phò người để còn có mình, khí cái gốc nương nhờ sụp đổ thì ta còn gì, ngoài ý nghĩa “ký sinh nhân” ?
6- Làm thân trâu ngựa
Người biết coi số Tử-Vi đều ngán ngẫm nhóm sao tráo trở và thủ đọan là : Tả, Hữu, Không, Kiếp, Phục Binh, Kình, Đà …(được coi là nhóm hung tinh chiến lược) đóng ở cung Nô.
Trong bản số Tử-Vi thế nhị hợp của cung Thân, Mệnh và cung Nô cũng phải lưu ý nhóm sao dữ kể trên đóng ở vị trí nào :
– Nếu Tam hợp cung Thân – Mệnh có hành sinh xuất tam hợp cung Nô, mà cung Nô chứa bộ hung tinh chiến lược thì có nghĩa là làm ơn mắc óan, hữu công vô lao, bạn bè chỉ là hạng bất nhân luôn luôn tìm cách trục lợi mình, sang thì tìm đến, khó thì tìm lui. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tả óan :
Còn bạc còn tiền còn để tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Ví dụ : Cung Thân ở cung Hợi (thuộc Hợi Mão Mùi là Mộc), Cung Nô ở cung Dần (thuộc Dần Ngọ Tuất là Hỏa). Vậy là cái ta Mộc sinh xuất cho cái Nô Hỏa.
– Nếu tam hợp cung Thân- Mệnh được hành sinh nhập bởi tam hợp của cung Nô, mà cung Nô cũng chứa bộ hung tinh chiến lược, lại có nghĩa thâm thúy như sau : Bạn Bè, thuộc hạ của ta tuy là hạng đầu trâu mặt ngựa, đối với người khác là sự phản bội nhưng đối với ta vẫn trung thành phục vụ , đem hết sức khuyển mã để phụng sự ta.
Ví dụ : Nô Bộc ở cung Hợi (thuộc tam hợp Mộc) sinh nhập cho Thân ở cung Dần (thuộc tam hợp Hỏa). Những thầy phù thủy, thầy pháp cao tay ấn đều có cách này.
7- Trắng tay sự nghiệp
Đại, Tiểu Hạn trùng phùng, đáng sợ nhất của lá số Tử-Vi là Đại hạn 10 năm đóng tại một trong ba cung có sao : Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (đỡ vất vả nhất) và Tiểu vận một năm cũng nằm trên một trong ba cung có sao vừa nói, (gọi là hạn Thiên Không, sẽ gặp số không ở cuối đường hầm). Cụ Thiên Lương chủ trương học Tử-Vi phải có lòng thành khẩn và can đảm mà gồng mình chịu đựng :
– Khi sao Thiên Không đóng ở Tứ Mộ (bốn cung Thìn Tuất Sửi Mùi ) nghĩa là không có trường hợp Đào Hoa, Thiên Không (xảo trá, mưu mô) và cũng không có trường hợp Hồng Loan Thiên Không (xuất tăng tầm đạo ) chỉ có một GRANĐ-ZEZÔ. Vậy khi nào hạn Thiên Không (vòng của Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức) nhập Mộ cung, thì kể như trắng tay sự nghiệp (nhất là khi Mệnh, Thân thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, mà Đại Tiểu hạn trùng phùng là Sát Phá Tham cách) may mắn lắm bản thân mới còn, đa số đều ôm hận ngút trời, mà về cõi ta bà Âm Phủ
8- Sớm đầu tối đánh:
Sáu sao Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không, Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tuy bản chất hung dữ nhưng có nhiều nét dị biệt cần phải bám sát vào ba đặc tính kể sau để nhận diện :
– Kình Dương và Đà La thuộc loại Sát tinh hữu dõng vô mưu, tuy tác hại nhưng còn chiêu hồi được. Nói cách khác, khi nó hãm địa là những bộ mặt quỷ dạ xoa, chủ trương tiêu diệt phá phách, nhưng khi chúng đắc địa nhất là cung Sửu, Mùi thì lại là mẫu hình Chung Vô Diệm tuy xấu mặt nhưng tốt bụng, luôn luôn trung thành, cứu giải phò nguy cho cung mang ý nghĩa mà đôi sao này trấn đóng.
– Địa Kiếp và Địa Không là cặp bài trùng phản trắc chung thân (bất kể chúng đóng ở cung hãm địa hay đắc địa) cung nào mà có bộ mặt của hai sao Không, Kiếp (dù một hay cả hai) thì cục diện cung đó đã có chiều hướng lệch lạc (Thiên Tả) lình xình. Không, Kiếp đắc địa ở cung Tỵ, Hợi, chỉ làm lợi buổi đầu, nó đưa người thụ hưởng lên thật cao rồi cuối cùng vật té xuống hồ sâu (bản chất phản trắc là như thế !). Ngoài ra, một vài tiểu xảo lý thú về sự lệch lạc của Địa Không, Địa Kiếp như sau : Cung Tử Tức có Không Kiếp là thêm con hoang, dị bào, khó nuôi con … Cung Huynh Đệ có Không Kiếp là có thêm anh chị em không cùng một giòng chính thống, hay anh chị em gái có người tình duyên dang dỡ... Cung Phối có Không Kiếp là nhiều lần chắp nối, vợ này, chồng khác (nhất là gặp phải góa phụ, góa vợ..).
– Hỏa Tinh và Linh Tinh là nhóm sao chuyên chú về những thủ đoạn vụng trộm, tính toán, tiểu lợi, chỉ rình mò khi nào đương số gặp vận xấu là vùng lên đánh lén để ăn có. Cung nào chứa Hỏa Tinh, Linh Tinh (chỉ cần một cung là đủ) là hay gặp phải ý nghĩa của câu “họa vô đơn chí”, nghĩa là đường kia nỗi nọ ngổn ngang tơi bời , bởi lo chuyện này chưa xong thì tai ách khác đã tới (nhưng không đến nỗi gay cấn lắm) quan trọng và tai hại nhất là những ai tuổi Canh, Tân (và mạng Kim) gặp hạn Linh, Hỏa ở thế Sát Phá Tham là tiêu tùng sự nghiệp, bổn mạng lâm nguy (Linh Hỏa đóng ở hai cung Thủy là Hợi và Tý thì hạn nhẹ nhất).
9- Được làm vua thua làm giặc
Sao Phá Toái hoạt động riêng trong giang sơn của nó là vòng Kim (thuộc ba cung Tỵ Dậu Sửu). Ai cũng biết Phá Toái chỉ chịu quy phục sao Phá Quân (gọi là Toái Quân- Lưỡng Phá). Do đó người Mạng Kim mà Thân, Mệnh đóng ở một trong ba cung Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Sát Phá Tham thì hay nhất, anh hùng nhất (số làm tướng, bách chiến, bách thắng). Thói thường cỡi cọp thì sẽ có ngày cọp cỡi (sinh nghề tử nghiệp) thành ra những người tuổi Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Thân, Mệnh, hạn gặp Phá Toái kể như lọt vào vòng kiềm tỏa và ảnh hưởng trực tiếp của hung tinh này, đau khổ là lý đương nhiên, chưa vui họp mặt đã sầu chia ly.
10.Anh hùng tạo thời thế
Tử vi là chúa tinh, đóng ở cung nào đem bóng dáng của hạnh phúc vào cung đó, đây chỉ là lý thuyết tổng quát. Còn khi đem áp dụng vào bản số Tử vi thì đã biến thiên rất nhiều ý nghĩa, lẽ dễ hiểu: Vua hiền mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà nước lã quấy nên bột nên hồ? Lưu Bị không gặp được Khổng Minh, Lê Lợi không có Nguyễn Trãi, chưa chắc đã có tình trạng lịch sử đáng được ghi chép. Có bốn mẫu cung Thân Mệnh (nhất là cung an Thân, vì có hoạt động mới tạo được thành quả) cần phân tích:
-Mệnh Thân có Tử Vi và Thất sát: Vua có thực lực nhưng bề tôi là đám chủ về bạo động, nên ở tình trạng chật vật, thật vất vả mới bình trị được thiên hạn, thất bại nhiều hơn chiến thắng.
-Mệnh thân có Tử vi và Phá quân: Vua gặp phải bầy tôi gian xảo và tham vọng, thành ra yếm thế, bi quan, nhiều khi cũng phải gian tham độc ác theo để tương kế, tựu kế mà sống.
-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Tướng: Vua gặp được tướng giỏi (nhưng hữu dũng vô mưu) cách này là phải luôn chiến đấu (làm sao bắt Thiên Tướng làm việc liên miên, để không còn cơ hội tạo phản) do đó tình trạng phải đa đoạn công việc việc suy gẫm nhiều mưu cơ
-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Phủ: Vua gặp thời thạnh trị, văn thần trung nghĩa, trên dưới hòa thuận nên được hưởng nhiều thanh thản trong đời sống, vừa có tiếng, vừa có miếng.
Nói cách chung, tất cả các yếu tố gọi là sao trên bản số Tử vi, đã sinh hoạt như một cộng đồng nhân loại, có đầy đủ các yêu tính thế tục và thánh thiện vậy.
(KHHB số 74-L-1 và 74-L-2)
