Thứ Năm, 9 tháng 5, 2019

Lương Nhược Du - Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số (Quách Ngọc Bội dịch; nguồn: TVLS)

Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số

Lương Nhược Du

Ghi chú lời bàn trước khi đọc quyển sách này: 
Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số Tứ Hóa Phái hay còn gọi là Hà Lạc Phái dùng 4 câu nói sau để khái quát: Nhất lục cộng tông, Khí số tại cửu, Cung vị điệp dụng, Tứ hóa cát hung.

Cái gọi là “Nhất lục cộng tông”, chính là mượn cái quan niệm của Hà Đồ để mà trình bày một cái lý là: Mệnh cung cùng với nghịch số của nó đến cung Tật Ách là cung thứ 6, là có mối quan hệ đầu đuôi trong ngoài, liên quan tới vui buồn; cùng cái lý đó thì, các cung còn lại như Huynh Đệ cung, Phu Thê cung, các loại… bất cứ cung nào mà đếm nghịch từ nó đến cung thứ 6, thì đều có sự quan hệ biểu lý đầu đuôi, một cái lý này có thể áp dụng được cho cả 12 cung nhân sự.

Cái gọi là “Khí số tại cửu”, là mượn dùng quan niệm của Lạc Thư, cho rằng 9 là số Cực, bất luận một cung nào đó mà nghịch số đến cung thứ 9 (tức Quan Lộc cung của nó) là vị trí Khí Số của nó. Bất kể là cung nào thì cát hung tốt xấu của nó đều cùng với Tứ Hóa của Thiên Can ở vị trí của Khí Số của nó là có mối quan hệ chặt chẽ nhịp nhàng. Một cái lý này cũng có thể áp dụng được cho bất kỳ cung nào trên lá số.

Cái gọi là “Cung vị điệp dụng”, là chỉ bất kỳ cung vị nhân sự nào đều có thể lấy Bản cung làm Mệnh cung, rồi khởi xuất 12 cung nhân sự của riêng nó. Thí dụ như, Phu Thê cung là cung Nô Bộc của cung Nô Bộc, lại cũng là Quan Lộc cung của cung Thiên Di, v.v… cứ thế mà triển khai suy ra 144 quyết biến hóa của cung vị.

Cái gọi là “Tứ hóa cát hung”, là để nói về Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị, chỉ với 14 Chính Tinh và Tả Hữu Xương Khúc, để mà suy đoán đường đi của Mệnh cùng nhân sự.

Quan niệm của phái Hà Lạc là gán ghép với Hà Đồ Lạc Thư, cũng chính là quan tâm đến Tứ Hóa trên tinh bàn Đẩu Số. Kiểu gán ghép này có hợp lý hay không?

-----------------------------------------------------------------------------

Tử vi tứ hóa là đường thẳng, tử vi phi tinh là đường cong. Nếu như tứ hóa năm sinh là một chiếc xe đang đỗ, thì tứ hóa là chiếc xe đi thẳng còn phi tinh là máy bay. Nếu như tử vi nam phái có cung tý gặp cung ngọ qua tương xung, thì trong tử vi phi tinh các cung gặp nhau bằng phi hóa. Tứ hóa phái vẫn nặng về tương tác của phi hóa với cung, thì phi tinh xét tương tác của phi hóa với phi hóa, tương tác phi hóa với cung chỉ là trường hợp riêng khi chưa cần xét phi hóa của cung đó. Phi hóa như các cánh tay vươn dài của một cung, đại diện cho ảnh hưởng và ý chí của cung đó, và các cung gặp nhau khi phi hóa của chúng gặp nhau ở cùng một cung hoặc gặp nhau ở cùng một trục. Tứ hóa năm sinh thì tĩnh tại là cội nguồn cho mọi tự hóa và phi hóa trên lá số. Tự hóa tuy đã có chuyển động nhưng chuyển động vẫn giới hạn trong một trục. Phi hóa thì đã thoát khỏi sự giới hạn trục và có độ tự do cao nhất. Chính vì phi tinh đã phá vỡ không gian cứng nhắc của địa bàn cho nên luận phi tinh biến ảo khôn lường. Nó giống như hình bóng mối quan hệ nhân quả trong đời người mỗi chúng ta. Có đến, và có đi. Có nhiều và có ít. Có thể nhưng cũng nhiều khi không thể. Phi tinh Lương phái do lão sư Lương Nhược Du học từ lão sư Chu Thanh Hà và phát triển dựa trên nguyên lý Lộc tùy Kỵ tẩu, sử dụng hai đường Chuyển Kỵ làm bảo vật trấn môn. Đường chuyển Kỵ giống như đường ray xe lửa vận chuyển những toa tàu. Đường chuyển Kỵ giống như đường cống ngầm đưa nước sạch cũng như nước thải đi khắp thành phố. Đường chuyển Kỵ kết nối các cung với nhau. Đường chuyển Kỵ tạo ra những nhóm cung tạo ra sự cộng hưởng của các yếu tố tương tự nhau. Người xem tử vi nhìn thấy mối quan hệ thực sự đang nằm dưới vẻ bề ngoài êm đềm của lá số. Nếu chỉ có phi Hóa từ cung A sang cung B thì chưa biết tâm tình phản ứng của cung B ra sao. Và nếu tứ hóa năm sinh tọa cung A thì cũng chưa biết cung A phản ứng với tứ hóa năm sinh này ra sao, cho nên cần phải xét chuyển Kỵ. Chuyển Kỵ là tiếng nói của cung nhận phi hóa. Chuyển Kỵ là tiếng nói của địa bàn. Chuyển Kỵ cho biết xu hướng và khuynh hướng chuyển động. Lộc chuyển Kỵ và Kỵ chuyển Kỵ là hai hành trình sướng khổ trong cuộc đời. Nếu đi được một vòng, bạn sẽ quay lại điểm xuất phát ban đầu, nhưng khi đó tầm nhìn của bạn hoàn toàn thay đổi. Cuốn sách này có hai phần: phần đầu như phương pháp nấu ăn, phần hai là thực phẩm nguyên liệu. Hai thứ này cần có thêm bạn để món ăn được hoàn thành.
-------------------------------------------------------------------------

I. Nhập Môn:

A, "Giải thích về ý nghĩa Tinh Diệu" của phái Phi Tinh

Việc luận mệnh của Phi Tinh, chủ yếu chỉ dùng có 18 tinh diệu (thập bát phi tinh). Đó chính là lấy "Cung Vị" của 12 cung trên lá số làm cốt lõi chính, lấy "Tứ Hóa" làm "Dụng Thần". Cần Tứ Hóa xâu chuỗi toàn cục rồi sau đó giải thích đồng thời 3 yếu tố "Cung Vị", "Tinh Diệu", "Hóa Tượng" thì mới có thể "định Cách Cục", "quyết Cát Hung". Điều này có khác biệt với Tam Hợp phái sử dụng rất nhiều Tinh Diệu lớn nhỏ, Thần Sát, tổ hợp Cát Hung, ở trên lá số.

Thí dụ như, Tử Vi cát tinh nhập Mệnh là người tướng mạo đường đường, nhưng vì lẽ gì mà trì trệ không thấy sự phát đạt của nó? Chính là nhờ Tứ Hóa về sau mới bắt đầu có thể thấy sự không đẹp ở cách cục của nó cho nên mới vậy. Ngược lại, có những người thường thấy hung tinh tọa mệnh, thế mà lại giành được những thành tựu to lớn, là đều do Tứ Hóa của cách cục tổng thể được cát hội hợp tươi tốt nên vậy.

Hình ảnh ý nghĩa tinh diệu của Tử Vi Đẩu Số, đều lấy ở những tính chất đặc trưng của nhân vật trong truyện cổ "Phong Thần bảng". Nếu như có lòng nghiên cứu Tử Vi, tốt nhất là nên đọc qua truyện này, để thiết lập một chút khái niệm ban đầu.

* Hình ảnh ý nghĩa tinh diệu, tạm nói như sau:

1, Tử Vi:
Ngũ hành Kỷ thổ, là Bá Ấp con trai cả của Chu Văn Vương. Trung Thiên đế tòa, chủ tôn quý. Chế hóa giải ách, tiêu tai, tăng thọ. Cho nên gọi là "Thọ tinh".
1.1, Đồ cổ quý hiếm. Kim cương châu bảo. Sao hiện đầy trời. Nhập khẩu xe hơi cao cấp. Đồ gia dụng cao cấp. Tòa nhà cao tầng.
1.2, Những vật phẩm đắt giá, tỉ mỉ chính xác, cao quý. Máy vi tính.


2, Thiên Cơ:
Ngũ hành Ất mộc, là Khương Tử Nha quân sư của Văn Vương. Sao giỏi tính toán, hóa khí gọi là "Thiện" là "Trí". Vày mưu tính kế.
2.1, Thông minh mẫn tuệ. Suy xét sắp đặt. Khi hóa Lộc thì biến đổi nhanh, nhiều ý tưởng, nhưng không giỏi về hành động thực tiễn; hóa Kị thì ưa "để tâm vào những tiểu tiết".
2.2, Thiền định, trầm tư mặc tưởng, triết học, mệnh lý, Phật pháp.
2.3, Là sao Dịch Mã chủ di chuyển, biến động.
2.4, Vòng bi ổ trục, đồ kim khí gia đình, xe cơ giới, cũng là 1 dạng nhập khẩu xe hơi, đường ray, công trường nhỏ, phân xưởng, gara xe, salon xe, máy móc nhỏ.
2.5, Ứng với các bộ phận trên thân thể: Gân cốt, tinh thần, hệ thần kinh, tay, chân, lông tóc. Đau nhức, mất ngủ, thần kinh suy nhược, hao tổn tinh thần, bệnh tâm thần.
2.6, Hoa cỏ, những cây thấp bé, bồn hoa.


3, Thái Dương:
Ngũ hành Bính hỏa, là Tỷ Can trung thần của Trụ Vương. Quang minh lỗi lạc, khoan dung đại lượng, bác ái
3.1, Mặt trời chiếu nhân gian, chủ quang minh, bác ái, vô tư, chủ chính trị.
3.2, Mặt trời mọc lặn, chủ Dịch Mã, tất bật ngược xuôi.
3.3, Buôn bán, điện thoại, vẽ truyền thần, tin tức, moi tin, vô tuyến điện, mạng máy tính.
3.4, Nguồn năng lượng, điện lực, trạm biến áp, thiết bị điện cỡ lớn, dầu mỏ, động cơ, mô tơ.
3.5, Ứng với các bộ phận trên thân thể: cái đầu, tâm trạng (cái chúa tể thân thể), mắt (quang minh). Đau đầu, choáng váng, bệnh tim, huyết áp, trúng gió, tắc mạch máu, bệnh tim mạch.
3.6, Chủ về người cha, chồng, con.


4, Vũ Khúc:
Ngũ hành Tân kim, là Chu Vũ Vương. Sao "Chính Tài", chủ tiền tài, cương nghị chính trực, chủ quan, quả tú.
QNB chú: "Chính Tài" là để phân biệt với "Thiên Tài", đây là các thuật ngữ của Ngũ Hành gia thường dùng trong Bát Tự học, chữ "Tài" nghĩa là tiền tài của cải, chữ "Chính" là ngay ngắn, còn "Thiên" là thiên vị, thiên lệch.
4.1, Thích gặp Tham Lang (sao Thiên Tài), ở chỗ Thìn Tuất đối cung tốt hơn đồng tọa ở Sửu Mùi. Có bộ Vũ Tham nhập Mệnh thích hợp người chăm chỉ làm việc buôn bán.
4.2, Cũng đại biểu ngân hàng, nghề tài chính, chế phẩm vàng bạc, tiền giấy, tiền xu, phòng mua hàng, kế toán, tài vụ, thuế má.
4.3, Có thể kinh doanh nhà xưởng hỗn hợp công nghiệp nặng nhẹ về kim loại.
4.4, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: Bộ ngực, phổi, cái mũi, răng, xương, sỏi thận.


5, Thiên Đồng:
Ngũ hành Nhâm thủy, là Chu Văn Vương. Hóa khí gọi là "Phúc" (phúc tinh), là sao "tăng thọ".
5.1, Văn Vương giỏi bói toán, cho nên chủ sắp đặt quẻ và phương vị (phong thủy, la bàn, dương trạch, âm trạch).
5.2, Thức ăn ngon (Phúc tinh, hóa Lộc chủ có lộc hưởng ăn uống), nghề ẩm thực, câu lạc bộ.
5.3, Bệnh viện đa khoa cỡ lớn.
5.4, Nhâm thủy, dương thủy, chủ loại nước lưu động. Mương, cống lớn, hồ nước, nước máy, nước ăn.
5.5, Nghề dịch vụ.
5.6, Ứng với các bộ phân trên cơ thể: Hệ tiêu hóa, hệ bài tiết nước tiểu, hệ miễn dịch, nội tiết, cái tai, bệnh sa bìu dái, tiểu đêm nhiều, viêm ruột thừa.
5.7, Sao chủ tuổi thọ.


6, Liêm Trinh:
Ngũ hành Đinh hỏa, là Phí Trọng gian thần của Trụ Vương. Hóa khí gọi là Tù, là sao Thứ Đào Hoa.
6.1, Tù tinh đại biểu phạm tội, gian tà, tranh chấp thị phi, quan tụng, hóa đơn phạt, quân cảnh, pháp luật.
6.2, Cổ thư nói "nam lãng đãng, nữ đa dâm", gần tửu sắc, nhục dục dâm tà, kỹ xướng, âm nhạc, ca vũ, (chính là sao Tài Hoa), quán rượu vỉa hè, tụ điểm đêm, nghề kinh doanh đặc chủng, giới giải trí.
6.3, Sao Thiên Tài, cờ bạc, cá độ, đầu cơ.
6.4, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: Đinh hỏa chủ huyết dịch, kinh nguyệt, bất trắc, chảy máu, giải phẫu, đao thương, bị bỏng, nhiễm trùng, trúng độc, ung, nhọt.
6.5, Tự hóa Lộc dễ bị đổ máu, Tự hóa Quyền dễ bị bầm tím tắc máu (Liêm Trinh không hóa Quyền, là do cái hóa của Tinh diệu đồng cung). Tự hóa Kị dễ bị nội thương.
6.6, Thuốc phiện, thuốc lá, trái cây.
6.7, Máy tính, tủ lạnh, máy giặt, máy lạnh, điện gia dụng.


7, Thiên Phủ:
Ngũ hành Mậu thổ, là Khương thái hậu vợ hiền của Trụ Vương. Là "Lộc khố" (kho tiền). Chủ bày tỏ rộng khắp (trời sinh vạn vật dùng nuôi con người).
7.1, Có thể là chăn nuôi, dưỡng dục, nông sản, thổ sản, sơn hào (thí dụ như nấm hương, măng, khoai, mộc nhĩ, lạc).
7.2, Sĩ diện lớn (ngoài mặt ra oai), chú trọng ăn mặc (nữ mệnh có thể thích may vá, thuê thùa, đi shopping).
7.3, Ứng với những bộ phận trên cơ thể: chủ về dạ dày, lá lách (thuộc Thổ).


8, Thái Âm:
Ngũ hành thuộc Quý thủy, là Giả phu nhân vợ của Hoàng Phi Hổ. Dịu dàng thanh khiết, ngọc khiết băng tâm, bản năng người mẹ "muốn xây tổ ấm", là chủ Điền trạch.
8.1, Nhập Điền Trạch gặp Kị thì coi trọng tiền tài (do Điền Trạch với Tài Bạch là nhất lục cộng tông), nhà cửa sạch sẽ.
8.2, Trăng mọc lặn, chủ Dịch Mã.
8.3, Chủ du lịch, khách sạn lớn, nghề taxi (xe thùng, xe taxi, xe du lịch).
8.4, Xinh đẹp, sạch sẽ, những đồ trang điểm, đồ tinh khiết, trang sức, phục trang, phụ kiện, tạo dáng, thẩm mỹ, làm mẫu tóc.
8.5, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: Kinh nguyệt của phụ nữ (27 ngày 1 kỳ), ánh mắt (quang minh), làn da.
8.6, Đồ gia dụng, giường, nhập khẩu xe hơi hàng hiệu cao cấp (chủ điền trạch), căn hộ cao cấp, hóa chất.
8.7, Chủ người mẹ, người vợ.


9, Tham Lang:
Ngũ hành Giáp mộc (Khí thuộc Giáp mộc, Thể thuộc Quý thủy), là Đắc Kỷ hồ ly tinh ngàn năm. Gọi là "Đào Hoa" (Quý thủy), chủ tu luyện (Giáp mộc), hóa khí "tu hành" (công phu Đạo gia).
9.1, Chủ tình cảm, tửu, sắc, sinh hoạt cá nhân không biết kiềm chế, đào hoa, sao vụng trộm.
9.2, Sao Thiên Tài (Lộc, Quyền), ham muốn, cờ bạc, đầu cơ.
9.3, Khởi nguồn của giáo hóa (sách thẻ tre thời cổ - chế tác từ Giáp mộc), dễ là giáo viên, văn hóa văn nghệ, hoạt động văn hóa.
9.4, Tài nghệ, văn học, nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, nấu nướng, nghề tinh xảo.
9.5, Ngũ thuật "Sơn, Y, Mệnh, Tướng, Bốc" (Tu tiên, Y dược, Xem mệnh, Xem tướng, Bói toán), võ nghệ, thuật dưỡng sinh, thuật thần tiên, tu hành đạo gia.
9.6, Cây đại thụ, gốc rễ cắm sâu vào đất, làm "căn cơ" dẫn dụ vạn vật, nguồn cội, nguyên liệu.
(tác giả chú: gốc của con người là Giáo Dục. gốc của căn nhà là Vật liệu xây dựng. gốc của Đồ Vật là "nguyên liệu").
9.7, Giấy, vật liệu gỗ, nguyên liệu, quan tài.
9.8, Sao Thọ (hồ ly ngàn năm), thích được nhập vào các "Thọ vị" là các cung Tý Ngọ, Thìn Tuất.
(tác giả chú: Tý Ngọ là chỗ Thiên Địa định vị, Thìn Tuất là chỗ của Thiên La - Địa Võng).
9.9, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: Gan, Mật, chân (cẳng chân).
9.10, Chủ về "Tinh, Khí, Thần" của "Động kiến quan chiêm" (thấy động vẻ ngoài). 

10, Cự Môn:
Ngũ hành thuộc Quý thủy, là vợ của Khương Thái Công. Răng lợi sắc bén, sao Ám, ngờ vực, nghi hoặc, thị phi. Ở trời là "Phẩm vạn vật", tại đất là "Ti ngũ cốc".
10.1, Hóa "Kị" chủ tiểu nhân, thị phi, khẩu thiệt, ngờ vực, nghi tâm ám quỷ, tà niệm, bất trắc, tai nạn xe cộ.
10.2, Tà thuật, ma quỷ, đàn tế thần, miếu nhỏ, nghĩa trang, ngôi mộ, ngõ hẹp, nhà nát, ngã ba đường, cống ngầm, cống thoát nước, bài mạt chược (chế ra từ xương, sừng của động vật).
10.3, Cửa chính, cửa cổng, cửa nhà, hộ khẩu, hộ tịch.
10.4, Người hành nghề không có giấy phép, mật y (tức là thầy lang vườn), cầu cơ, lên đồng, bùa chú thần tiên, thầy địa lý, giang hồ thuật sĩ, bang phái trộm cướp, tập đoàn lừa đảo.
10.5, Thuốc tây y, trạm xá phòng khám bệnh.
10.6, Đồ ăn vặt, thích ăn, khẩu vị tinh tế (sao của phẩm vạn vật).
10.7, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: Thực quản, dạ dày, nhọt, Nham (ung thư, cancer), bệnh mãn tính, bình sắc thuốc (bệnh lâu ngày phải uống thuốc), trúng tà, âm khí.
10.8, Đường sắt, vận tải, xe tải, xe hàng nội địa (không phải hàng cao cấp).


11, Thiên Tướng:
Ngũ hành Nhâm thủy, là Văn Thái Sư trung thần của Trụ Vương. Hóa khí là Ấn, chủ Quyền tước quan chức, thuộc "Ti cơm áo", chủ về tước vị.
11.1, Thác nước, suối phun trào (không phải nước dùng để ăn).
11.2, Tướng tay, tướng mặt, nắn xương, tướng nhà cửa, tướng mộ phần, tướng động vật.
11.3, Đồ ăn ngon tinh xảo.
11.4, Sao Gà mái mẹ, người hòa giải.
11.5, Thọ tinh.


12, Thiên Lương:
Ngũ hành Mậu thổ, là Lý Thiên Vương chủ soái của quân đội nhà Chu. Bách chiến bất tử, là sao Ấm, sao tăng Thọ (QNB chú: chữ Ấm vốn là quyền của người thừa kế hưởng tiếp do tiền nhân có công với quốc gia xã tắc).
12.1, Ấm tinh, còn gọi là "sao Phụ Mẫu, sao người già cả", là quan viên, viên chức hành chính, cục điều tra, quân nhân, quan tướng.
12.2, Cây thuốc, thuốc đông y, bệnh viện chuyên khoa (do là sao tăng thọ).
12.3, Cây đại thụ (Ấm), nhà cao tầng, biệt thự, căn hộ cao cấp.
12.4, Thanh cao, phẩm cách, cây trúc (đạo cao đức trọng), lá trà (phẩm vị), hoa lan, hoa sen.
12.5, Bành phong tinh (Sao chém gió, thổi phồng) nói quá sự thực. Cổ thư nói: Thiên Lương hóa Lộc tại Thiên Di thì buôn to bán lớn.
12.6, Cổ phiếu, chứng khoán, vé số, bảo hiểm (Ấm).
12.7, Thọ tinh.


13, Thất Sát:
Ngũ hành Canh kim, là Hoàng Phi Hổ mãnh tướng của Trụ Vương, khởi nghĩa tới hàng nhà Chu. Biến sát thành Quyền. Sao của sự khắc nghiệt, có liên quan tới sự "tử vong", chủ dũng mãnh quả quyết.
13.1, Loại khủng bố, rắn, rết, bọ cạp, bò sát.
13.2, Quân nhân, cảnh sát, quân đội (khắc nghiệt).
13.3, Xe lửa, xe kéo rơ-móc, tàu thủy, sân bay, nhà ga, quân khu.
13.5, Máy móc hạng nặng, đồ kim khí cỡ lớn, công nghiệp nặng (thí dụ như cốt thép).
13.6, Cơ quan lưu thông cỡ lớn.


14, Phá Quân:
Ngũ hành Quý thủy, là Trụ Vương bạo chúa, hoàng đế triều đại cuối cùng của nhà Ân (Thương). Chủ hao phá.
14.1, Nước biển lớn, thủy sản, hải sản.
14.2, Vận tải, chuyên chở đường biển, nhà kho, container, xe kéo cỡ lớn.
14.3, Đồ tiêu khiển, đồ tiêu hao, tay kỳ quái (hao phá), nghề xây dựng.
14.4, Thị trường, bán hàng rong, chợ đêm, khu náo nhiệt.
14.5, Kho tàng trữ, đống rác (dơ dáy, bẩn thỉu), công trường xây dựng.


15, Văn Xương:
Ngũ hành Tân kim, chủ khoa giáp, danh tiếng tên tuổi.
15.1, Văn học chính thống, văn chương, thư tịch.
15.2, Chi phiếu (tờ séc), khế ước, giấy chứng nhận, quà tặng, giấy, bút, văn phòng phẩm.
15.3, Công việc hộ lý, tiêm chích, giải phẫu.
15.4, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: cuống phế quản, dây thanh quản, vết phát ban, tinh thần, hệ thần kinh.
15.5, Sao Dịch Mã (sao thời cơ hệ thống) chủ biến động.


16, Văn Khúc:
Ngũ hành Quý thủy, chủ tài hoa.
16.1, Văn học phi chính thống, dã sử, tạp lục, tiểu thuyết, tạp chí.
16.2, Cách cục tốt thì khéo ăn nói, hóa Kị thì lải nhải luyên thuyên.
16.3, Nhân duyên tốt, giao thiệp rộng, tình cảm khá "muôn màu muôn vẻ".
16.4, Ứng với các bộ phận trên cơ thể: hệ thống bài tiết nước tiểu, hệ thống thần kinh.
16.5, Sao Dịch Mã (sao thời cơ hệ thống) chủ biến động.


17, Tả Phụ:
Ngũ hành Mậu thổ, sao trợ giúp sở trường (trợ Thiện chi tinh)
17.1, Thư ký, bí thư, tham mưu, phụ tá.
17.2, Chi phối xoay xở, khéo toàn vẹn, lái xe.


18, Hữu Bật:
Ngũ hành Quý thủy, trợ giúp sở trường, sao quý nhân.
18.1, Am hiểu tốt, cơ trí, truyền lệnh.
18.2, Giải quyết tranh chấp, khéo xoay sở toàn vẹn, lái xe.


B, Bổ sung thêm những tính chất sao

1, "Tử Vi", "Thiên Tướng", "Thiên Đồng", "Thiên Lương", "Tham Lang" đều là "Thọ tinh", chủ trường thọ. Nhưng nhập Mệnh thì không phát cho "người còn tuổi thiếu niên". Trừ sao Tham Lang thuộc sao "Thiên Tài" ra thì các sao còn lại đều là sao Chính Tài là sao "bổng lộc".

2, Phàm là những người được một chút sao Thiên Tài, thì nhóm kể trên mà an định là tốt.

3, Các sao Dịch Mã: "Thiên Cơ", "Thái Dương", "Thái Âm", "Văn Xương", "Văn Khúc".
Phàm là người có các sao Dịch Mã nhập Mệnh, đa phần có thói quen thích ngủ muộn. Về nhà khuya, đi ngủ trễ.

4, Các sao "Thiên Đồng", "Thiên Tướng", "Thiên Lương" đều là những "ông hòa thuận". Lại có thể chia tỉ mỉ hơn:
Thiên Đồng - bác trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, lý trưởng, già làng,...
Thiên Tướng - ông hòa thuận, hòa giải,...
Thiên Lương - bác chủ trì công đạo, phân xử, đúng mực.

5, Tổ hợp sao Vũ Khúc Thất Sát đại biểu nhà ga, hành lang đường sắt.

6, Thái Âm đại biểu khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, quán ăn, cái giường.

7, Thiên Hình đại biểu con cún, chó con. Phá Quân đại biểu chó lớn hoặc ngựa, trâu, bò.

8, Cự Môn hội Thiên Hình dễ tập luyện tà thuật. Tham Lang hội Thiên Hình dễ tập luyện chính thuật.

            (ghi chú: thập bát phi tinh 18 sao nhưng đến phần này lại có dùng thêm sao Thiên Hình)

9, Phàm là cung Phu Thê được tọa thủ bởi Thiên Lương hoặc Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ, Cự Môn, mà các tinh diệu này hóa Kị, thì sẽ dễ gặp cảnh "già trẻ cưới nhau" trong hôn nhân. 



II, Nhận thức về tượng nghĩa của cung vị

Giáp (A), Bốn nhóm “Tam Phương” của 12 cung:

Định nghĩa của Tam phương: Tam phương là một khối "Tổ hợp tổng thể" cùng tồn tại, thiếu 1 cái cũng không được. Chính là cái mà trong môn Cơ Học gọi là modul bội ba (triple) của "vật thể rắn hình tam giác", vĩnh viễn kết hợp cùng nhau, tách biệt chúng ra thì "Vật bất thành khí" (Vật không có hồn), "Vô dĩ vi dụng" (không dùng được vào việc gì cả).

A1, Tam phương Mệnh: bao gồm 3 cung vị là Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc. Là biểu lộ hình ảnh "phương thức sinh tồn" của một cá nhân mưu cầu trong cõi hồng trần. Cũng chính là các cung "triển vọng, thành tựu" của 1 cá nhân.

A2, Tam phương Điền Trạch: bao gồm 3 cung vị là Điền Trạch, Huynh Đệ, Tật Ách. Là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về tình huống của "Thân thế", "Bối cảnh", "Tông tộc", "Gia đình", "Thân tình", "Kinh tế", "Tài sản", "Sức khỏe" và "Đời sống vật chất". Hoặc cũng có thể coi là những chỗ "kết quả" của đời sống. Chính là các cung "thu gom", "gìn giữ".

A3, Tam phương Phúc Đức: bao gồm 3 cung "Phúc Đức", "Thiên Di", "Phối". Chính là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về các sự tình "Nhân duyên Quả báo" như "Bản tính", "Tinh thần", "Đam mê", "Thiên phú", "Nhân duyên", "Gặp gỡ", "Hôn nhân", "Căn khí" (khí chất gốc rễ, bản năng).

A4, Tam phương Nô Bộc: bao gồm 3 cung "Nô Bộc", "Phụ mẫu", "Tử Tức". Chính là những chỗ biểu lộ hình ảnh của 1 cá nhân về các tình huống "Ăn ở""đối nhân xử thế" như là "Tính tình", "Tâm trí", "Học vấn", "Trình độ", "Đức hạnh", "Trung hiếu", cũng như "Nhân", "Nghĩa", "Lễ", "Trí", "Tín".


Ất (B ), Mở rộng hàm nghĩa cung vị 12 cung:

B1, Mệnh cung:
B1.1, điểm Thái Cực, "Trung khu" của lá số. Dẫu vạn biến cũng không thể xa rời cái "tông chỉ" của nó.
B1.2, Khuynh hướng của "Ta" về những mặt "Tinh thần", "Ý chí", biểu hiệu về "Vui, buồn, mừng, giận", nói đơn giản là "Ta".
B1.3, Hiển lộ hình ảnh "Cá tính", "Năng khiếu", "Tính tình", và "Tư duy".
B1.4, Nơi bày tỏ biểu lộ những cảm xúc "Vui, buồn, mừng, giận".
B1.5, Chỗ của Ông ngoại, Bà nội, Ông Bác cả, Ông chú.

B2, Huynh Đệ cung:
B2.1, Xem về tình anh em.
B2.2, Cung "cất giữ" của tiền mặt, chính là "sự tích góp", mục "tiết kiệm" của "tài khoản gửi tiết kiệm ngân hàng". Cũng chính là "kho bảo hiểm" trong nhà, "két bảo hiểm" của ngân hàng. Gọi đơn giản là "Khố vị".
B2.3, Vị trí "Nhất lục cộng tông" của Quan Lộc, chính là chỗ xem về "quy mô" lớn nhỏ của sự nghiệp.
B2.4, Phối hợp 2 dạng ở trên, còn gọi cung Huynh Đệ là chỗ "Thành tựu".
B2.5, "Lãnh đạo chỉ huy" (được "Quyền" xung Nô Bộc).
B2.6, Chính là chỗ "vận Cơ thể" - cửu vị "Khí Số" cung của cung Tật Ách (QNB chú: cung vị "Khí Số" được tính bằng cách đếm nghịch chiều từ bản cung tới vị trí thứ 9), cho nên còn gọi là cung vị "Thể chất".
B2.7, Cũng chính là chỗ hiển lộ hình ảnh "Đời sống vật chất".
B2.8, Vị trí mượn cung để xem Cha mẹ vợ/chồng - mẹ đẻ. Cũng chính là Bác hai, chú hai.
B2.9, Chính là [cung Điền Trạch của "cung ăn ở với người hôn phối"] - Tài Bạch, vì "Tài Bạch" là [cung Phu Thê của cung Phu Thê], cũng chính là chỗ cái giường, chủ "phòng ngủ".
B2.10, Là do kết hôn mà thành vị trí "ông Nhạc" (bố vợ/chồng), chỗ của chị vợ/chồng.
B2.11, Là chỗ xem "Phúc phận" của Tử Tức (vì nó là [cung Phúc Đức của cung Tử Tức]).
B2.12, Chỗ của anh trai cả (em trai), chị cả.

B3, Phu Thê cung:
B3.1, Xem tình cảm, hôn nhân.
B3.2, Vị trí mượn cung của "hạn lúc nhỏ" (chủ niên hạn sở hữu trước Đại Hạn thứ 2).
B3.3, Xem "phúc phận hưởng tiền tài" trong "phước báo", vì nó chính là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch].
B3.4, Nhà bếp (nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách] - tức là cung cất giữ của sức khỏe).
B3.5, Chỗ vận khí xuất ngoại, bởi vì nó là cung vị "Khí Số" của cung Thiên Di.
B3.6, Xem vóc dáng, thể hình - vì nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách].
B3.7, Vị trí của Cậu, anh (em) trai thứ hai.
B3.8, "Tình trạng kinh tế" của Huynh Đệ (cung Huynh Đệ của Huynh Đệ).

B4, Tử Tức cung:
B4.1, Xem duyên phận con cái, nhiều hay ít, hiền hay ngu.
B4.2, Tình dục (chính là [cung Phúc Đức của cung Tật Ách]).
B4.3, Cung "đào hoa", vị trí "ngoại tình" (gặp sao Đào Hoa).
B4.4, Vị trí đối tượng tái hôn, chỗ vợ bé (thiếp).
B4.5, Vị trí "thân thích" (chính là cung tiếp theo của cung Phu Thê - vì hôn nhân mà dẫn tới vị trí liên quan).
B4.6, Vị trí của Chị em dâu (vì là [cung Phu Thê của cung Huynh Đệ]), người cậu thứ hai, anh vợ, người con trưởng.
B4.7, Vị trí của Dịch Mã (vì là [cung Thiên Di của cung Điền Trạch] - vị trí khi dời nhà đi ra ngoài).
B4.8, Bất trắc ngoài ý muốn, bệnh nghề nghiệp (có Song Kị trở lên).
B4.9, Xem mối quan hệ của ta với thuộc hạ, những người có vai vế bên dưới.
B4.10, Vị trí của người hùn vốn (vì là [cung Quan Lộc của cung Nô Bộc]).
B4.11, Vị trí biểu hiện Từ tâm, lòng nhân ái.
B4.12, Vị trí vận tuổi già, cảnh xế chiều.

(Tác giả chú: Việc tái hôn là lấy cung Tử Tức để làm "Dụng", nhưng vẫn không thể xa rời cái "Thể" là cung Phu Thê; Nếu như cung Phu Thê xấu quá mức, thì e rằng dù có tái hôn thì cung chẳng được hạnh phúc như lần kết hôn trước).

B5, Tài Bạch cung:
B5.1, Vị trí duyên phận với tiền tài.
B5.2, Các tình huống kiếm tiền, ngành nghề.
B5.3, Quan điểm giá trị và về tiền bạc của 1 cá nhân.
B5.4, Quan hệ đối đãi của hôn nhân (vì là [cung Phu Thê của cung Phu Thê]).
B5.5, Vị trí biểu hiện tâm tư cảm xúc, tình trạng sức khỏe của cha mẹ, (vì là [cung Tật Ách của cung Phụ Mẫu]).
B5.6, Vị trí của con thứ, người cậu thứ hai, đứa cháu.
B5.7, Phòng trọ, Nhà trọ, phòng khách (vì là [cung Điền Trạch của cung Nô Bộc])

B6, Tật Ách cung:
B6.1, Thân thể xác thịt - vị trí "nhất lục cộng tông" của cung Mệnh.
B6.2, Xem tình trạng của sức khỏe.
B6.3, Xem việc béo hay gầy.
B6.4, Xem thói quen phản ứng và mức độ hoạt động của 1 cá nhân.
B6.5, Vị trí biểu lộ phản ứng tâm tư cảm xúc vui buồn mừng giận.
B6.6, Vị trí của vận nhà.
B6.7, Vị trí biểu lộ đời sống vật chất.
B6.8, Vị trí của Cửa hàng, Phòng làm việc, hoàn cảnh công tác, địa phương công tác (vì là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc]).
B6.9, Vị trí của năng lực của địa vị và các mối quan hệ xã hội của cha mẹ (vì Tật Ách là [cung Thiên Di của cung Phụ Mẫu]).
B6.10, Biểu lộ tình trạng tiền mặt của anh em (vì là [cung Tài Bạch của cung Huynh Đệ]).
B6.11, Vị trí của người vợ cả.

B7, Thiên Di cung:
B7.1, Dáng vẻ biểu lộ ra bên ngoài, bộ dạng, hình ảnh.
B7.2, Vị trí của Xã giao, Hoạt động, sân khấu cuộc đời, bày tỏ năng lực, lãnh đạo thống trị.
B7.3, Biểu lộ hình ảnh của Thân phận, Địa vị.
B7.4, Vị trí của Dịch Mã.
B7.5, Vị trí của gặp gỡ, nhân duyên cuộc đời của đầu mối Nhân-Quả ở bên trong.
B7.6, Vị trí Thiên phú của A Nại Gia Thức, tài hoa, trí tuệ, căn khí, thiện duyên của người tu hành.
B7.7, Có liên quan tới những bệnh Nhân-Quả, tai nạn, bất trắc ngoài ý muốn.
B7.8, Trạng thái sức khỏe và tâm tình của anh em (vì là [cung Tật Ách của cung Huynh Đệ]).
B7.9, Vị trí trạng thái tiền tài của người phối ngẫu (vì là [cung Tài Bạch của cung Phu Thê]).
B7.10, Vị trí của trưởng họ, đích tôn.
B7.11, Vị trí của "mức độ tuổi thọ", "vận của tuổi già".
B7.12, Cái sân, bên ngoài cửa.
B7.13, Vị trí "kinh nghiệm từng trải" của đời người do trải qua rèn luyện mà trưởng thành.

B8, Nô Bộc cung:
B8.1, Vị trí "chỉ tiêu" của tình trạng hôn nhân (vị trí nhất lục cộng tông với cung Phu Thê).
B8.2, Vị trí của tình trạng sức khỏe và tâm tình của người phối ngẫu (vì là [cung Tật Ách của cung Phu Thê]).
B8.3, Vị trí biểu hiện của hình ảnh, của năng lực và của địa vị của anh em.
B8.4, Vị trí của tình trạng gặp gỡ tiếp xúc người khác mà có duyên giao thiệp.
B8.5, Vị trí của việc thi cử, cạnh tranh.
B8.6, Vị trí biểu hiện "tình và nghĩa" của tính người.
B8.7, Nghề nghiệp công tác của cha mẹ.
B8.8, Cung vị biểu lộ tình trạng tiền tài của con cái.
B8.9, Vị trí tích đức, bố thí hành thiện.
B8.10, Vị trí miếu thờ, bàn thờ, phật đường ở trong gia đình (vì là [cung Điền Trạch của cung Phúc Đức])

B9, Quan Lộc cung:
B9.1, Cung vị của "Vận khí" (số 9 là cực của Dương, "Hóa khí" lưu hành).
B9.2, Nghề nghiệp công tác, phương thức kiếm tiền.
B9.3, Vị trí biểu hiện địa vị, năng lực và hình ảnh của người phối ngẫu (vì là [cung Thiên Di của cung Phu Thê]).
B9.4, Tình cảm ngoài hôn nhân (đào hoa tinh), (vị trí của tinh cảm bên ngoài hôn nhân - [cung Thiên Di của cung Phu Thê]).
B9.5, Cung vị biểu lộ tâm tình và tình trạng sức khỏe của con cái (vì là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).
B9.6, Mộ phần của tổ tiên (vị trí [cung Phúc Đức của cung Phúc Đức], mà cung Phúc Đức đại biểu cho "nhân quả tiên thiên" và nơi quy tụ sau này của bản thân mình - "mộ phần").
B9.7, Phòng đọc sách, bàn học, bàn đọc sách (vì là [cung Điền Trạch của cung Phụ Mẫu]).

B10, Điền Trạch cung:
B10.1, Gia thế, gia tộc, họ hàng thân thuộc.
B10.2, Gia đình, quan hệ cha con anh em.
B10.3, Cung cất giữ của tài sản - vì là cung vị nhất lục cộng tông với cung Tài Bạch (chứa các loại động sản, bất động sản, chứng khoán có giá trị, kim cương châu báu, vật phẩm trân quý, sổ tiết kiệm ngân hàng,... hết thảy những vật có giá trị). Gọi đơn giản là vị trí của "Tài khố".
B10.4, Hoàn cảnh cư trú (bao gồm cả cách đối đãi hàng xóm láng giềng).
B10.5, Phòng tiếp khách.
B10.6, Cung vui vẻ (gia đình vui vẻ, vợ chồng ân ái).
B10.7, Vị trí biểu hiện hình ảnh, năng lực, địa vị của con cái.
B10.8, Vị trí của Tổ tiên, cha ông.

B11, Phúc Đức cung:
B11.1, Vị trí tiền duyên nghiệp quả, nhân quả truyền đời.
B11.2, Vị trí hưởng thụ, hứng thú, sở thích, bản tính.
B11.3, Vị trí vận tuổi giả, xem hạn tuổi thọ.
B11.4, Phản ứng "Tinh Thần", "Cảm Thụ" (vị trí biểu hiện của vui, mừng, buồn, giận).
B11.5, Phẩm vị, Nội hàm, và cũng là thiện duyên của người tu hành, cũng là vị trí của Trí Tuệ, Tự Tại, Buông Bỏ, Căn khí (sự thăng tiến về mặt tinh thần).
B11.6, Mức độ cảnh tượng đám tang long trọng, cuộc truy điệu sau khi chết, cũng là Quan Tài và Mộ Phần sau khi chết.
B11.7, Cung biểu hiện về dục vọng và tiền bạc (vì là [cung Thiên Di của cung Tài Bạch]).
B11.8, Vị trí của Ông cha.
B11.9, Phòng ăn (vị trí hưởng thụ).
B11.10, Nghề nghiệp của người phối ngẫu (vì là [cung Quan Lộc của cung Phu Thê]).
B11.11, Vị trí biểu đạt tình cảm.
B11.12, Vị trí của bác gái.

B12, Phụ Mẫu cung:
B12.1, Cha mẹ, duyên với người trưởng bối.
B12.2, Vị trí hình ảnh của hình và sắc của "Khí Chất", "Nội Hàm", "Tu Dưỡng" (cung tướng mạo)
B12.3, Vị trí học tập thông thường, tri thức, bằng cấp, đọc sách thành hiền, cách làm người.
B12.4, Vị trí tình trạng gia đình của nhà ngoại (của ông chồng).
B12.5, Nghề nghiệp của con cái.
B12.6, Vị trí nhất lục cộng tông của Thiên Di - tức là quy tắc "tiêu chuẩn đạo đức" của xã hội.
B12.7, Vị trí tích đức của "bách thiện Hiếu vi tiên" (trong trăm cái điều thiện, thì Hiếu kính là cái đứng đầu).
B12.8. Người cha mẹ che chở cho ta, nghĩa bóng chính là "Cơ quan chính phủ".
B12.19, Cung Phụ Mẫu là [cung Tài Bạch của cung Nô Bộc], cho nên nghĩa bóng là cung vị "tiền bạc qua lại của "ngân hàng", "hội hỗ trợ" (chơi hụi), cho vay tư nhân. 



III, Nhận thức về Tứ Hóa

IIIA, Nhận thức về Lộc, Quyền, Khoa, Kị

Thái Cực sinh "lưỡng Nghi" (âm, dương), lưỡng Nghi sinh "tứ Tượng" (thiếu dương, lão dương, thiếu âm, lão âm). Cái tứ Tượng, lấy ví dụ đơn giản nhất thì chính là "Xuân, Hạ, Thu, Đông" được chứng kiến ở trong đời sống sinh hoạt của chúng ta.

Theo mùa Xuân đến mà trăm hoa đua nở, hạt giống nảy mầm, cây cối đâm chồi nảy lộc, thiên nhiên tràn đầy sự "sinh sôi", "hy vọng", con người cũng liền bắt đầu cấy cày vụ xuân của một năm bận rộn. Đến mùa Hạ, vạn vật đã "khỏe mạnh", "tươi tốt", con người cũng vui mừng khi thấy thành quả. Bước vào mùa Thu, lá vàng theo gió Thu rớt xuống, cái khí sát phạt đầy trời, đó chính là quy luật "thấy thịnh quá thì phải hạn chế" của thế giới tự nhiên, con người cũng bận rộn dùng những công cụ (thuộc Kim khí) để thu hoạch thóc lúa về kho. Đến mùa Đông, ngàn núi vắng bóng chim bay, vạn đường chẳng người qua lại, muôn vật "ẩn náu trú đông", con người cũng "thâu tàng" cho qua mùa đông, nghỉ ngơi là để đi tiếp con đường còn dài.

Xuân Hạ Thu Đông tuần hoàn quay lại mối ban sơ, năm này qua năm khác. Do đó:

* Mùa Xuân hoa nở lá xanh, là thuộc về thời kỳ Mộc vượng.
* Mùa Hè trời nắng chang chang, là thuộc về thời kỳ Hỏa vượng.
* Mùa Thu xơ xác đầy trời, lá khô rớt rụng, là thuộc về thời kỳ Kim vượng.
* Mùa Đông đất đầy sương tuyết, vạn vật ẩn phục, là thuộc về thời kỳ Thủy vượng.

Khí vận hành mà "tại Thiên thành tượng". Xưa nay có rất nhiều bậc trí tuệ đều noi theo "Đạo pháp Tự Nhiên". Do đó, Tứ Hóa của Đẩu Số chính là cái "Pháp" (quy luật, phép tắc) từ Tứ Tượng ở trong thế giới Tự Nhiên mà ra. Cũng có thể nói rằng, Tứ Hóa của Đẩu Số chính là tứ tượng Xuân Hạ Thu Đông của thế giới Tự Nhiên.

Nay, đem Tứ Hóa phân loại, để hồi tưởng lại cho dễ hiểu:

IIIA1, "Lộc" - chính là Thiếu Dương, cũng chính là Mùa Xuân, là thuộc tượng Mộc vượng, vạn vật "sinh sôi", "hy vọng"
Tổng hợp tượng nghĩa là:
IIIA1.1, Vui sướng, may mắn, tốt đẹp, nhẹ nhõm, thông thuận, lạc quan, tùy duyên, tự tại, thân thiện, hòa hợp.
IIIA1.2, Phúc khí, hy vọng, cơ hội, tươi sáng, khỏe mạnh.
IIIA1.3, Tuổi trẻ, ban đầu, nguyên nhân.
IIIA1.4, Lãng mạn, tình cảm, ý hay, mộng đẹp, tưởng tượng.
IIIA1.5, Hưởng thụ, thỏa mãn, phân tán, làm biếng, mập mạp.
IIIA1.6, Lớn, Mới, Nhiều, Tốt.

IIIA2, "Quyền" - chính là Lão Dương, cũng chính là mùa Hạ, là thuộc tượng Hỏa vượng, vạn vật "khỏe mạnh", "tươi tốt".
Tổng hợp tượng nghĩa là:
IIIA2.1, Tự tin, chủ kiến, mưu đồ, hoài bão, tích cực, dục vọng.
IIIA2.2, Lãnh đạo, khai sáng, mở rộng, đột phá, rắn chắc, cường tráng, quyền lực, địa vị.
IIIA2.3, Chủ quan, năng lực, quyết đoán, kiên cường, ứng biến.
IIIA2.4, Can đảm, hành động, vận động, kịch liệt, khí phách, sắc bén, tranh đấu.
IIIA2.5, Lớn, Mới, Nhiều, Tốt.

IIIA3, "Khoa" - chính là Thiếu Âm, cũng chính là mùa Thu, là thuộc tượng Kim vượng, vạn vật xơ xác tiêu điều. Thánh nhân noi theo mà chế ra Lễ giáo, Văn minh.
Tổng hợp tượng nghĩa là:
IIIA3.1, Danh tiếng, Khoa giáp.
IIIA3.2, Quý nhân, xoay vần, hòa hoãn.
IIIA3.3, Khiêm tốn, lịch sự, học thức, văn hóa, thanh tú, khéo léo, tinh tế, đẹp đẽ.
IIIA3.4, Khoan thai, do dự, làm ra vẻ, mượn cớ che đậy.
IIIA3.5, Lớn nhỏ vừa đúng chừng mực.

IIIA4, "Kị" - chính là Lão Âm, cũng chính là mùa Đông, là thuộc về tượng Thủy vượng, vạn vật "ẩn náu", "thâu tàng", chờ đợi hy vọng mới.
Tổng hợp tượng nghĩa là:
IIIA4.1, Thật thà, mộc mạc, thẳng thắn, cương trực, trung thành, nghĩa khí.
IIIA4.2, Thu tàng, cố thủ, gìn giữ, an định, kết quả.
IIIA4.3, Cứng nhắc, cố chấp, phiền muộn, đau thương, nợ nần, vất vả.
IIIA4.4, Tiểu nhân, thị phi, thù hận, phẫn nộ, đau khổ.
IIIA4.5, Tham dục, si mê, vọng tưởng, tà niệm, ích kỷ.
IIIA4.6, Trắc trở, nhỏ mọn, tối tăm, bẩn thỉu, xấu xí, đổ nát.

Tác giả chú: đừng có thấy "Lộc" mà đã nói là hay, nhiều Lộc lại phản chuyển thành "tiêu diêu tự tại" (QNB chú: ám chỉ sự buông bỏ, tiêu dao, phóng túng, không thích ràng buộc); đừng có thấy "Kị" mà đã nói là hung, cố chấp chọn cái thiện chính là được cái Kị mà có thể thành tựu. Có nhiều Quyền thì đề phòng ngang ngược, có nhiều Khoa thì phản chuyển thành do dự nhu nhược.

Tứ Hóa là tượng (hình ảnh mô phỏng), cho nên "Lộc, Quyền, Khoa, Kị" là hóa "Tượng", chứ không phải thuộc về các tinh diệu.
Các sách trên phố nói "nhiều Kị thì phản chuyển thành không Kị, không cần e ngại", ấy là sự hoang đường.

Bởi vì "một Kị" tọa thủ, là "giữ gìn" hoặc "nợ nần", "trả giá" (là những việc đương nhiên trên cõi đời mà thôi).
"Song Kị" đồng cung hoặc cặp Kị đó đối cung, là khởi đầu của "phá bại".
"Tam Kị" đồng cung hoặc cặp Kị trong số đó đối cung, thì là "xu thế chung đã xấu".
"Tứ Kị" đồng cung hoặc có cặp Kị đối cung, thì thường phải đối mặt với "Đi hay Ở", "Sống hoặc chết".

Tác giả chú: Thí dụ như cung Nô Bộc tọa Kị của năm sinh, mà cung Tài Bạch của ta lại phi Lộc nhập vào, thì "Lộc, Kị" hiện ra "Song Kị". Ngược lại, nếu như cung Nô Bộc tọa Lộc năm sinh, mà cung Tài Bạch phi Kị nhập vào, thì "Lộc, Kị" hiện ra "Song Lộc". Được mất toàn là lấy "Cung Vị" mà định.

Cát hung của "đơn Kị" hoàn toàn là lấy cung vị nó tọa thủ mà định đoạt. Còn đơn Kị lạc nhập "tam phương Mệnh" và "tam phương Điền Trạch" thì không thể luận là "mất". Đơn Kị lạc nhập "tam phương Nô Bộc" hoặc "tam phương Phúc Đức" mới bắt đầu ước định có thể luận là "mất".


IIIB, Tứ Hóa của 10 Thiên Can

Can là Thiên, còn Chi là Địa, có cái gọi là Khí lưu hành (do thời gian lưu chuyển nên có biến hóa), mà tại Thiên thành tượng, tại Địa hóa hình. Tứ Hóa là tượng, ắt dựa vào Thiên Can để mà hóa; thiên Can mà khác nhau, sinh ra những hóa tượng khác nhau.



IV, Cung vị tất yếu khi vận dụng thủ pháp luận sự việc

* Nhớ kỹ! cung Mệnh là "Thái Cực tuyệt đối". Bất luận là luận đoán sự việc nào, đều không được quên [Tứ Hóa của cung Mệnh].

IV.1 Luận tình cảm:
IV.1.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực.
IV.1.2, Cung Nô Bộc: đối tượng.
IV.1.3, Cung Phúc Đức: biểu hiện tình cảm.
IV.1.5, Có thể tham khảo các cung Điền Trạch, Phụ Mẫu, Thiên Di, Tật Ách.

Tác giả chú: có thể trực tiếp tìm 2 sao Liêm Tham, bất luận là chúng nhập vào cung nào thì đều ước định chủ chuyện tình cảm.

IV.2, Luận kết hôn:
IV.2.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực
IV.2.2, Cung Điền Trạch: thành gia thất, cưới hỏi
IV.2.3, Cung Phụ Mẫu: cung văn thư
IV.2.4, Có thể tham khảo thêm các cung Phúc Đức, Thiên Di

IV.3, Luận ly hôn:
IV.3.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực
IV.3.2, Cung Điền Trạch: gia đình chia rẽ
IV.3.3, Cung Phụ Mẫu: cung văn thư
IV.3.4, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.4, Phân chia nhà, giường
IV.4.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực
IV.4.2, Cung Nô Bộc: cơ thể của người phối ngẫu.
IV.4.3, Cung Tật Ách: cơ thể của ta.
IV.4.4, Cung Huynh Đệ: Căn nhà, cái giường.
IV.4.5, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.5, Sống riêng (ly thân)
IV.5.1, Lấy cung Phu Thê lập Thái Cực
IV.5.2, Cung Nô Bộc: cơ thể của người phối ngẫu.
IV.5.3, Cung Tật Ách: cơ thể của ta.
IV.5.4, Cung Điền Trạch: nhà cửa khác nhau.
IV.5.5, Có thể tham khảo thêm cung Phúc Đức (biểu hiện tâm tình)

IV.6, Luận ốm đau
IV.6.1, Lấy cung Tật Ách lập Thái Cực.
IV.6.2, Cung Phúc Đức: phúc phận.
IV.6.3, Cung Huynh Đệ: vận cơ thể.
IV.6.4, Có thể tham khảo cung Thiên Di (vận phúc), cung Tử Tức (vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức)

Tác giả chú: nhọt, Nham (ung thư, cancer) cần tìm ngay 2 sao Cự Môn (ám diệu), Liêm Trinh (độc tố).

IV.7, Luận tử vong
IV.7.1, Lấy cung Phúc Đức lập Thái Cực.
IV.7.2, Cung Tật Ách: tình trạng sức khỏe.
IV.7.3, Cung Thiên Di: vận phúc.
IV.7.4, Có thể tham khảo cung Huynh Đệ (vận cơ thể), cung Tử Tức (vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).

IV.8, Luận bất trắc, bệnh nhân quả
IV.8.1, Lấy cung Thiên Di hoặc cung Phúc Đức để lập Thái Cực.
IV.8.2, Cung Tật Ách: tình trạng sức khỏe.
IV.8.3, Cung Tử Tức: vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức.
IV.8.4, Có thể tham khảo cung Huynh Đệ (vận cơ thể).

IV.9, Luận mệnh cách (Mạt / Hanh thông)
IV.9.1, Lấy tam phương Điền Trạch là chủ: cung Thâu tàng.
IV.9.2, Lấy tam phương Phúc Đức làm chủ: phúc phận.
IV.9.3, Lấy tam phương Mệnh làm phụ trợ: làm hết sức mình.

IV.10, Luận sự gặp gỡ
IV.10.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.
IV.10.2, Cung Phúc Đức: Phúc phận.
IV.10.3, Tam phương Mệnh: làm hết sức mình.

IV.11, Luận giữ gìn thành tựu và ổn định
IV.11.1 Lấy tam phương Điền Trạch làm chủ: cung Thâu tàng.
IV.11.2, Lấy tam phương Mệnh cung làm phụ: làm hết sức mình.

IV.12, Luận Dịch Mã
IV.12.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.
IV.12.2, Cung Tật Ách: thân thể.
IV.12.3, Cung Điền Trạch: trụ sở, nơi dừng chân.
IV.12.4, Có thể tham khảo cung Phụ Mẫu (vị trí nhất lục cộng tông với Thiên Di), cung Tử Tức (vị trí Dịch Mã)

IV.13, Chuyển nhà
IV.13.1, Lấy cung Điền Trạch lập Thái Cực.
IV.13.2, Cung Thiên Di: vị trí Dịch Mã.
IV.13.3, Cung Tử Tức: vị trí Dịch Mã.
IV.13.4, Cung Tật Ách: vận nhà.

IV.14, Thiết lập sản nghiệp
IV.14.1, Lấy cung Điền Trạch lập Thái Cực.
IV.14.2, Cung Tài Bạch, cung Phụ Mẫu: Tiền tài và tài khoản.
IV.14.3, Cung Huynh Đệ: vị trí kinh tế.
IV.14.4, Cung Tật Ách: vận tài sản.
IV.14.5, Có thể tham khảo các cung Phúc Đức, Thiên Di (phúc phận - được trợ giúp tài sản)

IV.15, Địa vị xã hội
IV.15.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.
IV.15.2, Cung Nô Bộc: vị trí giao tiếp với người khác.
IV.15.3, Tam phương Điền Trạch: vị trí thực lực.
IV.15.4, Tam phương Mệnh cung.

Tác giả chú: cần Quyền của Thiên Di nhập vào Tam phương Mệnh của ta, hoặc Tam phương Điền Trạch, được Lộc của Nô Bộc nhập vào cùng nhau bọc đỡ.

IV.16, Tranh cử
IV.16.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.
IV.16.2, Cung Nô Bộc: vị trí cạnh tranh.
IV.16.3, Cung Huynh Đệ: vị trí thực lực.

IV.17, Thi cử
IV.17.1, Lấy cung Phụ Mẫu lập Thái Cực.
IV.17.2, Cung Nô Bộc: vị trí cạnh tranh.
IV.17.3, Thích được Lộc Quyền tới giao củng ở các cung Phúc Đức, Thiên Di, Phụ Mẫu.

IV.18, Giới biểu diễn nghệ thuật
IV.18.1, Lấy cung Thiên Di lập Thái Cực.
IV.18.2, Cung Giao Hữu: quần chúng.
IV.18.3, Cung Phúc Đức: tài hoa. 

IV.19, Luận con cái nhiều hay ít
IV.19.1, Lấy cung Tử Tức lập Thái Cực.
IV.19.2, Cung Điền Trạch: xem sự vượng suy về gia đình.
IV.19.3, Cung Phúc Đức: xem phúc phận.

IV.20, Căn khí, năng khiếu trời phú, xu hướng tình dục
IV.20.1, Cung Phúc Đức làm chủ.
IV.20.2, Cung Thiên Di làm chủ.
IV.20.3, Cung Mệnh.
IV.20.4, Cung tật Ách.

IV.21, Tính khí tốt đẹp vui vẻ
IV.21.1, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách hóa Lộc nhập Thiên Di, Phụ Mẫu (dáng vẻ bên ngoài).

IV.22, Tính khí cáu gắt, dễ tức giận
IV.22.1, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách tọa hóa Kị.
IV.22.2, Cung Mệnh, Phúc Đức, Tật Ách lại hóa Kị nhập Thiên Di, Phụ Mẫu (dáng vẻ bên ngoài).

IV.23, Gân cốt kém, bụng dạ nông cạn, ý chí không kiên định, tinh thần hao nhược, hành vi bừa bãi
đều do 2 cung Phụ Mẫu, Thiên Di (vẻ bên ngoài) toàn là thấy nhiều Kị. 



V, Phi Tinh Tử Vi Đẩu Số - "bí quyết luận đoán căn bản" - 12 cung 720 tượng.

Luận giải lá số của Phi tinh Tử Vi Đẩu Số, trước khi chưa đề cập tới ý nghĩa tính chất các sao, bất kể là sự "Tự Hóa" của "đơn Cung" cho đến sự "Hỗ Hóa" của "cặp 2 cung vị", đều có tồn tại tượng nghĩa đặc thù của chúng. Nói cách khác, Cung vị và Tứ Hóa xác định yếu tố tien quyết dẫn đến "mục tiêu gieo tượng"; sự khác nhau giữa các Cung vị, và tượng nghĩa của Tứ Hóa của chúng tất nhiên sẽ có những luận giải ra kết quả không giống nhau.

Trước khi luận giải lá số thì cần định vị "mục tiêu gieo tượng" cái đã, sau đó mới thêm tinh diệu để trình bày và phân tích tổng hợp các tính chất, ngõ hầu đạt được sự trọn vẹn. Nhưng mà, trên mệnh bàn có 12 cung vị còn trong thế gian "những vấn đề nhân sự" lại tồn tại phức tạp không tưởng tượng hết được. Cho nên sự gieo tượng của Tứ Hóa và Cung Vị, nhất định là phải "trải rộng" và "linh hoạt", do đó cần phải:

V.1, Mỗi một định nghĩa "Bình Diện" của cung vị cho đến những ý nghĩa "Hoạt Bàn" của các tầng sâu hơn ở cung đó, nhất định phải nắm trong lòng cho rạch rõi, sau đó mới có thể hóa tượng đan xen của dạng "Lập Thể hóa".
QNB chú: Thuật ngữ "Bình Diện" là chỉ các chức năng cung nhân sự ở lá số gốc. Thuật ngữ "Hoạt Bàn" là chỉ sự biến cung sau khi dịch chuyển linh hoạt. Thuật ngữ "Lập Thể hóa" là dạng biến hóa trong không gian 3 chiều, hình học lập thể (cung ở lá số gốc, tá cung/mượn cung, và cung ở lá số đại hạn). Ví dụ, cung Phu Thê ở trên lá số gốc góc độ "bình diện" thì nó đảm nhiệm những vấn đề liên quan tới tình cảm, vợ chồng; ở góc độ "hoạt bàn" thì nó là cái nhà bếp, cái bệnh viện vì nó là [cung Điền Trạch của cung Tật Ách], lại nếu như ở hoạt bàn Đại Hạn (giả sử Mộc 3 Cục, Đại Hạn đi nghịch, hiện đang ở Đại Hạn 13-22 trên cung Huynh Đệ) thì cung Phu Thê gốc lại chính là [cung Huynh Đệ của Đại Hạn] và cũng là cái két sắt cất tiền của Đại Hạn 13-22 này vì lúc này nó chính là [cung Điền Trạch của cung Tài Bạch của Đại Hạn này],...

V.2, Suy xét về "nghĩa rộng", giải thích về "đời sống hóa" những tượng nghĩa của Lộc-Quyền-Khoa-Kị ở giữa các cung vị, sẽ khiến cho những cung bậc cảm xúc hỉ nộ ái ố bừng bừng trên lá số.

Phàm tất cả những người tập luyện môn Phi tinh Tứ Hóa nhiều năm mà vẫn khó có thể tiến sâu hơn, đa phần đều cảm thấy vướng mắc khó khăn ở phân đoạn cơ bản của sự gieo tượng Tứ Hóa và Cung Vị, khiến cho chẳng có cách này đi sâu vào xương tủy của nó. Ở khái niệm cơ bản mà nhận thức chưa đủ như những kiểu chắp vá nghĩa gốc của chúng thì thường đưa ra các đáp án sai, thậm chí nói ngược lại, kết quả của những chuyện đó khiến cho người đến xem số chẳng thể hài lòng hoặc dở khóc dở cười.

Thí dụ như, Mệnh cung phi Lộc nhập vào Quan Lộc cung, chúng ta gọi cung Mệnh là cung "Hóa xuất", còn cung Quan Lộc là cung "Hóa nhập". Cái tượng này chúng ta gọi tắt là "Mệnh Lộc nhập Quan".

Hóa của 2 cung mà sản sinh mối quan hệ đối đãi, dùng cái lập trường của sự đối đãi mà nói, cung của Hóa xuất thì chúng ta ước định có thể gọi là "Nhân cung" (QNB chú: cung nguyên nhân), còn cung Hóa nhập thì ước định gọi là "Quả vị" (QNB chú: vị trí kết quả). Mọi hiện tượng nhân sự và cát hung tốt xấu, đều sẽ không rời xa phạm trù của "Nhân - Quả".

Những tượng tồn tại ở "Tĩnh bàn" (lá số gốc, hoặc gọi là Thiên bàn, Thái Cực bàn) thì chưa thể nói ngay lên cát hung, do có năm tháng lưu chuyển mà có "Động bàn" (các dạng lá số của Đại Hạn, Lưu Niên,...), có sự ăn khớp của Động bàn thì mới sinh ra sự tăng giảm về cát hung.

Cát hung tốt xấu sinh ra ư động, vậy là "Động" mà sinh (tứ) "Hóa", hóa mà sau đó sinh "Tượng", tiếp đó dùng tượng đển phán đoán cát hung. Giống như trong một năm, do thời gian lưu chuyển (động) mà có tứ tượng Xuân Hạ Thu Đông, do sự biến hóa của tượng mà sinh ra các hiện tượng nhân sự khác nhau như: hy vọng (Lộc), tráng thịnh (Quyền), thu hoạch (Khoa), ẩn chứa (Kị).

Đem hiện tượng sinh ra khi phi Hóa của cung nào đó trên lá số đối chiếu với sự thuận lợi theo quy luật của thế giới Tự Nhiên hoặc sự trở ngại theo quy luật của giới Tự Nhiên, để mà phán đoán cát hung tốt xấu.

Khi cái Động bàn (Dụng) biến động ăn khớp với Tĩnh bàn (Thể), thì xuất hiện "Hóa tượng đối đãi" mà sinh ra cát hung. Nói cách khác, Tĩnh bàn vốn có một hóa tượng nào đó, ở thời điểm khác nhau (Đại Hạn, Lưu Niên,... khác nhau), tình huống nhân sự khác nhau, đương nhiên sản sinh ra kết quả khác nhau. Đưa ra thí dụ để nói:

Chúng ta đều biết, 3 cung gồm Phụ Mẫu - Mệnh - Huynh Đệ ở trên mối quan hệ là các cung vị rất thân thiết. Giả sử cung Phu Thê của lá số gốc mà hóa Lộc nhập Mệnh, thì:

Lúc đi đến Đại Hạn thứ hai, chúng ta gọi là "Phu Thê gốc Lộc nhập [cung Huynh Đệ của Đại Hạn]" (nếu Đại hạn đi thuận) hoặc gọi là "Phu Thê gốc Lộc nhập [cung Phụ Mẫu của Đại Hạn]" (nếu Đại Hạn đi nghịch). Bất luận đó là cung Phụ Mẫu hay cung Huynh Đệ thì đều thuộc những cung rất thân thiết. Do đó có thể mạnh dạn suy đoán cái cung Phu Thê này phi Lộc nhập Mệnh gốc lúc ở Đại Hạn thứ hai, thế nào cũng khởi đầu tình cảnh gió xuân hôn lên khuôn mặt (QNB chú: ám chỉ má ửng hồng, tình nồng,...).
Đổi lại là khi tới Đại Hạn thứ ba, thì cung "Phu Thê gốc phi Lộc nhập [cung Phu Thê của Đại Hạn]" (nếu Đại Hạn đi thuận) hoặc "Phu Thê gốc phi Lộc nhập [cung Mệnh của Đại Hạn]" (nếu Đại Hạn đi nghịch). Thời khắc này, về mặt quan hệ đối đãi chính là trực tiếp ăn khớp vào cung vị đương sự, đương nhiên là chuyện tình duyên ắt sẽ trở nên chín muồi rồi.

Nếu như Hóa tinh diễn hóa ở cung vị nào đó mà vẫn là lạc tại "Bản cung" (không có sự phi nhập Tha cung), cái tượng này chúng ta gọi là Bản cung "Tự Hóa". Hiện tượng Bản cung Tự Hóa này cũng tồn tại những tượng nghĩa đặc thù của nó.

Tỉ như Lộc tinh của cung Mệnh hóa Lộc, tinh diệu này vẫn tọa ở cung Mệnh gốc, cái tượng này chúng ta gọi là [Mệnh cung Tự Hóa "Lộc xuất"], gọi tắt là "Mệnh cung tự hóa Lộc".

Ngoài ra Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị ở Bản cung, đều kiêu ngạo như tên tượng của chúng. Phàm "Tự Hóa" được gọi là cái "Xuất", ý nghĩa của nó:

1, "Ở tính ở tình": dễ dàng dùng tình cảm ngay, sau khi sự việc xảy ra thì đa phần "không thèm đếm xỉa gì nữa", mặc dù trông có vẻ như là tự tại nhưng mà "thiếu tính nguyên tắc", thậm chí là mắc phải những thiếu sót "kiêu căng vô vị", "do dự bất quyết", "không có tính nhẫn nại", "vô trách nhiệm", "không biết rút ra bài học kinh nghiệm". Phàm sở hữu những khuyết điểm ấy đều không biết kiên định ở sự lựa chọn tốt đẹp theo lý trí.

2, "Ở sự ở vật": ăn không nói có (Tự hóa Lộc), phô trương thanh thế (Tự hóa Quyền); hờ hững nhân sự, khi có khi không (Tự hóa Khoa), thậm chí gàn dở tự hại mình, có cũng biến thành không (Tự hóa Kị). Không có cái nhìn đại cuộc, chung quy không chịu nổi xung kích, thử thách.

Chính là, Tự Hóa vốn gửi cái nghĩa ở tại "tự mình tiêu tán" của bản cung. Đặc biệt là "Tự hóa Lộc xuất" và "Tự hóa Kị xuất" tồn tại nguy cơ khá lớn. Tự hóa Lộc xuất giống như có tiền mà để lộ liễu, dễ gặp trộm cướp; Tự hóa Kị xuất thì bản cung tự mình ngầm tiêu tán, cuối cùng thì chẳng còn gì cả.

Dễ lấy lập trường tu hành dẫn dụ, Tự hóa (xuất) đa phần thuộc "cảm giác vô danh" tào lao kiểu như Tùy duyên, Buông xả, Hư không,... xa rời sự thông minh và sáng suốt, chứ chẳng phải là đã đạt được cái diệu hữu chân không của minh tâm kiến tánh.

"Thể" với "Dụng" cần phân biệt rõ ràng, nếu không thì gieo tượng của chúng sẽ tán loạn hoang mang.

Thế nào là "Thể" và "Dụng"?

Cái "Thể", chính là "12 cung" lá số gốc; cái "Dụng", là chỉ "cung vị trợ thủ" không thể thiếu khi luận sự việc.
Thí dụ như hỏi về sự việc anh em, lấy cung Huynh Đệ làm Dụng, còn 12 cung trên lá số gốc là Thể vậy. Giả sử, cung Huynh Đệ hóa Kị nhập Thiên Di, thì cái này nói rõ hàm ý là anh em thật thà ngay thẳng. Đây chính là cung "điểm rơi" của Kị được phi hóa bởi cung Huynh Đệ, cung này vẫn cần quy hồi về cung Thiên Di bản thể của đương số để mà giải thích tượng nghĩa. Đây chính là phép tắc gieo tượng được gọi là "Hồi quy Thái Cực".

Nói cách khác, lấy cung vị của "Hóa xuất" là "Dụng", còn cung vị "Hóa nhập" cần quy hồi về cung vị bản "Thể" của lá số gốc để mà diễn giải ý nghĩa. Nếu như Dụng không quy về Thể, thì chiêu thức trên có thể lại diễn giải thành ra cung Huynh Đệ hóa Kị nhập [cung Tật Ách của cung Huynh Đệ], thế thì chẳng hóa ra là anh em có cá tính chịu khó vất vả à??? Lời đó hoang đường lạc điệu mất rồi.

Chỗ hóa của "Dụng" cần phải quy hồi về chỗ gieo tượng "Hồi quy Thái Cực" của "Thể", chính là con đường duy nhất của thủ pháp luận đoán sự việc của Phi tinh Tứ Hóa.

Đẩu Số chính là môn học trí tuệ nghiên cứu cuộc sống, nguyên lý của nó ăn khớp với hiện tượng nhân sự, là thuộc về quan niệm logic suy xét giải tượng, chứ không thể lấy nhân chia cộng trừ của Toán học để tính toán ra kết quả. Chính là bản thân "Tứ Hóa" được gọi là "Ký hiệu" hàm chứa ý nghĩa rộng rãi, có thể đem chúng làm "các giá trị năng lượng" trong một phạm vi nào đó, nhưng nhất định không thể coi là "tham số" giá trị xác định trong Toán học được.

Học tập Tứ Hóa gieo tượng, cần phải để tâm mà cân đo đong đếm giữa Tứ Hóa và Cung Vị. Nếu cẩu thả không nắm rõ tượng nghĩa cơ bản, kết quả phi Hóa cuối cùng sẽ loạn xạ ngập lá số, rồi hãi tới già vì ngay lúc ban đầu đã chưa có sự hiểu cho nó cẩn thận mà.

Phi tinh Tứ Hóa thập nhị cung "624 quyết" sau đây, chỉ muốn lập thành công thức hóa, thuần túy trình bày và phân tích mục tiêu duy nhất. Sau đây nói về chỗ biến hóa tương tác với Tứ Hóa của tha cung phi đến hoặc Tứ Hóa năm sinh giao hội tương tác, tượng nghĩa của chúng sẽ có thể sinh ra sự biến dịch to lớn. Huống hồ, luận mệnh chính là đánh giá tổng quát toàn cục, chứ không được lấy bất kỳ 1 hóa tượng đơn lẻ nào thì mới có thể làm thành kết quả luận đoán chém đinh chặt sắt, để tránh khỏi sai lầm kiểu vơ đũa cả nắm.


VI, Tượng nghĩa của Tứ Hóa năm sinh nhập 12 cung mệnh bàn

VI.1, Mệnh cung

VI.1.1, Hóa Lộc năm sinh nhập Mệnh:
* Chủ phúc. Cả đời ít lo, cơm áo không thiếu.
* Thấu tình đạt lý, tùy duyên chứ không cố chấp. Tấm lòng chân thật.
* Không hận thù, khéo ăn ở. Nhân duyên tốt (Mệnh cung và Nô Bộc cũng là cung vị nhất lục cộng tông).
* Hôn nhân, gia đình chung sống đều hòa hợp (Mệnh cung là [cung Phúc Đức của Phu Thê]).

VI.1.2, Hóa Quyền năm sinh nhập Mệnh:
* Chủ quan, chủ kiến, tự lực, tự tin.
* Dễ không khiêm tốn, tự cho mình là đúng.
* Tính cứng, tùy hứng.
* Cách cục tốt thì nắm quyền hành, có tài năng, tích cực, có thể "khai sáng, kiến lập".
* Thêm Kị thì ngoan cố bảo thủ.

VI.1.3, Hóa Khoa năm sinh nhập Mệnh:
* Tướng mạo lịch sự, văn nhã.
* Các tính khá là t*o nhã, văn vẻ.

VI.1.4, Hóa Kị năm sinh nhập Mệnh:
* Cố chấp, câu nệ, khó khai thông.
* Hận thù, phiền não, cáu giận.
* "Tham, sân, si", đề phòng đi vào ngõ cụt mà không tự nhận ra.

(Tác giả chú: Kị nhập Mệnh là cá tính "thâu liễm" vào trong, không thể mở rộng tấm lòng. Đụng việc rất dễ tự mình "nhiều đắn đo", tự mình phiền muộn; người có cách cục xấu thì thậm chí nôn nóng, tự bế tắc. Cung Phúc Đức tọa Kị cũng luận giống như vậy).

VI.2, Huynh Đệ cung

VI.2.1, Hóa Lộc năm sinh nhập Huynh Đệ:
* Anh em thuận lợi như ý, anh em chính là "phúc của ta".
* Anh em ăn ở tốt, tình thâm như chân tay.
* Sự nghiệp một đời nhiều tiền ít trái nghịch (cung Huynh Đệ là vị trí thành tựu), có lợi cho việc thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.
* Không cô quạnh, quanh mình không bao giờ thiếu bạn bè.
* Thân thể ít bệnh (cung Huynh Đệ là vị trí của vận thân thể).
* Duyên phận với mẹ được tốt đẹp.
* Chủ phòng ngủ lớn, tiếng hót họa mi.

(Tác giả chú: cung Huynh Đệ cũng chính là vị trí "tình trạng kinh tế", được Lộc ắt là kinh tế tốt đẹp, luân chuyển dễ dàng. Dù cho gặp cảnh sơn cùng thủy tận, cũng rất nhanh lóe lên tia hy vọng).

VI.2.2, Hóa Quyền năm sinh nhập Huynh Đệ:
* Anh em rất dễ có thành tựu.
* Dễ có người "anh cả" ở trên mình.
* Sự nghiệp của ta có thành tựu về tiền tài (cung Huynh Đệ là cung vị thành tựu).
* Thể chất khỏe mạnh (cung Huynh Đệ là cung vị của vận thân thể).
* Tài năng của người mẹ rất lớn.
* Chủ phòng ngủ lớn.

VI.2.3, Hóa Khoa năm sinh nhập Huynh Đệ:
* Anh em văn vẻ hào hoa.
* Thu nhập không nhiều, nhưng quản lý tài chính có kế hoạch, kinh tế ổn thỏa.
* Hợp đi làm công an ổn.
* Dưỡng sinh.

VI.2.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Huynh Đệ:
* Thu nhập không nhiều hoặc chi tiêu ra nhiều, đời sống nên "tiết kiệm".
* Đa phần là người đi làm công ăn lương hoặc buôn bán nhỏ lẻ.
* Giữ gìn thành quả, an định, giữ phận an tĩnh, chăm lo việc nhà.
* Tự mình làm nhiều việc, vừa làm ông chủ vừa kiêm chân tiểu nhị.
* Không kết giao rộng rãi, ưa thích "nội tâm", thanh tĩnh (xung cung Nô Bộc).
* Nữ mệnh thì rất dễ là theo chuyên ngành thuộc về phụ nữ.
* Mệnh cách mà tốt đẹp, góp cát thành gò, kiến tha lâu đầy tổ.
* Rất dễ là con cả.
* Có thể muốn sáng lập sự nghiệp.
* Tượng của công việc vất vả.

VI.3, Phu Thê cung

VI.3.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phu Thê:
* Có duyên với người khác giới, hôn nhân được hạnh phúc.
* Hoặc ta "đa tình", đề phòng chuyện "đào hoa" (có Đào Hoa tinh), Tề nhân chi phúc (QNB chú: thành ngữ từ tích "có người nước Tề có cả vợ lẫn thiếp, lại có cả tình nhân bên ngoài"), nếu mà ngoại tình thì khó bị phát hiện.
* Sau khi kết hôn thì mọi việc đều thuận ý toại lòng.
* Công việc như ý (Lộc chiếu Quan Lộc).
* Vận lúc còn trẻ bình an không âu lo (trước Đại Hạn thứ hai)
* Cả đời khá thuận lợi về chuyện tiền bạc (cung Phu Thê là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch]).
* Người phối ngẫu ăn ở tốt "thấu tình đạt lý".
* Gặp "sao Thiên Tài": đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.
* Con cái thông minh.

VI.3.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phu Thê:
* Người phối ngẫu có tính chủ kiến mạnh mẽ, nhưng đề phòng dễ xảy ra tranh chấp.
* Vận công việc của ta mạnh mẽ (có Hóa Quyền chiếu Quan Lộc).
* Vận lúc còn trẻ bình an không âu lo (trước Đại Hạn thứ hai)
* Gặp "sao Thiên Tài": đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.
* Cả đời khá thuận lợi về chuyện tiền bạc (cung Phu Thê là [cung Phúc Đức của cung Tài Bạch]).

VI.3.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phu Thê:
* Người phối ngẫu văn vẻ nho nhã, xinh đẹp.
* Người phối ngẫu có gia thế khá đơn giản.
* Dễ có tình cảm kiểu "dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng".

VI.3.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phu Thê:
* Người phối ngẫu cố chấp, không dễ khai thông, hôn nhân cần phải nhẫn nhịn.
* Hoặc ta "cố chấp vào tình cảm", gặp người không quen.
* Ít duyên nợ, nhiều trắc trở, chia ly.
* Không lợi ở đào hoa, hôn nhân không giá thú, cẩn thận đề phòng chuyện đào hoa ngang trái (thân bại danh liệt).
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ.
* Công việc dễ thay đổi. Cũng có khả năng dễ thất nghiệp (Kị xung Quan Lộc). 

VI.4, Tử Tức cung

VI.4.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Tử Tức:
* Dễ có con, sinh được nhiều con.
* Có phúc nhờ con, con cái sẽ không hư.
* Thân thích thường xuyên qua lại.
* Hùn vốn để kiếm tiền.
* Đề phòng đào hoa (nếu có Đào hoa tinh)
* Nhiều cơ hội rời nhà.
* Cảnh tuổi già tốt, có chỗ dựa (Tử Tức là vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).
* Trẻ con theo nhiều.
* Hợp với việc "ra ngoài kiếm tiền".

VI.4.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tử Tức:
* Con cái có chủ kiến mạnh mẽ, dễ có thành tựu.
* Con cái khó bảo, việc dạy dỗ cần hao tâm tổn sức.
* Có nhiều con cái.
* Hùn hạp thì có thành tựu.
* Hợp với việc "ra ngoài kiếm tiền"
* Cảnh tuổi già tốt.

VI.4.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tử Tức:
* Con cái văn vẻ, nho nhã, xinh xắn.
* Con cái tinh khôn lanh lợi.

VI.4.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tử Tức:
* Con cái cố chấp, khó mà khai thông.
* Hiếm con, con cái không có tiền đồ hoặc chia ly, ít được yên ổn.
* Đối với việc giáo dục con cái "không nắm được điểm mấu chốt".
* Dễ xảy ra việc hay rời bỏ nhà.
* Dịch mã, chuyển nhà, sa sút tài sản, thiếu năng lực quản lý tiền bạc, phải đề phòng cuộc đời nhiều thăng trần không an định (Kị xung vào cung "thủ thành").
* Bất động sản ít khi ghi tên của chính bản thân mình.
* Về già đề phòng xui xẻo, hợp với việc tu tâm dưỡng tính (cung Tử Tức chính là vị trí nhất lục cộng tông của Phúc Đức).

VI.5, Tài Bạch cung

VI.5.1, Hóa Lộc năm sinh nhập vào cung Tài Bạch:
* Có duyên với tiền tài, con đường tiền tài tốt đẹp (không hẳn là do tự mình kiếm ra).
* Cuộc đời không phải lo lắng đến tiền chi tiêu.
* Dễ kiếm tiền.
* Cha mẹ ít đau bệnh.
* Hôn nhân ăn ở khá tốt (cung Tài Bạch chính là vị trí "đối đãi" của hôn nhân).
* Có duyên với tiền tài, thích hợp với các công việc "tiêu thụ hàng hóa" và "thuế vụ", cũng có thể theo những việc "buôn bán lấy tiền mặt".
* Lộc mừng có Quyền tới tụ hội, thì "gặp hoàn cảnh tốt" sẽ càng mạnh mẽ chân thực, không gian phát triển càng thêm to lớn. Hội với Khoa thì "nguồn tiền tài lâu dài", hội với Kị thì phải trải nhiều vất vả.

VI.5.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tài Bạch:
* Kiến thức, tích cực, năng lực đều rất tốt.
* Giỏi về nguồn cung cấp (hàng hóa) trong kinh doanh, thu nhập tốt.
* Thích hợi với công việc lãnh đạo, phát triển, thanh toán thuế vụ. Lợi cho việc thăng tiến, cũng có thể sáng lập sự nghiệp.
* Hợp với kiểu tiền lương ăn chia theo hoa hồng. Không hợp với tiền lương cố định.
* Cha mẹ thân thể cường tráng.
* Quyền mừng có Lộc tới tụ hội, thì "gặp hoàn cảnh tốt" sẽ càng mạnh mẽ chân thực, không gian phát triển càng thêm to lớn.
* Hợp đi sâu vào chuyên môn, có thể được lương cao chức trọng.

VI.5.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tài Bạch:
* Thu nhập không cao, vừa khéo đủ dùng.
* Dễ quay vòng vốn tiểu ngạch.
* Kiến tha lâu đầy tổ, kiểu gì cũng có lợi.
* Thích hợp "đi làm công ăn lương".

VI.5.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tài Bạch:
* Thích hợp với "tiền lương ổn định", hoặc làm ăn lấy tiền mặt.
* Vất vả kiếm tiền, cực nhọc mới có lợi nhuận.
* Cách cục mà tốt thì vất vả, bày mưu tính kế, yêu thích kiếm tiền.
* Nữ mệnh rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.
* Cách cục mà tốt, buôn bán nhỏ nhưng kiếm tiền to, góp cát thành đồi.

VI.6, Tật Ách cung

VI.6.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Tật Ách:
* Vật vờ, không chảy mồ hôi, đề phòng bị béo phì.
* Rất dễ thích ứng trong mọi hoàn cảnh.
* Đời sống vật chất khá hậu đãi, hưởng thụ.
* Vận gia đình tốt, ít phải lo nghĩ. Tấm lòng vàng.
* Ít bị "đau đớn" bởi những bệnh mãn tính lâu năm.
* Môi trường công việc tốt (Tật Ách chính là [cung Điền Trạch của cung Quan Lộc]).
* Ăn ở tốt với vợ con (Tật Ách chính là vị trí của người chồng).
* Có duyên với người già bên ngoại, bản thân mình cũng ăn ở tốt (Tật Ách chính là [cung Thiên Di của cung Phụ Mẫu], cũng chính là [cung Phúc Đức của cung Nô Bộc]).

VI.6.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Tật Ách:
* Thân thể khỏe mạnh, cường tráng.
* Sức đề kháng mạnh, ít bệnh vặt.
* Sức sống khá mạnh, vận động nhiều.
* Nhưng đề phòng bị tổn thương do va chạm hay té ngã, hoặc do sự vận động dẫn đến tổn thương.
* Năng lực của người cha mạnh mẽ, quyết đoán và dễ có thành tựu.
* Thêm Kị thì tần suất hoạt động càng nhiều.

VI.6.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Tật Ách:
* Dễ gặp thầy gặp thuốc khi bị bệnh.
* Hiếm khi tàn bạo, cử chỉ luôn văn nhã.
* Đề phòng sự do dự.

VI.6.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Tật Ách:
* Vất vả, không được nhàn.
* Tận lực cho bổn phận, giữ gìn thành quả, cất giấu vào trong.
* Thêm Quyền thì vất vả vô cùng.
* Làm tăng ca, kiêm nhiệm chức vụ. Nữ mệnh thì rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.
* Người cha chính trực, phúc hậu.
* Khó bị béo phì. 

VI.7, Thiên Di cung

VI.7.1 Hóa Lộc năm sinh nhập cung Thiên Di:
* Hòa hợp không câu nệ, thân thiện, linh hoạt, hài hước, có duyên với người bên ngoài, hay nhận được sự hoan nghênh chào đón.
* Gặp hung hóa cát, gặp nạn lại được thấy lành.
* Duyên xuất ngoại tốt, có nhiều cơ hội xuất ngoại, hợp với việc "kiếm tiền ở bên ngoài".
* Thích hợp với "quan hệ xã hội" (PR), công việc "thuế vụ".
* Vận tuổi già tốt, tướng thọ.
* Hợp với "tiền lương ăn chia theo hoa hồng".
* Đề phòng kẻ xu nịnh giả vờ thật thà vì sẽ khiến cho không phân rõ được thị phi trắng đen, cũng nên đề phòng quyết đoán thái quá trong trường hợp "ra tay vì việc nghĩa".
* Gặp sao "Thiên Tài" thì thường đầu cơ, trúng thưởng.

(Tác giả chú: Thiên Di mà nhiều Lộc thì tiêu dao tự tại).

VI.7.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Thiên Di:
* Tích cực, có chí tiến thủ, có sinh lực.
* Quyết đoán, can đảm, ứng biến, thông tuệ, có năng lực, sự khai sáng, kiến lập.
* Thích hợp các công việc lãnh đạo, khai phá.
* Thích hợp công việc chuyên môn, kỹ năng chuyên sâu, lợi ở sự thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.
* Có thể hưởng lương cao hoặc lương theo ăn chia hoa hồng.
* Có thể giành được chức vị cao, địa vị xã hội cao.
* Cách cục xấu, sắc bén, tự phụ, không khiêm tốn, làm phách, kết oán.
* Gặp sao "Thiên Tài" thì thường đầu cơ, trúng thưởng.

(tác giả chú: Ở cung Thiên Di thì Quyền rất mừng được Lộc đến hội, sẽ đủ cả "năng lực" lẫn "hòa hợp", bổ sung qua lại cho nhau, mọi sự đều thuận).

VI.7.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Thiên Di:
* Văn vẻ phong nhã, thanh tú, xinh xắn, hình tượng tốt đẹp.
* Đề phòng chuyện "mượn cớ che đậy", "lý do lý trấu".

VI.7.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Thiên Di:
* Ngay thẳng, thành thật, hướng nội, chất phác, vô tư, không biết lấy lòng. Có tật hay quên, nghiêm túc, cứng nhắc, thiếu tâm cơ tính toán, không giỏi việc "quan sát nét mặt" của người khác mà hành động.
* Không khéo che đậy, không coi trọng hình thức bên ngoài.
* Vụng về trong chuyện "dịch mã" (QNB chú: tức là về di chuyển, đi lại, thay đổi, ứng biến,...)
* Hợp những việc vặt ít phải sắp đặt quản trị, chỉ lo lấy thân mình, thiếu năng lực nắm giữ đại cuộc.
* Không được cá độ, cờ bạc, đầu cơ vì Người tính không bằng Trời tính.
* Đề phòng thiếu tính nhẫn nại, không đủ ý chí.
* Nữ mệnh thì nên an tĩnh giữ bổn phận (không có tài thì giữ lấy đức) (hầu hết đều là cá tính của phụ nữ truyền thống).
* Cách cục xấu, đề phòng bất trắc, bệnh nghề nghiệp.
* Tu hành: Nhất thân thanh tĩnh đạt "La Hán quả vị".

VI.8, Nô Bộc cung:

VI.8.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Nô Bộc:
* Đối với người khác đều tốt bụng hòa nhã, vui vẻ, nhân duyên tốt.
* Giành được "phúc bạn bè", dễ được bạn bè tương trợ.
* Đa tình (sao tình cảm).
* Ăn ở tốt với người phối ngẫu (Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê).
* Người phối ngẫu đẫy đà, dễ béo mập.
* Vận thi cử tốt đẹp.
* Kinh tế tốt, thuận lợi mà chi xuất nhiều (quản lý tài sản thiếu nghiêm cẩn).
* Anh em bên ngoại duyên tốt, sự nghiệp của cha mẹ suân sẻ thuận lợi.

VI.8.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Nô Bộc:
* Dễ kết giao được bạn bè có năng lực tốt.
* "Anh em" có địa vị và thành tựu.
* Người phối ngẫu thân thể to lớn.
* Sự nghiệp của trưởng bối trong nhà có thành tựu.
* Vận thi cử mạnh (nếu như Hóa Kị của cung Nô Bộc nhập vào Tam phương của Ta thì ắt là kỳ phùng địch thủ).
* Cách cục tốt, kết giao bạn bè thì ta có thành tựu. Cách cục xấu, dễ bị bạn bè xỏ mũi dắt đi.

VI.8.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Nô Bộc:
* Kết giao được những bàn bè mà đa phần đều khiêm tốn.
* Có tình bạn dài lâu, quân tử chi giao.
* Ít kết giao với những bạn bè bất lương.

VI.8.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Nô Bộc:
* Là người "luyến tiếc tình cảm", nghĩa khí, trọng nghĩa khinh tài, coi trọng lời hứa.
* Tán tài, ít tích trữ, quản lý tài chính không nắm được mấu chốt, khó tiết kiệm (Kị xung Huynh Đệ cung - chính là Khố vị).
* Người phối ngẫu vất vả không được nhàn, đề phòng hôn nhân thiếu thú vị.
* Vận thi cử kém.
* Còn đề phòng cuộc sống nhiều thăng trầm, hợp với an định đi làm công ăn lương.
* Phòng thân thể không đủ mạnh khỏe.
* Bất lợi ở việc cạnh tranh, thăng tiến.

VI.9, Quan Lộc cung

VI.9.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Quan Lộc:
* Tiếp nhận cơ hội đơn lẻ một cách vững chắc.
* Chức vị khá như ý.
* Người phối ngẫu có duyên tốt với bên ngoài.
* Sức khỏe của con cái tốt (cung Quan Lộc chính là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).
* Đề phòng tình cảm ngoài hôn nhân, hoặc hôn nhân không giá thú (khi có đào hoa tinh).

VI.9.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Quan Lộc:
* Tích cực, ứng biến, sức sống, năng lực đều tốt.
* Giỏi trong việc quản lý nguồn cung cấp, thu nhập tốt.
* Thích hợp những việc khai thác, mở rộng, phát triển, lãnh đạo, có lợi cho thăng tiến. Cũng có khả năng sáng lập sự nghiệp.
* Giỏi về chuyên môn, kỹ năng chuyên sâu.
* Năng lực của người phối ngẫu tốt, một mình đảm đương công việc.
* Sức khỏe của con cái tốt.

VI.9.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Quan Lộc:
* Được quý nhân phò trợ (cung Quan Lộc chính là vị trí của vận khí).
* Ổn định có thừa, nhưng đề phòng không đủ sự dứt khoát kiên quyết.
* Hợp với làm công ăn lương, các công việc thiết kế hoặc làm quan văn, dân sự.
* Đề phòng làm việc "có nhiều do dự".

VI.9.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Quan Lộc:
* Công việc bận rộn hoặc có nhiều áp lực nặng nề, thời gian công tác kéo dài.
* Chuyên chú, ôm việc vào 1 mình làm, vừa làm ông chủ vừa làm bồi bàn.
* Đi làm công ăn lương hưởng an ổn hoặc buôn bán nhỏ.
* Nữ mệnh thì rất dễ làm những công việc mang tính chất của người phụ nữ.
* Người phối ngẫu thẳng thắn cương trực, phúc hậu, không khéo nói lời đường mật. Nhưng đề phòng hôn nhân kém lãng mạn, thậm chí là bằng mặt nhưng không bằng lòng (hôn nhân Kị xuất).
* Đề phòng tình cảm ngoài hôn nhân, hoặc hôn nhân không giá thú (khi có đào hoa tinh). (Cung Phu Thê Kị xuất mà mất tình nghĩa, e rằng hôn nhân bị tổn hại).
* Khi còn nhỏ thì hợp "nhận cha mẹ nuôi", đem cho người nuôi dưỡng, nhận làm con nuôi (xung cung Phu Thê là hạn tuổi thơ).
* Cách cục xấu thì phiền lòng chẳng thuận. Cách cục tốt thì cũng nhiều mệt mỏi. 

VI.10, Điền Trạch cung:

VI.10.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Điền Trạch:
* Gia đình phúc hậu, gia đình vui vẻ, đời sống vật chất "hậu đãi".
* Được "tổ tiên che chở", thừa hưởng tổ nghiệp, đất tổ tiên có thể phát tích giàu sang.
* Cha mẹ an nhàn, sống thọ.
* Gặp sao "Thiên Tài" thì giàu có. Đông thời có thể theo nghề kinh doanh bất động sản.
* Chỗ ở có điều kiện tốt hoặc phòng ốc rộng rãi, nhà cửa có giá trị.
* Vượng về con cái, sinh được nhiều con, con cái khá có triển vọng thành tựu.
* Họ hàng thường xuyên qua lại.
* Có thể tự mình mở tiệm kinh doanh kiếm lời.
* Có duyên tốt với bất động sản, dễ mua bán hoặc thiết lập hay được giúp đỡ về tài sản.
* Nữ mệnh thì vượng phu ích tử.

VI.10.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Điền Trạch:
* Bản thân dễ kiến lập khai sáng về tài sản.
* Cũng rất dễ sáng lập sự nghiệp.
* Gia đình có truyền thống nhiệt tâm hăng hái, sức sống dồi dào, hoặc gia giáo khá nghiêm.
* Nhà cửa to lớn, bất động sản có giá trị hoặc ở vị trí đoạn đường rất đẹp (vị trí đắc địa). Có thể tự mở tiệm kinh doanh hoặc cho thuê.
* Gặp sao Thiên Tài thì giàu có. Cũng có thể theo nghề bất động sản.

VI.10.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Điền Trạch:
* Nhà cửa phòng ốc không to lớn, nhưng thoải mái dễ chịu và giản dị.
* Trong nhà có "hơi thở của dòng dõi học vấn", ít có sự tranh cãi ồn ào.
* Đời sống vật chất điềm đạm, không mưu cầu danh lợi.

VI.10.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Điền Trạch:
* Áp lực của sinh hoạt.
* Nhà cửa phòng ốc cũ kỹ hoặc nhỏ bé, hoặc điều kiện ăn ở không được tốt.
* Gìn giữ, tằn tiện, an thân giữ phận, chăm lo việc nhà, vất vả khởi nghiệp.
* Hợp với việc an định, đi làm công ăn lương, buôn bán nhỏ kiếm tiền.
* Cách cục tốt thì "tích cát thành gò", kiến tha lâu đầy tổ, buôn thúng bán mẹt mà lãi quan viên.
* Ít người qua lại giao thiệp.
* Dễ là "con trưởng".
* Cha mẹ vất vả không có thành tựu, hoặc là có sự thất vọng.

VI.11, Phúc Đức cung

VI.11.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phúc Đức:
* Vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo, sống vô tư, ít tính toán so đo.
* Thích đủ thứ vì hứng thú rất rộng nhưng mà lại thiếu kiên trì.
* Đề phòng lan man không tập trung, không tích cực, hững hờ vô tâm.
* Có phúc báo tốt, chẳng cầu mà được, lòng nghĩ thì việc sẽ thành, an nhàn có phúc. Gặp dữ hóa lành, hoặc họa chẳng sờ tới tấm thân.
* Thọ cao, tuổi già sung túc.
* Ít bị dày vò do bệnh kinh niên hay bệnh tật hiểm ác.
* Thích hợp với những công việc tinh thần hứng thú vui vẻ, tài hoa, tâm linh. Cũng có thể theo nghề nghiệp du lịch, nghỉ dưỡng, và những công việc mà bản thân yêu thích.

VI.11.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phúc Đức:
* Tích cực, hăng hái, tự tin, mưu đồ, dục vọng.
* Dám kiếm tiền dám tiêu xài, coi trọng đời sống vật chất.
* Phúc hậu, luôn có trách nhiệm.
* Đề phòng ham hố đao to búa lớn, lo giữ thể diện, xa xỉ phung phí.
* Nắm giữ kỹ năng, chuyên nghiệp, thường có thu nhập lớn.
* Làm ăn kinh doanh chất lượng cao (phong cách), vị trí đắt giá, cách làm rất táo bạo.
* Gặp sao Thiên Tài, đầu cơ, trúng thưởng, trúng số.

VI.11.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phúc Đức:
* An nhàn không màng danh lợi, tu tâm dưỡng tính, không thích hư hoa.
* Cá tính bình hòa, ôn tồn điềm đạm.
* Nội hàm, thanh cao, tĩnh lặng.
* Rơi vào hoàn cảnh cấp bách thì lại được gặp quý nhân.

VI.11.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phúc Đức:
* Coi trọng hưởng thụ, dám tiêu xài (Tài Bạch Kị xuất)
* Đề phòng tính cố chấp quá nặng mà không thể lấy đại cục làm trọng, hoặc ham thú chơi bời hay là mê muội cái đẹp mà không thể tự kiềm chế.
* Thích hợp với các công việc sáng tạo theo hứng thú như thiết kế, nghiên cứu (gặp được Lộc, Quyền thì sẽ hiển đạt).
* Cũng rất thích hợp làm các nghề dịch vụ như trung gian môi giới, tư vấn, viết thuê, kế toán, kỹ thuật (Kị xung Tài Bạch, không thích hợp tính chất "gom hàng, trữ hàng" hay là "dồn vốn, đọng vốn").
* Bớt có những đam mê xấu như lợi dụng, tửu, sắc,... để tránh khỏi "mê tình vọng dục", cũng đề phòng chấp vào yêu hận, ưa thích mà tự làm hại cho tương lai.
* Mệnh cách xấu thì nghiệp lực nặng, dễ lo bò trắng răng, khéo lo trời sập. Nữ mệnh càng lộ rõ.
* Hoặc số phận có các kiểu khốn đốn như trái ngang, ly biệt, bị vùi dập.

VI.12, Phụ Mẫu cung

VI.12.1, Hóa Lộc năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:
* Vẻ mặt ôn hòa, kính cẩn lễ độ.
* Có duyên tốt với người trưởng bối, cha mẹ thấu hiểu.
* Lợi cho việc đọc sách, học hành, thi cử, công chức.
* Giành được sự che chở tí ấm của cha mẹ, cũng dễ được cấp trên đề bạt.
* Nhà ngoại (chồng) có gia cảnh tốt.
* Con cái có sự nghiệp thuận lợi.
* Đề phòng a du gièm pha, tán tụng giả tạo.

VI.12.2, Hóa Quyền năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:
* Đề phòng "được lý không tha cho người khác", "ngạo mạn vô lý", gay gắt, không khiêm tốn, cá tính rất xung động.
* Lợi cho việc đọc sách, học hành, thi cử, công chức.
* Đọc nhiều sách thánh hiền thì lời lẽ có sức mạnh. Học tập chuyên nghiệp, kỹ thuật thì có sức thuyết phục.
* Cha mẹ có tính chủ kiến rất mạnh.
* Sự nghiệp của con cái có thành tựu.

VI.12.3, Hóa Khoa năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:
* Văn vẻ, khiêm hòa, có khí chất.
* Nói năng nhã nhặn, ôn hòa.

VI.12.4, Hóa Kị năm sinh nhập cung Phụ Mẫu:
* Hỉ nộ đều lộ ra nét mặt, dễ đắc tội với người khác.
* Kém duyên với cha mẹ.
* Cha mẹ cố chấp, không dễ thông hiểu.
* Cá tính nghiêm túc, cứng nhắc, không khéo biểu đạt, không biết lấy lòng.
* Đọc sách, học hành, thi cử đều cần nghiêm túc chăm chỉ. Chăm chỉ thêm 1 chút thì sẽ thu được thành tựu nhiều hơn 1 chút.
* Các cục tốt, hiếu thuận, thích đọc sách. Cẩn thận đề phòng thành con mọt sách.
* Không giỏi "nhìn sắc mặt mà nói chuyện".
* Cần cố gắng "trách nhiệm hiếu dưỡng". 


VII, Tượng nghĩa của Tam phương Mệnh tự Hóa và hỗ Hóa
VII.1, [Mệnh cung / Quan Lộc cung]

VII.1.1, Mệnh [Lộc nhập] Quan:
* Lạc quan, nhiều ý tưởng, cũng có vận khí tốt, may mắn, dễ tìm được công việc yêu tích của bản thân, chức vụ được như ý hoặc công việc vui vẻ.
* Nhưng "không có nhiều nhiệt tâm", "chưa đủ chuyên nghiệp", cũng dễ đứng núi này trông núi nọ. Làm việc nếu như không có hứng thú thì không có sự tích cực chuyên chú, dễ có tư tưởng đổi nghề chuyển việc hoặc có tư tưởng nghỉ hưu sớm.
* Thích hợp làm những công việc có hứng thú với bản thân (tốt nhất là thành thạo 1 nghề) hoặc nghề tự do.
* Người phối ngẫu cởi mở, có duyên với bên ngoại.
* Nhưng đề phòng ngoại tình, hôn nhân ngoài giá thú (gặp sao đào hoa). (bởi vì cung Quan Lộc là vị trí tình cảm không chính thức ngoài hôn nhân)
* Lộc ưa có Quyền đến hội, thì cơ hội sẽ càng dễ chuyển biến thành hiện thực, không gian phát triển sẽ càng to lớn. Hội với Khoa thì ổn định dài lâu. Hội với Kị thì có nhiều vất vả.

VII.1.2, Quan [Lộc nhập] Mệnh:* Vận khí tốt, may mắn, lạc quan có phúc. Công việc dễ dàng tới tay, cũng dễ có được công việc vừa ý (hàm ý báo trước điềm về thu nhập, thăng tiến, phát triển), chức vụ như ý, gặp đúng thời cơ, tham gia đúng ngành nghề.
* Thích hợp với những nghề tự do hoặc buôn bán tự do, cũng có thể ổn định đi làm công ăn lương, nhưng hợp với nghề ăn chia hoa hồng (vận khí tốt, may mắn, có thể nhiều thu nhập).
* Ăn ở vui vẻ với con cái (cung Quan Lộc chính là [cung Tật Ách của cung Tử Tức]).
* Lộc ưa có Quyền đến hội, thì cơ hội sẽ càng dễ chuyển biến thành hiện thực, không gian phát triển sẽ càng to lớn. Hội với Khoa thì ổn định dài lâu. Hội với Kị thì có nhiều vất vả.

VII.1.3, Mệnh [Quyền nhập] Quan:* Có trình độ, tích cực, khai sáng, tự tin, có sức sống, ứng biến, đa mưu.
(tác giả chú: Quyền ấy, chính là tùy cơ ứng biến hoặc quyền biến, chính là năng lực của Khai sáng và Ứng biến).
* Năng lực tốt, dễ thăng làm trưởng phòng, ông chủ.
* Thích hợp các công việc thực thi, lãnh đạo chuyên nghiệp, mở mang phát triển, thiết kế, kỹ năng chuyên môn.
* Quyền ưa có Lộc đến hội, thì càng thêm không gian để thuận tay mà phát huy. Hôi với Khoa thì kiêm cả quả cảm và tinh tế. Hội với Kị thì liều mạng.
* Đối với người phối ngẫu thì có thái độ hung hăng (Quyền xung Phu Thê).
VII.1.4, Quan [Quyền nhập] Mệnh:* Vận khí mạnh mẽ, dễ được đề bạt, nước chảy thành sông có thể phát huy sáng tạo. Thường được chức vụ đắc ý, sự nghiệp càng làm càng lớn.
* Vốn có điềm báo trước về kiến thức và tự tin, tích cực và khai sáng.
* Dễ thăng tiến, sáng lập sự nghiệp. Nắm giữ nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn rất giỏi. Thích hợp để lãnh đạo, mở rộng, khai phá.
* Quyền ưa có Lộc đến hội, sẽ càng có thêm không gian phát huy. Hội với Khoa thì kiêm cả quả cảm và tinh tế. Hội với Kị thì làm việc căng thẳng, khiến người khác hết sức buồn rầu.

VII.1.5, Mệnh [Khoa nhập] Quan:* Có thừa sự ổn định, nhưng đề phòng không đủ quyết đoán.
* Hợp với đi làm công ăn lương. Thích hợp công việc văn phòng, dân sự, thiết kế.
* Đề phòng gặp việc lại đắn đo cân nhắc.

VII.1.6, Quan [Khoa nhập] Mệnh:* Bình ổn, bình an, vững vàng, ổn định.
* Được nhiều sự trợ giúp của quý nhân.

VII.1.7, Mệnh [Kị nhập] Quan:* Chuyên nghiệp, chuyên chú, chịu khó, việc gì cũng đến tay để tự làm, dễ vừa làm hiệu trưởng vừa làm lao công.
* Các cục xấu thì phải đề phòng cá tính "chuyên chú quá thành ra hẹp hòi" mà không thể chu toàn cho đại cuộc.
* Thích hợp với những công việc mang tính kỹ thuật và chuyên nghiệp, chức vụ chuyên trách.
* Nữ mệnh đa phần là theo nghề mang tính chất của phụ nữ.
* Đề phòng dễ xảy ra ngoại tình, hôn nhân ngoài giá thú (có sao đào hoa). (Phu Thê Kị xuất mà mất tình nghĩa, e rằng hôn nhân bị tổn hại).
* Lúc còn bé thì thích hợp "nhận cha mẹ nuôi", đem cho người khác nuôi dưỡng, bán khoán (Kị xung Phu Thê cung là cung hạn của tuổi thơ).
(Tác giả chú: Lấy tam phương Phúc Đức làm cung vị "Nhân Quả", cuộc đời của một người thường có những sự việc chẳng phải là cứ làm hết sức thì có thể đạt được họa phúc, được mất,... những cái này đều có liên hệ tới chỗ lực quả báo điều khiển ở tam phương Phúc Đức. Quy nạp lại lấy:

a, "Tuổi trẻ trông vào Phu Thê": Cung Mệnh bất kể Đại Hạn, những tuổi mà thuộc về thời gian trước Đại Hạn thứ hai đều là mượn cung Phu Thê để dùng. Lấy cung Phu Thê làm "Tuổi thơ Hạn". Phàm là những người mà Quan Lộc, Phu Thê bị song Kị trở lên tới phá, phải đề phòng những chuyện đáng ngại về sức khỏe cũng như những sự vùi dập trong giai đoạn tuổi thơ.

b, "Lớn lên nhờ cậy ở Thiên Di": Dù cho điều kiện và hoàn cảnh giống nhau, sự nỗ lực cũng như nhau, vậy mà về sau lại có thành tựu khác nhau, thế là vì như thế nào? Đó chính là có sự khác biệt về sự "gặp gỡ" vậy". "Cung Thiên Di" chính là "vị trí quả báo" của Nhân-Quả.

c, "Về già dựa vào Phúc Đức": tuổi già tới không còn lực, toàn là do sự "phước báo" gắn liền với vận mệnh. Khỏe mạnh ư? Con cháu hiếu thảo ư? Thường đều chẳng phải là những điều mà có thể dùng hết sức của mình để có thể nắm trong lòng bàn tay cả.

(Tác giả chú: Người có cung Phúc Đức tốt đẹp, dễ dàng có được cảnh vô ưu vô lo khi về già. Còn "cung Tử Tức" chính là "vị trí nhất lục cộng" của cung Phúc Đức, cho nên nó cũng chính là cung vị để xem vận tuổi già).

VII.1.8, Quan [Kị nhập] Mệnh:* Cực nhọc (bao gồm áp lực lớn, bận rộn hoặc thời gian làm việc quá dài). Mắc nợ với công việc, sự nghiệp. Vất vả tới già.
* Cách cục xấu ắt sẽ "phiền lòng, chẳng thuận lợi", cách cục tốt cũng nhiều mệt mỏi.
* Dễ làm những nghề nặng nhọc, bỏ nhiều công sức vất vả mà chẳng thu được mấy công lao.
* Nữ mệnh dễ làm những công việc mang tính chất thuộc về nữ giới.
* Thích hợp với đi làm công ăn lương, hoặc buôn bán nhỏ.

(Tác giả chú: cái "Kị" chính là "thu nhập cố định" hoặc là "vất vả mà thu được")

(Tác giả chú: lấy "cung vị" mà nói, thông thường thì ở Tam phương Mệnh giao hỗ Kị thì đa phần thuộc về dạng "Lao tâm" - nhọc lòng, lấy điển hình như [Quan Kị nhập Mệnh]. Còn như [Quan Kị nhập Tật] thì lại thuộc dạng "Lao lực" - nhọc sức; cung Huynh Đệ với cung Quan Lộc là vị trí nhất lục cộng tông, bởi thế nên Kị nhập Tật Ách thì càng thêm "lao lực"). 


VII.2 [Mệnh cung / Tài Bạch cung]
VII.2.1, Mệnh [Lộc nhập] Tài:* Có duyên với tiền tài (chưa chắc đã là giàu có), tiền tới dễ dàng (không nhất định là hoàn toàn do tự bản thân kiếm được tiền), xài tiền thuận lợi.
* Lạc quan, không tích cực, rất dễ thỏa mãn, không so đo tính toán (về tiền bạc), ít quan niệm về tiền bạc.
* Tiền tài thuận lợi mà khiến cho dễ xài nhiều dùng nhiều, nên tăng cường về quan niệm quản lý tiền tài.
* Có duyên tốt với tiền mặt, thích hợp với nghề thuế, các công việc tiêu thụ hoặc là kinh doanh tiền mặt.
* Lộc mừng được Quyền tới hội, thì cơ hội sẽ càng thêm chân thực, không gian mở rộng phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền kéo dài, còn hội với Kị thì vất vả nhiều rồi mới đạt được.

VII.2.2 Tài [Lộc nhập] Mệnh:* Lạc quan hạnh phúc, thu nhập tốt (không nhất định là hoàn toàn do tự bản thân kiếm được tiền), tiền tới dễ dàng, tiền tài thuận lợi nhưng chưa chắc đã giàu có.
* Thu nhập dễ được khoản to tát, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.
* Có duyên tốt với tiền mặt, thích hợp những công việc thuế má, tiêu thụ và kinh doanh tiền mặt.
* Lộc mừng được Quyền tới hội, thì cơ hội sẽ càng thêm chân thực, không gian mở rộng phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền kéo dài, còn hội với Kị thì vất vả nhiều rồi mới đạt được.

(Tác giả chú: Lộc chính là "phúc", ắt có không gian phát triển khá to lớn, không phù hợp với việc bị giới hạn về tiền lương hay thu nhập cố định).

VII.2.3 Mệnh [Quyền nhập] Tài:* Tích cực, khai sáng, chủ kiến, ý đồ, đa mưu, ứng biến.
* Dám kiếm tiền dám tiêu, hoạt động mạnh mẽ. Thu nhập tốt, lợi nhuận cao.
* Dễ dàng thăng tiến, khai sáng sự nghiệp, dễ kiêm chức vụ, có nghề tay trái.
* Thích hợp với những việc khai phá thị trường, lãnh đạo và tiêu thụ.
* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì "cơ hội" sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng lớn.
* Hợp nhất là những chuyên ngành, chuyên môn cao, có thể hưởng lương cao chức lớn, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.

VII.2.4 Tài [Quyền nhập] Mệnh:* Tích cực, tự tin, phát triển, năng lực tốt, thu nhập cao, lợi nhuận lớn.
* Thích hợp với những công việc khai phá thị trường, lãnh đạo và tiêu thụ. Lợi ở sự thăng tiến, sáng lập sự nghiệp.
* Hợp nhất là những chuyên ngành, chuyên môn cao, có thể hưởng lương cao chức lớn, hợp với những nghề ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.
* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì "cơ hội" sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng lớn.

VII.2.5 Mệnh [Khoa nhập] Tài:* Tùy theo mức thu mà chi tiêu, ấm no bình ổn.
* Đối với tiền bạc thì lòng mưu đồ không lớn, hợp với đi làm công ăn lương.

VII.2.6 Tài [Khoa nhập] Mệnh:* Tiền tài như nước cần chảy nhỏ thì mới được dài lâu, thích hợp buôn bán nhỏ, hoặc thu nhập theo tiền lương.
* Tùy theo mức thu mà chi tiêu.

VII.2.7 Mệnh [Kị nhập] Tài:* Thích tiền, tính toán, bất kể gian khổ, kiếm tiền chăm chỉ (đối với thu nhập thì ít nhiều cũng không hề có quan niệm tương đối), món tiền lớn nhỏ đều kiếm hết.
* Vất vả, tự làm nhiều việc.
* Nữ mệnh dễ làm những nghề nghiệp mang tính chất phụ nữ.
* Cách cục tốt thì buôn bán nhỏ cũng kiếm được món tiền lớn, nhưng không tránh được vất vả. Cách cục xấu thì "vì tiền mà phiền não", kiếm tiền vất vả.
* Có thể đi làm công ăn lương và kiêm cả nghề khác hoặc là "buôn bán thu tiền mặt".

(Tác giả chú: Mệnh Kị nhập Tài là "chỉ vì cái trước mắt", cho nên hợp với "buôn bán thu tiền mặt").

VII.2.8 Tài [Kị nhập] Mệnh:* Làm ăn buôn bán mà lợi nhuận nhỏ, hoặc đổ mồ hôi sôi nước mắt. Hợp nhất là đi làm công ăn lương.
* Cách cục tốt cũng nhất định gian khổ mới thu được tiền tài; Cách cục xấu thì thường vì tiền mà tất tưởi ngược xuôi.
* Hoặc có ý nghĩ chán ghét chuyện vì tiền mà hao tổn tâm trí cho nên không giỏi trong việc quản lý tài chính.
* Gặp các sao Thiên Tài hóa Kị thì phải đề phòng cờ bạc và đam mê tửu sắc mà tự gây ra tội lỗi. 


VII.3 [Tài Bạch cung / Quan Lộc cung]

VII.3.1 Tài [Lộc nhập] Quan:
* Buôn bán tốt, quay vòng vốn rất nhanh, chuyện làm ăn thì "càng làm càng thuận lợi" (trong Tam phương của Mệnh thì đều thuộc các cung "Dương động", cho nên có tượng là "quay vòng đầu tư" mang tính chất thường xuyên).
* Dễ có lương cao, chức lớn, hợp với công việc ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng.
* Hợp với buôn bán thu tiền mặt mà có tính chất biến đổi nhanh.
* Lộc mừng có Quyền tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền tài lâu dài, còn hội với Kị thì vất vả gian khổ mới thu được.

VII.3.2 Quan [Lộc nhập] Tài:* Buôn bán tốt, tiền bạc thu hồi về rất mau, lợi nhuận nhiều hoặc tiêu thụ được số lượng lớn.
* Dễ có lương cao, chức lớn, mức thu nhập cao.
* Hợp với những công việc làm ăn thu tiền mặt mà có tính chất biến đổi nhanh, hoặc những nghề ăn chia theo tỷ suất lợi nhuận.
* Lộc mừng có Quyền tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn. Hội với Khoa thì nguồn tiền tài lâu dài, còn hội với Kị thì vất vả gian khổ mới thu được.

VII.3.3 Tài [Quyền nhập] Quan:* Tích cực, phát triển (trong Tam phương của Mệnh đều thuộc các cung "Dương động", cho nên có tượng là "quay vòng đầu tư" mang tính chất thường xuyên). Việc làm ăn càng làm càng to lớn, tài chính càng trôi chảy càng nhiều thêm.
* Dễ dàng có lương cao, chức lớn, hợp với công việc ăn chia theo lợi nhuận, hoa hồng. Cũng dễ dàng khai sáng sự nghiệp.
* Tốt nhất là những công việc thuộc dạng chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá thị trường.
* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì cơ hội sẽ càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn.

VII.3.4 Quan [Quyền nhập] Tài:* Có chủ kiến, tích cực, có không gian phát triển. Có thể có lợi nhuận cao, thu nhập lớn.
* Tốt nhất là những công việc thuộc dạng chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá thị trường.
* Dễ dàng có lương cao, chức lớn, cũng dễ dàng khai sáng sự nghiệp.
* Quyền mừng có Lộc tới hội hợp thì cơ hội càng thêm tốt, không gian phát triển càng thêm lớn.

(Tác giả chú: bất luận là [Tài Lộc nhập Quan] hay là [Quan Lộc nhập Tài] đều chỉ có duyên tốt với tiền tài ở trong sự nghiệp, cho nên hợp theo những công việc thuế vụ và tiêu thụ. Còn như [Tài Quyền nhập Quan] hoặc [Quan Quyền nhập Tài] thì đều thích hợp với các công tác chuyên môn chuyên nghiệp, lãnh đạo, khai phá).

VII.3.5 Tài [Khoa nhập] Quan:* Bình ổn hài hòa chính là phúc, chớ có tham to, đừng cầu lợi nhuận lớn.
* Hợp với các công việc văn phòng, kế toán, thiết kế.
* Hợp với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.6 Quan [Khoa nhập] Tài:* Lợi nhuận không lớn, Bình ổn hài hòa chính là phúc.
* Hợp với quản lý tài chính, làm sổ sách kế toán.
* Hợp với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.7 Tài [Kị nhập] Quan:* Không thích hợp với những công việc sản xuất thu hồi vốn chậm và đầu tư vốn lớn.
* Thích hợp với những việc làm ăn vốn nhỏ mà không phải tồn trữ hàng hóa hay đọng vốn, hoặc làm các nghề dịch vụ như cố vấn, kỹ thuật, đại lý thứ cấp.
* Hợp nhất với đi làm công ăn lương, an ổn.

VII.3.8 Quan [Kị nhập] Tài:* Chỉ thích hợp với những việc buôn bán nhỏ mà lợi nhuận ít. Cách cục tốt cũng phải trải qua nhiều vất vả mới thu được tiền tài.
* Đề phòng những chuyện đầu tư khó thu hồi vốn, không thể ôm hàng đọng vốn.
* Hợp nhất với đi làm công ăn lương, an ổn. 


VII.4 Mệnh cung Tự Hóa
VII.4.1 Mệnh cung Tự hóa Lộc:* Cá tính tuy là cũng lạc quan thông suốt, khéo ăn ở, nhưng đề phòng tính cách tùy tiện thiếu nguyên tắc, thiếu dụng tâm mà ăn nói ba hoa khiến cho dễ bị mất lòng.
* Đề phòng chuyện đầu voi đuôi chuột, cả thèm chóng chán, cẩu thả cho xong.
* Nếu gặp Tha cung phi Kị nhập vào "ép" Lộc của Tự hóa này (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị thành ra Song Kị"), thì ta thành ra kiểu "mặt nóng dí vào cái mông lạnh của người khác", "bị gài bẫy" hoặc bị "xỏ mũi dắt đi" đến nỗi kết oán sinh hận.

VII.4.2 Mệnh cung Tự hóa Quyền:* Cá tính tuy cũng tự chịu trách nhiệm, đề phòng thiếu đi chủ kiến, không tự chủ được thói ưa chém gió.
* Xem như tích cực, nhưng đề phòng không kiên trì mà việc nhiều quay trở, đầu voi đuôi chuột.
* Đề phòng giống như kiểu bụi bậm gặp gió mà khí thế không được lâu dài, được xem trọng nhưng mà lại không được trọng dụng.

VII.4.3 Mệnh cung Tự hóa Khoa:* Văn chất, thanh tú nho nhã, lanh lợi.
* Nhưng đề phòng do dự bất quyết, nhàn rỗi quá mức.

VII.4.4 Mệnh cung Tự hóa Kị:* Không mang thù oán, chẳng được kiên trì, thiếu nguyên tắc.
* Việc đã qua thì coi như xong, chẳng thể ghi nhớ bài học kinh nghiệm.
* Nhưng đề phòng thiếu chủ kiến mà lại làm như tự tại chẳng có gì là quan trọng cả, chẳng có quan hệ, trong khi thực ra là thiếu Ý chí với Tính nhẫn nại của bản thân kém cho nên rốt cuộc là vô trách nhiệm.
* Gặp Tha cung phi Lộc vào (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị thành ra Song Lộc"), chính là "người ta đem tiền cấp cho mình", đã được thuận tiện mà lại còn ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: phàm là sở hữu "Tự Hóa" đều thuộc tính chất "khinh mạn" và "tiêu tán", đại biểu cho việc xử thế thiếu lý trí phấn đấu lựa chọn cái tốt đẹp và thiếu nguyên tắc, thiếu cái nhìn về đại cuộc).

VII.5 Tài Bạch tự Hóa
VII.5.1 Tài Bạch Tự hóa Lộc:* Tiền tài dễ tới, đương nhiên cũng là do "tình hình kinh tế thuận tiện" lại không có "khái niệm quản lý tiền tài" mà tiện chi tiêu đi, ít có kế hoạch trù định về tiền tài.
* Rất thích hợp những việc buôn bán thu tiền mặt mà ngày nào cũng thấy tiền, nhưng cần nghiêm khắc tự thân quản lý tiền tài, có tiền khi có thể thì tích trữ.
* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị trở thành Song Kị"), thì là "tiền tài của ta gặp kiếp nạn", "cấp lại cho người khác", bị người ta bán đứng mà chẳng biết lại vẫn còn giúp người đếm tiền.

VII.5.2 Tài Bạch Tự hóa Quyền:* Tiền tài dễ dàng đến gọn cả 1 khoản, nhưng cũng dễ dàng tiêu dùng cả khoản lớn.
* Hợp với buôn bán thu tiền mặt đối với các hàng hóa là nhu yếu phẩm, quay vòng mối sinh lời kiểu trao tay / lướt sóng, tốt nhất đi tiêu thụ những sản phẩm đầu tiên của trào lưu, mốt thời thượng. Cũng có thể đi làm công ăn lương.
* Xem như có vẻ tích cực nhưng không có kế hoạch quản lý lâu dài. Cũng cần tăng cường khả năng quản lý tài chính và bồi dưỡng thành thói quen tích lũy bất cứ lúc nào có thể.

VII.5.3 Tài Bạch Tự hóa Khoa:* Hợp với đi làm công ăn lương hoặc buôn bán nhỏ kiểu nước chảy nhỏ thì dòng được kéo dài.
* Đề phòng kế hoạch quản lý tài chính thiếu chu toàn, tuy là quay vòng dễ dàng nhưng cũng tăng thêm không ít phiền toán (các khoản tiểu ngạch điều tiết dễ dàng).

VII.5.4 Tài Bạch Tự hóa Kị:* Kém duyên với tiền bạc. Trong túi thường xuyên chẳng có được nhiều tiền, cứ có nhiều 1 chút là lại xảy ra chuyện để phải chi tiêu đi.
* Tượng này thì tốt nhất là đừng có buôn bán kinh doanh, bằng không thì việc làm ăn kém, lợi nhuận thấp, dù cho là kiếm được nhiều thì cũng phải tiêu tốn cho việc đối ngoại gần hết luôn.
* Thích hợp đi làm công nhận lương cố định, hoặc theo những nghề dịch vụ cố vấn, môi giới, kỹ thuật.
* Gặp Tha cung phi Lộc nhập vào (cung loại tinh diệu "Lộc Kị biến thành song Lộc"), được thuận lợi lại ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: Cung Tài Bạch "tự Hóa" đại biểu cho việc quản lý tiền tài có vấn đề hoặc không dễ để nắm giữ về nguồn tiền tài cũng như các tình trạng tài chính). 


VII.6 Quan Lộc cung tự Hóa
VII.6.1 Quan Lộc Tự hóa Lộc:* Không nên làm nghành nghề sản xuất mà có tính chất chậm thu hồi vốn, cũng không hợp làm với vốn lớn, tốn thời gian, kiểu đầu tư mà dòng mà dòng tiền chỉ có 1 hướng (thí dụ như nhận thầu công trình).
* Nên làm những sản phẩm tiêu thụ phù hợp với xu thế trào lưu, có tính chất đa nguyên (nhiều góc độ, thực thể) hoặc là những việc thu hồi ngắn hạn.
* Hợp nhất với những sản phẩm sáng tạo thời thượng, model, có nhiều phương hướng, cơ động hóa, tốc chiến tốc thắng.
* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị biến thành Song Kị), đề phòng đem tiền đưa cho người ta bị người ta lợi dụng.

VII.6.2 Quan Lộc Tự hóa Quyền:* Nhìn có vẻ như tích cực, nhưng đề phòng kiểu đầu voi đuôi chuột hoặc không nắm được điểm mấu chốt.
* Làm ông chủ không được lâu dài vững chắc, hợp nhất làm chức vị ổn định kiểu nhân viên công chức.
* Làm kinh doanh thì sẽ tốt đẹp khi áp dụng những cách làm như "đi đầu trào lưu", "theo đuổi mốt thời thượng", "sản phẩm sáng tạo", "vừa đánh vừa rút". Thủ pháp buôn bán cũng ứng với tính chất cơ động, đa nguyên hóa thì tốt.
* Thích hợp với những công việc kỹ thuật chuyên sâu, chuyên môn hóa. Không thích hợp sự nghiệp sản xuất có đầu tư lớn và thu hồi vốn chậm.

VII.6.3 Quan Lộc Tự hóa Khoa:* Có thể tăng cường chuyên sâu ở tuyên truyền văn hóa và đóng gói tinh xảo.
* Hợp với đi làm lĩnh lương.


VII.6.4 Quan Lộc Tự hóa Kị:* Đi làm lĩnh lương là khá ổn thỏa.
* Làm kinh doanh hợp với những cách làm không đọng vốn, không tồn trữ hàng hóa, tốc chiến tốc thắng.
* Thích hợp với các nghề dịch vụ như kỹ thuật, cố vấn, môi giới. Hoặc làm các hàng hóa nhu yếu phẩm như đồ tiêu dùng hàng ngày, đồ tiêu hao, tạp hóa.
* Hết sức khô hợp với ngành nghề sản xuất.
* Gặp Tha cung phi Lộc nhập vào (cùng tinh diệu "Lộc Kị biến thành Song Lộc"), được thuận lợi lại ra vẻ khoe tài, rất dễ gây thù chuốc oán.

(Tác giả chú: phàm là ở Tam phương của Mệnh Tài Quan gặp Lộc đa phần đều thiên về phía thuế vụ tiêu thụ kiếm lời. Gặp Quyền thì khá thích hợp với lãnh đạo khai phá chuyên nghiệp).

(Tác giả chú: Phàm là cùng 1 loại tinh diệu "Tự hóa Lộc" gặp Tha cung phi Kị nhập vào, hoặc "Tự hóa Kị" gặp Tha cung phi Lộc nhập vào, đều thuộc về sự không hợp với các trạng thái tính cách thông thường của người ta, Lộc Kị biến thành "Song Lộc" hoặc "Song Kị". Trong cái được và cái mất rất dễ sinh ra các sự việc tranh chấp, kết oán đánh lộn).

VII.7 Tóm lại
Tứ Hóa tương hỗ ở Tam phương Mệnh, bất luận là phi xuất ở cung nào và phi nhập tới cung nào, đều vẫn thuộc về sự tình của một nhà ở trong Tam phương. Cho nên Hóa tượng tương hỗ ở Tam phương, có thể thống nhất những ý tứ của chúng:

VII.7.1 Nhiều Lộc: là "có phước", cá tính cũng lạc quan tùy duyên mà đa phần đều được như ý. Dẫu không phải là dùng toàn lực để ứng phó, mưu cầu sốt sắng, nhưng vẫn dễ dàng "nước chảy thành sông", "nguồn tài thuận lợi". Nhưng cũng đề phòng "chưa đủ tích cực", "dễ thấy thỏa mãn". Sáng lập sự nghiệp dù tốt, vẫn cần tăng cường để ý chuyên nghiệp và tích cực. Nhiều Lộc thì dễ được lương cao chức trọng, thu nhập lớn, không phù hợp với tiền lương cố định.

VII.7.2 Nhiều Quyền: vốn có chủ kiến, tinh thần hăng hái, ứng biến phát triển, tích cực năng động, cũng dễ thành ra kiểu giỏi quá thì việc gì cũng đến tay. Dễ được lương cao chức trọng. Làm nhiều hưởng nhiều, đồng thời song hành. Vốn những việc chuyên nghiệp, kỹ năng chuyên sâu thì lại càng có không gian để phát huy. Dễ dàng thăng tiến và sáng lập sự nghiệp. Cách cục tốt, buôn bán thường càng làm càng lớn, tiền tài càng chảy càng nhiều. Cách cục xấu thì thường nặng sự ngang tàng, đề phòng chúng bạn xa lánh.

VII.7.3 Nhiều Khoa: Có thừa sự bình ổn, lại thiếu sự quyết đoán. Hợp với những việc thiết kế, tuyên truyền văn hóa và đóng gói tinh xảo. Bình ổn thì chính là được phúc. Chớ có tham lớn, chớ có hòng lợi nhuận nhiều. Còn đề phòng làm việc chậm chạp, do dự, thiếu sự quyết đoán. Thích hợp an ổn đi làm công ăn lượng hoặc buôn bán nhỏ kiếm tiền dạng dòng nước chảy nhỏ thì chảy được dài.

VII.7.4 Nhiều Kị: Nghiệp lực khá nặng, nhiều vất vả, nhiều công sức trả giá (chưa chắc thu nhập đã nhiều), hoặc lợi nhuận khá nhỏ, tiền kiếm được là dạng mồ hôi nước mắt. Hợp nhất những việc buôn bán thu tiền mặt vì những cái trước mắt, hoặc vừa làm ông chủ vừa làm cu li. Hợp với đi làm công ăn lương. Không thích hợp công việc sản xuất có vốn lớn và thu hồi vốn chậm. Thích hợp với những buôn bán vật tư tiêu hao, nghề dịch vụ, nghề môi giới trung gian, giới kỹ thuật, không tồn đọng vốn hoặc tích trữ hàng hóa. Không được mơ tưởng xa vời kiểu chẳng làm mà cũng có cái ăn (vì Kị xung vào Tam phương của Phúc Đức). Cách cục tốt thì cuộc sống mỏi mệt cũng đánh đổi. Cách cục xấu thì đề phòng làm nhiều mà chẳng được bao nhiêu, đụng 1 chút lại phạm lỗi lầm. 



VIII, Tượng nghĩa của Tam phương Phúc Đức hỗ Hóa và tự Hóa
VIII.1 [Phúc Đức cung / Phu Thê cung]
VIII.1.1 Phúc Đức [Lộc nhập] Phu Thê:* Đối với người khác giới nhiều cảm tính, tình cảm dịu dàng. Nhưng đề phòng "đa tình sinh chểnh mảng", dễ chìm đắm vào hương tình ôn nhu.
* Đề phòng đa tình mà dễ "đứng núi này trông núi nọ" kiểu lý trí bị che mờ, sinh ra ngoại tình.
* Lộc chiếu Quan Lộc, kiếm tiền dễ dàng. Bất kể là làm việc gì hoặc cách kiếm tiền, ứng với phần lớn đối tượng khác giới là khách hàng thì sẽ rất tốt.
* Gặp các sao Thiên Tài, dễ có khoản tiền tài ngoài dự kiến, hoặc trúng thưởng.

VIII.1.2 Phu Thê [Lộc nhập] Phúc Đức:* Người kết hôn (khác giới) đem lại hạnh phúc cho ta, có nhân duyên tốt đẹp, được nhận phúc của người khác giới. Sau khi kết hôn thì vạn sự như ý.
* Đề phòng việc hưởng "phúc của Tề nhân" kiểu 1 ngựa mà 2 cái yên (có Đào hoa tinh).
* Gặp các sao Thiên Tài dễ dàng trúng thưởng, có tiền tài ngoài dự kiến.

VIII.1.3 Phúc Đức [Quyền nhập] Phu Thê:* Đối với chuyện tình cảm thì tính chiếm hữu và muốn chi phối rất mạnh. Yêu đương tấn công rất mạnh mẽ, sau khi kết hôn thì quy ước tới cả 3 chương.
* Nếu như để tâm vào sự nghiệp sẽ thu hoạch được thành tựu, nhưng đề phòng kiểu "mơ tưởng xa xôi" (vì Quyền chiếu cung Quan Lộc).


VIII.1.4 Phu Thê [Quyền nhập] Phúc Đức:* Người phối ngẫu có tính hiếu thắng khá mạnh, có thể sau khi kết hôn thì đời sống sinh hoạt khá xa hoa.
* Yêu đương thì đa phần đối phương sẽ chủ động.
* Sau khi kết hôn thì vận trình tiền tài khá tốt đẹp.

VIII.1.5 Phúc Đức [Khoa nhập] Phu Thê:* Nói chuyện tình cảm khá nặng cảm xúc và tác phong. Thêm Lộc thì càng lãng mạn.
* Phần lớn sẽ có được người quý nhân khác giới giúp đỡ.

VIII.1.6 Phu Thê [Khoa nhập] Phúc Đức:* Người khác giới (phối ngẫu) thùy mị dịu dàng. Thêm Lộc thì lãng mạn.
* Người kết hôn coi trọng đời sống tinh thần, khoan thai điềm đạm.

VIII.1.7 Phúc Đức [Kị nhập] Phu Thê:* Yêu kiểu cố chấp, đối với chuyện tình cảm thì chuyên chú và chấp mê quá mạnh. Đề phòng chuyện vì quá yêu mà sinh ra quá hận rồi dẫn đến cái chết (thêm Quyền thì lại càng rõ hơn).
* Cách cục xấu, đề phòng vì chuyện đào hoa rơi vào người mà bỏ chồng (vợ) bỏ con cái, phòng quá đa tình.
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ (Phu Thê - chính là Phúc của Tài, có Kị nên không được phúc dày).

VIII.1.8 Phu Thê [Kị nhập] Phúc Đức:* Hôn nhân có duyên xấu (về tình cảm). Thiếu cái "nợ" (tình cảm) với người kết hôn.
* Người phối ngẫu (khác giới) cố chấp khó khai thông, làm tổn thương tình cảm.
* Cách cục xấu, hôn nhân (tình cảm) đem đến đau khổ rất lớn, chia ly, mê loạn hoặc sinh ly tử biệt.
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ (Phu Thê - chính là Phúc của Tài, có Kị nên không được phúc dày). 


VIII.2 [Phúc Đức cung / Thiên Di cung]
VIII.2.1 Phúc Đức [Lộc nhập] Thiên Di:* Sung sướng vui vẻ, tiêu diêu tự tại, thoải mái, tốt tính. Không quan trọng hóa vấn đề, ít tính toán, thích ứng trong mọi hoàn cảnh.
* Thích thú với những sự vật mới lạ, thích thú với sự ăn khớp bề ngoài, ưa thích sự náo nhiệt.
* Chưa đề phòng những cảm tính kiểu tình cảnh mê hoặc, tình cảm thay đổi mà mất chí hướng.
* Có phúc, gặp nạn lại hiện ra điềm lành, sự lớn hóa nhỏ, sống thọ, vận tuổi già tốt đẹp.
* Gặp các sao Thiên Tài thì rất dễ trúng thưởng, có tiền tài ngoài dự kiến.
* Sự buông bỏ, tự tại của những người tu hành (gặp các sao Tôn giáo).

VIII.2.2 Thiên Di [Lộc nhập] Phúc Đức:* Có phúc, tự tại, không lo âu, thích du ngoạn (Thái Âm hóa Lộc).
* Dễ dàng có việc tốt tới cửa, trời ban phúc xuống (Tài hoặc Thọ), gặp hung hóa cát, việc lớn hóa nhỏ, sống thọ, vận tuổi già tốt đẹp.
* Gặp các sao Thiên Tài thì dễ trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.
* Năng khiếu tốt, tài hoa giỏi (có các sao tài nghệ).
* Căn khí tốt đẹp, có thiện duyên, trí tuệ (có sao tôn giáo).


VIII.2.3 Phúc Đức [Quyền nhập] Thiên Di:* Hiếu thắng, ngông nghênh, tự phụ, sĩ diện, (thêm Lộc thì "lòng hư vinh" rất nặng. Thêm Kị thì cá tính sôi nổi, hay cáu kỉnh.
* Tích cực dám nghĩ dám làm. Đề phòng mơ tưởng cao xa, hái sao trên trời.
* Gặp các sao Thiên Tài thì dễ trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.

VIII.2.4 Thiên Di [Quyền nhập] Phúc Đức:* Thích công to việc lớn, tự tin thái quá.
* Sĩ diện, nói năng phô trương, xa xỉ, khí thế, lãng phí.
* Gặp các sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.
* Người tu hành có căn khí cao, tiến bộ nhanh chóng (sao tôn giáo).

VIII.2.5 Phúc Đức [Khoa nhập] Thiên Di:* Tu dưỡng tốt, có phẩm vị.
* Tâm khí bình hòa, công phu hàm dưỡng cao, đa phần được quý nhân giúp đỡ.
* Có thể tiếp xúc với tôn giáo, triết học.

VIII.2.6 Thiên Di [Khoa nhập] Phúc Đức:* Nhã nhặn, tư duy cử chỉ tinh tế.
* Gần với "trí tuệ", có thể tiếp xúc tôn giáo, triết học, những người hướng đạo, truyền giáo (sao tôn giáo).

VIII.2.7 Phúc Đức [Kị nhập] Thiên Di:* Cá tính sôi nổi, xung động, ngang ngược, tàn nhẫn. Dễ chiêu chuốc thị phi, gặp tai dẫn họa.
* Cá tính xốc nổi, thiếu mưu sâu kế xa.
* Phúc mỏng, đề phòng bệnh tật tai vạ, tổn thọ, cô quả.
* Hợp nhất tu tâm dưỡng tính, giản dị tích phúc (vì phúc không đủ).
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ.
* Người tu hành không có duyên tới đại từ đại bi (sao tôn giáo).

VIII.2.8 Thiên Di [Kị nhập] Phúc Đức:* Sở thích thông thường đi lệch hướng, tự mua dây buộc mình.
* Đề phòng những điều bất trắc, thất thường, cô tịch, bệnh tật tai vạ, tổn thọ.
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ.
* Người tu hành: tằn tiện tích phúc, an bần lạc đạo, tách biệt với chuyện đời, bế quan mà khổ tu, minh tâm kiến tánh, diệu hữu chân không (sao tôn giáo). 


VIII.3, [Phu Thê cung / Thiên Di cung]
VIII.3.1 Phu Thê [Lộc nhập] Thiên Di:* Người phối ngẫu có duyên đối ngoại. Khiến người ta ca ngợi hôn nhân hài hòa, chỉ ước đôi uyên ương chẳng phải là tình cảm thần tiên. Thêm Khoa thì tình cảm lãng mạn, đặc biệt "yêu đương vui vẻ".
* Ta đối với người khác giới có duyên rất mạnh (sao đào hoa), người khác giới khắp nơi che trở cho ta.
* Dễ dàng "mới gặp mà đã quen thân" kiểu nặng khí chất đào hoa, có tình cảm kiểu ngập trời vui sướng, hoặc giỏi tán tỉnh, tình 1 đêm (sao đào hoa).
* Sau khi kết hôn mọi việc thuận lợi.
* Đề phòng cảm tính thái quá, dễ nảy sinh tình cảm, xuất hiện ngoại tình.
* Tiền tài đào hoa từ những nghề đặc thù (đào hoa tinh).
* Gặp sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.

VIII.3.2 Thiên Di [Lộc nhập] Phu Thê:* Dễ xảy ra tình cảm muộn màng, tình uyên ương ngắn ngủi, tình phong hoa tuyết nguyệt, dễ dẫn đến kiểu nhiều mầm tình (sao đào hoa).
* Hình tướng tốt đẹp, dễ được người khác giới yêu mến.
* Làm những nghề đặc thù kiếm tiền tài đào hoa (có các sao đào hoa)
* Duyên gặp gỡ giao tiếp tốt (vì có Lộc chiếu vào cung Quan Lộc).
* Qua lại với bạn bè "khác giới" nhiều hơn những người cùng giới.
* Gặp các sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền tài ngoài dự kiến.

VIII.3.3 Phu Thê [Quyền nhập] Thiên Di:* Người phối ngẫu có năng lực mạnh, một mình chống đỡ một phương.
* Sau khi kết hôn khá có thể có thành tựu. Vì người hôn phối mà được quý hoặc được phúc lây.
* Sau khi kết hôn dễ mua sắm được nhiều tài sản (vì Phu Thê là vị trí nhất lục cộng tông của cung Điền).
* Gặp các sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.

VIII.3.4 Thiên Di [Quyền nhập] Phu Thê:* Duyên gặp gỡ mạnh mẽ, dễ có thành tựu, địa vị, khai sáng sự nghiệp.
* Ra ngoài có khá nhiều cơ hội để phát triển (vì Quyền chiếu cung Quan Lộc).
* Gặp các sao Thiên Tài thì trúng thưởng, có tiền ngoài dự kiến.

VIII.3.5 Phu Thê [Khoa nhập] Thiên Di:* Người phối ngẫu đối ngoại khôn khéo trí tuệ.
* Người phối ngẫu có thanh danh tốt đẹp.

VIII.3.6 Thiên Di [Khoa nhập] Phu Thê:* Tình cũ dài đằng đẵng, hoặc 1 mối tương tư lưỡng xứ sầu.
* Thêm Lộc dễ dàng có một cuộc tình cảm xúc động bi thương.

VIII.3.7 Phu Thê [Kị nhập] Thiên Di:* Người phối ngẫu có thừa sự ngay thẳng, không giỏi việc che đậy mà thiếu đi sự thú vị. Hôn nhân bình thường không có sự thú vị.
* Duyên của bản thân đối với người khác giới không tốt, cung không khéo bày tỏ tình cảm.
* Đề phòng việc bằng mặt mà không bằng lòng trong hôn nhân, hoặc giữa vợ chồng nảy sinh sự xa rời, đều mất đi tình cảm với nhau.
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ.

VIII.3.8 Thiên Di [Kị nhập] Phu Thê:* Đề phòng "người thứ ba" xen vào hoặc ngoại lực phá hoại (gây trở ngại) hôn nhân của ta (tình cảm).
* Không khéo che đậy, sẽ không có lời nói ngọt ngào.
* Đề phòng bất trắc, tai họa bệnh tật, tai bay vạ gió (vì Kị xung Quan Lộc).
* Chớ có đánh bạc, đầu cơ. 


VIII.4, Phúc Đức cung tự Hóa
VIII.4.1 Phúc Đức cung Tự hóa Lộc:* Số vô ưu vô lo, tùy duyên nên mất chí hướng, cảm tính lãng mạn, thờ ơ hững hờ, thỏa mãn hạnh phúc, thích nằm mơ, tiêu dao như thần tiên miền hải ngoại.
* Đề phòng quá tiêu dao tự tại, không có mục tiêu, thiếu ý thức về gian khó, không có kế hoạch cho cuộc đời.
* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị biến thành Song Kị"), đem tiền cấp cho người khác, bị bán đứng mà lại còn giúp người ta đếm tiền.

VIII.4.2 Phúc Đức cung Tự hóa Quyền:* Đề phòng tự cao tự đại, kiêu ngạo, tự mình bành trướng, thích ngay lập tức, ưa sĩ diện (không làm rõ ràng được cục diện).
* Trông thì như có vẻ tích cực, nhưng đề phòng "chỉ sốt sắng được dăm phút" hoặc "thiếu cái nhìn xa trông rộng".
* Đề phòng được coi trọng mà không được trọng dụng.

VIII.4.3 Phúc Đức cung Tự hóa Khoa:* Tuy điềm đạm thanh thản, cần đề phòng "do dự đa cảm".

VIII.4.4 Phúc Đức cung Tự hóa Kị:* Đề phòng lo lắng hão huyền, vui mừng bất chợt, đổi thay yêu ghét.
* Không đủ tính nhẫn nại, phiền lo cũng chẳng lâu.
* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào thì đã được tiện lợi còn ra vẻ khoe tài (cùng loại tinh diệu "Lộc Kị biến thành Song Lộc) dễ chiêu thù chuốc oán.
* Phúc không đủ, đề phòng tai nạn bệnh tật.
* Trong thì có vẻ tự tại, nhưng nhất định không phải kiểu "Diệu hữu chân không" của người tu hành đích thực.

VIII.5 Phu Thê cung Tự Hóa
VIII.5.1 Phu Thê cung Tự hóa Lộc:* Vượng duyên với người khác giới, nhưng tình cảm chẳng được vĩnh cửu.
* Thiếu nguyên tắc, quan điểm tình cảm nặng về mồm mép, dễ có tình 1 đêm hoặc "xuân hoa rồi lại thu nguyệt" (có các sao Đào hoa).
* Trông có vẻ như hạnh phúc, còn đề phòng bằng mặt mà không bằng lòng.
* Người phối ngẫu không phụ thuộc, tự thân vận động.
* Dễ gặp nạn tình cảm (Tha cung phi Kị nhập vào mà cùng loại tinh diệu), hoặc bản thân ý loạn tình mê, hành vi không có quy tắc (Ngã cung phi Kị nhập vào mà cùng loại tinh diệu), mất công sinh oán hận.

VIII.5.2 Phu Thê cung Tự hóa Quyền:* Người phối ngẫu tự cao tự đại, tùy hứng, tự cho mình là đúng, chưa chắc đã có thành tựu.
* Đề phòng hôn nhân mang trong lòng tư tưởng khác.

VIII.5.3 Phu Thê cung Tự hóa Khoa:* Người phối ngẫu xinh đẹp tú lệ, đề phòng cuộc sống hôn nhân lãnh đạm mà dần dần mất sự thú vị.
* Đề phòng ăn ở 2 lòng dần dần không còn sự ràng buộc, nói vô tình lại tựa như hữu ý.
* Duyên hôn phối thường do chính mình kết giao.

VIII.5.4 Phu Thê cung Tự hóa Kị:* Đề phòng hôn nhân xa mặt cách lòng hoặc không khéo tổ chức sắp xếp.
* Còn đề phòng bằng mặt mà không bằng lòng, tình cảm sinh ra lực ly tâm hướng ngoại.

VIII.6 Thiên Di cung Tự Hóa
VIII.6.1 Thiên Di cung Tự hóa Lộc:* Thích được nếm của ngon vật lạ, tự vui vẻ khắp nơi. Cảnh sống tùy duyên, hồn nhiên quên mình.
* Tình thay đổi mà mất chí hướng, gió chiều nào theo chiều ấy, thiếu chính kiến bản thân (hoặc thiếu trí tuệ).
* Dễ bị chi phối, còn đề phòng bị người khác lợi dụng (Tha cung phi Kị nhập vào mà cùng loại tinh diệu "Lộc Kị biến thành Song Kị"), sản sinh ra oán hận.

VIII.6.2 Thiên Di cung Tự hóa Quyền:* Đề phòng ưa sĩ diện, tự mình bành trướng, ưa thể diện hư vinh (hội với Lộc càng hiển lộ rõ ràng).
* Thiếu nguyên tắc, thiếu kiên trì.
* Trông có vẻ như tích cực, nhưng đề phòng nhiệt tình được 5 phút, bản lĩnh chỉ có vẻ bề ngoài.

VIII.6.3 Thiên Di cung Tự hóa Khoa:* Đề phòng do dự nhã nhặn quá, mềm mỏng, làm bộ làm điệu.

VIII.6.4 Thiên Di cung Tự hóa Kị:* Đề phòng thẳng thắn quá mà mất khôn, làm xằng chẳng có phép tắc gì.
* Cành to lá lớn, dại dột hay quên mà ít có sự lưu tâm đề phòng người khác, không thể ghi nhớ những vết xe đổ.
* Hoặc có kiểu không thích giao du, không thích gặp gỡ mà tiền đồ mờ mịt. 



IX, Tượng nghĩa của Tam phương Điền Trạch hỗ Hóa và tự Hóa
IX.1 [Điền Trạch cung / Huynh Đệ cung]
IX.1.1 Điền Trạch [Lộc nhập] Huynh Đệ:* Hoàn cảnh gia đình tốt (hoặc gia thế có địa vị), gia đình hòa thuận, cuộc sống hậu đãi. Nhưng quản lý tài chính không nghiêm cẩn.
* Có thể tự mình mở tiệm kinh doanh. Dễ kết hợp cả nhà ở và tiệm/công ty làm một.
* Tài khố sung mãn, chi tiêu thuận tiện, nhưng anh em được lợi nhiều.
* Có thể thụ hưởng tiền tài từ bất động sản, thích hợp kinh doanh ngành nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, taxi. Cũng có lợi khi đầu tư vào bất động sản (có sao Thiên Tài).
* Tính cách của những người trong gia tốc tốt.

IX.1.2 Huynh Đệ [Lộc nhập] Điền Trạch:* Anh em hòa thuận, thân thiết yêu thương, ít có tranh cãi tị nạnh.
* Gia đình thu nhập tốt, kinh tế dồi dào. Sự nghiệp càng làm càng thuận. Sản nghiệp của cải ngày càng thịnh vượng.
* Lần lượt tậu đất đai tài sản (tượng của sự tăng tiến)
* Cách con trưởng.
IX.1.3 Điền Trạch [Quyền nhập] Huynh Đệ* Hoàn cảnh gia đình tốt (hoặc gia thế có địa vị), gia đình hòa thuận, đời sống vật chất xa hoa.
* Có thể tự mình mở tiệm kinh doanh. Dễ kết hợp cả nhà ở và tiệm/công ty làm một.
* Kinh tế hùng hậu, sự thành công của anh em trong gia đình cũng trợ giúp về kinh tế cho ta.
* Có thể thụ hưởng tiền tài từ bất động sản, thích hợp kinh doanh ngành nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, taxi. Cũng có lợi khi đầu tư vào bất động sản (có sao Thiên Tài).
* Đề phòng gia tộc ngang ngược (vì Quyền xung Nô Bộc) xa hoa lãng phí.

IX.1.4 Huynh Đệ [Quyền nhập] Điền Trạch* Giỏi kinh doanh, tiền càng chảy càng nhiều, sự nghiệp càng làm càng thuận lợi.
* Anh em khuếch trương sản nghiệp, anh em ngang tàng, anh em tranh quyền.
* Mua nhà sắm của, ngày càng thịnh vượng (tượng của sự tăng tiến).

IX.1.5 Điền Trạch [Khoa nhập] Huynh Đệ* Gia đình có kế hoạch quản lý tài chính, thu chi cân đối.
* Đời sống điềm đạm, giản dị.

IX.1.6 Huynh Đệ [Khoa nhập] Điền Trạch* Anh em lúc thân lúc xa (không mất đi lễ nghi).
* Kinh tế bình thỏa, có kế hoạch tích trữ.

IX.1.7 Điền Trạch [Kị nhập] Huynh Đệ* Gia cảnh sa sút thì anh em gánh vác kế sinh nhai của gia đình. Không phải là cách con cả.
* Gia cảnh tốt thì anh em kinh doanh riêng, ra ở riêng.
* Đề phòng tiền tài suy thoái, hao tán, dần dần xơ xác.
* Đề phòng "anh em với bạn bè xa cách", trước cổng vắng tiếng ngựa xe (vì Kị xung Nô Bộc).

IX.1.8 Huynh Đệ [Kị nhập] Điền Trạch* Anh em đều chú ý đến bản thân họ, đề phòng đều có lòng riêng.
* Tình anh em lạnh, không có nhiều trợ lực.
* Tằn tiện, tích lũy, dần dần gom góp.
* Mỗi bước in một dấu chân (QNB chú: ý nói bước đi trên đường đời nặng nề), vất vả lập nghiệp. 


IX.2 [Điền Trạch cung / Tật Ách cung]
IX.2.1 Điền Trạch [Lộc nhập] Tật Ách:* Gia đình hòa thuận, vận nhà bình an thuận lợi.
* Cuộc sống ung dung, chỗ ở rộng rãi thoải mái.
* Đời sống vật chất hưởng thụ đãi ngộ. Không phải cách con cả.
* Thích hợp kiếm lợi từ việc kết hợp cả nhà ở và tiệm/công ty làm một.

IX.2.2 Tật Ách [Lộc nhập] Điền Trạch:* Gia cảnh tốt, nhà yên cửa thuận.
* Thời gian ở tại nhà nhiều, ăn ở tốt với người nhà.
* Ưa thích những không gian rộng rãi sáng sủa, đời sống hưởng thụ.
* Sức khỏe tốt, đề phòng mức động vận động ít, béo phì.

IX.2.3 Điền Trạch [Quyền nhập] Tật Ách:* Hoàn cảnh đời sống tích cực, có lực, gia đình phấn chấn, có sức sống.
* Đời sống vật chất xa hoa.
* Thích hợp kiếm lợi từ việc tự mở tiệm mở công ty ở nhà.

IX.2.4 Tật Ách [Quyền nhập] Điền Trạch:* Gia vận hưng vượng.
* Ưa thích những không gian sáng sủa rộng lớn.
* Khỏe mạnh, có sức sống, ít đau bệnh, duy trì được sự hoạt động vận động.

IX.2.5 Điền Trạch [Khoa nhập] Tật Ách:* Hoàn cảnh đời sống điềm nhiên, thanh nhã, thanh tĩnh.

IX.2.6 Tật Ách [Khoa nhập] Điền Trạch:* Đời sống điềm đạm, có sự thú vĩ trong cảnh thanh tĩnh.

IX.2.7 Điền Trạch [Kị nhập] Tật Ách:* Hoàn cảnh đời sống trắc trở. Đề phòng gia đình rối bời, nhà cửa không yên.
* Mắc nợ, sinh hoạt vất vả, việc nhà hoặc kinh tế có áp lực lớn.
* Không hợp tự mở tiệm tại nhà.
* Dễ ít khi được thường xuyên ở nhà.

IX.2.8 Tật Ách [Kị nhập] Điền Trạch:* Bệnh kinh niên mãn tính, tâm tình không được thoải mái.
* Cá tính khép kín, kém xã giao.
* Gia vận trì trệ. 


IX.3 [Huynh Đệ cung / Tật Ách cung]
IX.3.1 Huynh Đệ [Lộc nhập] Tật Ách:* Anh em thân thiết, quây quần, hợp ý, dễ thương lượng.
* Kinh tế đầy đủ, tài sản trong tay dồi dào, kiếm tiền dễ dàng. Thích hợp làm kinh doanh.
* Thể chất khỏe mạnh, ít đau bệnh.
* Đời sống vật chất tốt.

IX.3.2 Tật Ách [Lộc nhập] Huynh Đệ:* Anh em gần gũi.
* Sức khỏe thuận lợi, đời sống hưởng thụ.
* Gần gũi với con cái (cung Huynh Đệ chính là [Phúc Đức của cung Tử Tức]).
* Nơi làm việc hợp rộng rãi, kiếm tiền càng thuận lợi.

IX.3.3 Huynh Đệ [Quyền nhập] Tật Ách:* Anh em có thân thể cao lớn, cá tính qua loa đại khái.
* Công việc của ta tốn sức lực, mức độ hoạt động nhiều.
* Tính chịu áp lực cao, càng làm càng khỏe hơn.
* Thu nhập cao, kinh tế không phải lo lắng.

IX.3.4 Tật Ách [Quyền nhập] Huynh Đệ:* Có sức sống, khỏe mạnh, vận động, tập thể hình.
* Có sức bền, chịu được áp lực, có thu nhập cao.
* Cá tính qua loa đại khái, thẳng thắn, chủ động (vì có Quyền xung cung Nô Bộc).

IX.3.5 Huynh Đệ [Khoa nhập] Tật Ách:* Tình cảm anh em lạnh (qua lại mang tính chất cho phải phép).

IX.3.6 Tật Ách [Khoa nhập] Huynh Đệ:* Dưỡng sinh, giữ sức khỏe.

IX.3.7 Huynh Đệ [Kị nhập] Tật Ách:* Anh em cần cù chăm chỉ hoặc chính ta là gánh nặng của anh em.
* Anh em không thân thiết, đều nghĩ cho riêng mình (Kị nhập Tam phương của Điền Trạch thì không sao tránh khỏi tính ích kỷ).
* Công việc của ta vất vả, qua cực nhọc, thiếu sự trợ giúp.

IX.3.8 Tật Ách [Kị nhập] Huynh Đệ:* Sức khỏe không tốt, tâm tình không được thoải mái.
*Xã giao qua lại thì ít xu nịnh (vì Kị xung Nô Bộc).
* Bệnh mãn tính, thể chất kém.
* Khẩn trương duy trì lâu dài vận động và dưỡng sinh. 



IX.4 Điền Trạch cung Tự Hóa
IX.4.1 Điền Trạch cung Tự hóa Lộc:* Ít để tâm vào việc nhà cũng như việc quản lý tài chính. Không đủ lòng trách nhiệm với gia đình.
* Gia đình dễ có cái kiểu biểu tượng bên ngoài thì trông có vẻ đẹp nhưng mà bên trong lại không được như vậy.
* Gia đình hợp kinh doanh buôn bán thu tiền mặt, dễ tự cung tự cấp.
* Gặp Tha cung phi Kị nhập thì cái kho của ta gặp nạn / bị cướp (cùng loại tinh diệu thì "Lộc Kị biến thành Song Kị").

IX.4.2 Điền Trạch cung Tự hóa Quyền:* Gia trạch nhìn có vẻ như hưng vượng, đề phòng chuyện mạnh ai nấy làm.
* Nhưng đề phòng các thành viên trong gia đình nhiều người cùng can dự vào mà dẫn đến mất đoàn kết.

IX.4.3 Điền Trạch cung Tự hóa Khoa:* Dòng dõi nho nhã, có học, thật thà chất phác, tiếng lành đồn xa.

IX.4.4 Điền Trạch cung Tự hóa Kị:* Tiền tài bị rò rỉ, ngầm tiêu hao, kinh tế trống rỗng.
* Tối kị việc lấy không đủ ánh sáng cho căn nhà, đồ đạc bừa bãi chồng chất, lộn xộn bẩn thỉu, khiến cho gia vận cứ bị liên tục gặp chuyện xấu mãi.
* Đề phòng gia đình có lực ly tâm, ai cũng có chí hướng khác. Đề phòng họ hàng thân thuộc ly tán lạnh nhạt.
* Dễ có nhiều phen chuyển nhà, thay đổi nghiệp sản xuất, bán tháo tài sản. Đề phòng gia đình có sự thay đổi khiến thành trống rỗng.

IX.5, Huynh Đệ cung Tự Hóa
IX.5.1 Huynh Đệ cung Tự hóa Lộc:* Anh em trông có vẻ như thân thiết, nhưng đề phòng anh em tùy hứng "không tin cậy được", "không dùng là chỗ dựa được".
* Kinh tế tự túc, nhưng ít có kế hoạch quản lý tài chính.
* Hợp nhất buôn bán thu tiền mặt mà hàng ngày nhìn thấy tiền. Hoặc những nghề đem lại lợi nhuận trong khoảng thời gian ngắn như dịch vụ, tiêu thụ, nghiệp vụ,...
* Gặp Tha cung phi Kị nhập vào thì ta gặp nạn / bị cướp (cùng loại tinh diệu thì "Lộc Kị biến thành Song Kị").

IX.5.2 Huynh Đệ cung Tự hóa Quyền:* Anh em bành trướng, lấn lướt, kiêu ngạo, hay xen vào. Anh em mạnh ai nấy làm, không đoàn kết.
* Kinh tế tuy mạnh nhưng không có kế hoạch quản lý tài chính, đề phòng chi tiêu vô nghĩa, lãng phí.
* Thích hợp với các ngành dịch vụ buôn bán thu tiền mặt hoặc tiêu thụ, nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn, mà không tồn vốn, thu hồi vốn nhanh.
* Trông có vẻ như tích cực, nhưng đề phòng thiếu phương hướng và mục tiêu rõ ràng.

IX.5.3 Huynh Đệ cung Tự hóa Khoa:* Anh em văn vẻ nho nhã.
* Hợp với kế toán quản lý tài chính.

IX.5.4 Huynh Đệ cung Tự hóa Kị:* Anh em ai cũng đều có lòng riêng cho bản thân họ, vô tình thiếu trợ lực cho nhau.
* Ta dễ bị hao hụt, ngầm suy giảm tiền tài, khẩn trương cần phải quản lý tài vụ.
* Sức khỏe suy sút, cần duy trì vận động, dưỡng sinh để duy trì sức khỏe.

IX.6, Tật Ách cung Tự Hóa
IX.6.1 Tật Ách cung Tự hóa Lộc:* An lạc, lười biếng, đời sống hưởng thụ, coi chừng phát phì.
* Thờ ơ, ý chí không kiên định, dễ bị người khác dắt mũi.
* Thiếu tích cực, ôn hòa - thành thật - chậm chạp - rời rạc, dễ bị vuột mất cơ hội qua tay.

IX.6.2 Tật Ách cung Tự hóa Quyền:* Thể hình cường tráng, quá động thiếu tĩnh.
* Cá tính thô lỗ, không biết lươn lẹo.
* Rất dễ bị va chạm, té ngã bị nội thương hay tắc nghẽn hoặc đọng máu, tổn thương hệ vận động.
* Có thừa sự tích cực, nhưng đề phòng thiếu phương hướng kiểu liều lĩnh lỗ mãng.

IX.6.3 Tật Ách cung Tự hóa Khoa:* Nho nhã có thừa, nhưng đề phòng do dự, kiểu cách.

IX.6.4 Tật Ách cung Tự hóa Kị:* Dễ cực khổ hoặc thiếu ý chí lo bò trắng răng.
* Thiếu tính nhẫn nại, vị thế lộn xộn, cục cằn.
* Cách cục xấu, dễ phát bệnh thì thuốc thang châm cứu không có hiệu quả hoặc rất nhanh tử vong, dễ tổn thương tàn phế (khuyết tật hoặc phẫu thuật bỏ đi bộ phận nào đó) (cung Tật Ách Kị xuất).

(Tác giả chú: người mà Tam phương Điền Trạch phần lớn được Lộc Quyền, cách cục tốt thì hưng gia vượng trạch; cách cục xấu thì cũng có thể tự ở nhà mở tiệm kinh doanh, ổn định cuộc sống. Người mà Tam phương Điền Trạch phần lớn được Kị thì chỉ hợp thận trọng mà làm hoặc đi làm công ăn lương ổn định).

X, Tượng nghĩa của Tam phương Nô Bộc hỗ Hóa và tự Hóa

X.1, [Nô Bộc cung / Phụ Mẫu cung]
X.1.1 Nô Bộc [Lộc nhập] Phụ Mẫu:* Dễ kết giao với những bạn bè lễ độ, ôn hòa, hài hước, hiểu sâu biết rộng.
* Việc giao tế với người ta hầu hết đều vui vẻ hòa hợp, bạn bè rất được bề trên chiếu cố.
* Bạn bè có người có học vẫn cao, đọc nhiều sách vở.
* Hoặc có bạn vong niên, anh em kết nghĩa.

X.1.2 Phụ Mẫu [Lộc nhập] Nô Bộc:* Nhân duyên tốt với bậc bề trên.
* Cha mẹ văn minh hiểu biết về đại cuộc.
* Dễ kết giao với những người bạn tuổi khá lớn hoặc có sự tu dưỡng tốt.

X.1.3 Nô Bộc [Quyền nhập] Phụ Mẫu:* Cách cục tốt, bạn bè có người có học vẫn cao, đọc nhiều sách vở, hiểu sâu biết rộng.
* Cách cục xấu, đề phòng trong số bạn bè có người ngạo mạn, thành kiến, phiến diện, có lý là họ dí đến cùng, sự tu dưỡng họ chưa đầy đủ.
* Đề phòng bạn bè xấu tính, trong giao tế thì có người nịnh nọt bợ đỡ nối giáo cho giặc.

X.1.4 Phụ Mẫu [Quyền nhập] Nô Bộc:* Bề trên ràng buộc việc qua lại kết giao bạn bè của ta.
* Cha mẹ thuộc bậc đức cao vọng trọng trong chuyện giao tế với người ta. hoặc sự kết giao nhân tế của cha mẹ có tố chất đẳng cấp cao.
* Ta có thể có được phương thức khá tốt trong những mối quan hệ với những bạn đã kết giao lâu năm, anh em kết nghĩa.

X.1.5 Nô Bộc [Khoa nhập] Phụ Mẫu:* Bạn bè có tố chất tốt đẹp. Giao du nhiều người nho nhã.

X.1.6 Phụ Mẫu [Khoa nhập] Nô Bộc:* Bậc trưởng bối có nhiều kết giao quân tử.
* Ta kết giao bạn bè có văn có lễ.

X.1.7 Nô Bộc [Kị nhập] Phụ Mẫu:* Cách cục tốt, kết giao với những bạn bè hiếu thuận, thích đọc sách.
* Cách cục xấu, đề phòng trong số bạn bè có người không hiểu lễ nghĩa, mức độ tu dưỡng kém, mở mồm ra là nói bậy.
* Người tri kỷ trái lại không thường gặp gỡ hoặc có sự sinh ly tử biệt với người bạn tốt.

X.1.8 Phụ Mẫu [Kị nhập] Nô Bộc:* Cha mẹ nặng tình nặng nghĩa.
* Bề trên quan tâm đến việc qua lại giao tế của ta.
* Bất lợi trong việc thi cử, cạnh tranh.
* Cách cục tốt, lời nói thẳng thắn có thể can gián bạn bè.

X.2, [Nô Bộc cung / Tử Tức cung]
X.2.1 Nô Bộc [Lộc nhập] Tử Tức:* Phần lớn bạn bè kết giao đều là những người nhân từ lương thiện, vui vẻ với trẻ nhỏ.
* Con cái gặp được người thầy tốt.
* Người phối ngẫu thân cận với con trẻ.
* Người phối ngẫu có khả năng tình dục tốt (có sao Đào hoa) (vì cung Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê).

X.2.2 Tử Tức [Lộc nhập] Nô Bộc:* Có thể cùng với bạn bè của con cái kết thành một khối, thân mật với bạn bè của con.
* Con cái thân cận với cha mẹ.
* Sinh hoạt tình dục mỹ mãn (có sao Đào hoa) (vì cung Tử Tức chính là cung Phúc Đức của cung Tật Ách).

X.2.3 Nô Bộc [Quyền nhập] Tử Tức:* Cách cục xấu, đề phòng con cái kết bè kết đảng làm chuyện xấu.
* Cách cục tốt, con cái dễ gặp được người thầy nghiêm khắc.
* Người phối ngẫu thô lỗ đối với cách quản giáo con cái (vì cung Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê, mà nó lại hóa Quyền nhập cung Tử Tức).
* Người phối ngẫu có khả năng tình dục tốt (có sao Đào hoa).

X.2.4 Tử Tức [Quyền nhập] Nô Bộc:* Đề phòng con cái hay xía vào chuyện của người khác, gây chuyện thị phi.

X.2.5 Nô Bộc [Khoa nhập] Tử Tức:* Con cái dễ gặp được thầy giỏi bạn hiền.

X.2.6 Tử Tức [Khoa nhập] Nô Bộc:* Con cái không có nhiều bạn bè, nhưng đa phần đều là bạn tốt.

X.2.7 Nô Bộc [Kị nhập] Tử Tức:* Đề phòng con cái bắt chước làm việc xấu.
* Cha mẹ nên chú ý đến sự giao du của bản thân, làm tấm gương tốt cho con cái noi theo.
* Đề phòng bạn bè có tính háo sắc (có các sao đào hoa).
* Bạn bè không được lâu bền hoặc người tri kỷ ít được gặp gỡ.
* Người phối ngẫu với con cái không thân thiết (vì cung Nô Bộc chính là cung Tật Ách của cung Phu Thê, mà nó lại hóa Kị nhập cung Tử Tức).
* Bớt hùn vốn với người ta thì tốt, đề phòng người cùng hùn hạp có tư lợi.

X.2.8 Tử Tức [Kị nhập] Nô Bộc:* Đề phòng con cái kết giao với bạn bè xấu.
* Con cái lúc còn thơ thì quấn quýt với người phối ngẫu.
* Đề phòng người cùng hùn hạp có tư lợi, hùn hạp chẳng có lợi.

(Tác giả chú: cái "Đức" của Phúc Đức, chính là chỉ "đức hạnh" của Hậu Thiên. Dùng tam phương của Nô Bộc làm "cung Thu tàng" của Đức, cho nên đơn giản có thể nói: phàm là người mà Lộc, Kị nhập Nô Bộc thì đa phần đều "Tình, Nghĩa"; còn người mà Lộc, Kị nhập Phụ Mẫu thì đa phần đều coi trọng "Lễ, Hiếu"; còn người mà Lộc, Kị nhập Tử Tức thì đa phần đều thuộc về "Nhân từ, bác ái").

(Tác giả chú: phàm là người có Hóa của năm sinh và Hóa của Tam phương Mệnh cung mà khiến cho Tam phương Nô Bộc cung gặp nhiều Kị thì đừng có hùn hạp với người khác thì hơn. Còn như người mà có sự hỗ Hóa của Tam phương Nô Bộc mà làm nhiều Kị ở trong chính Tam phương của Nô Bộc - xung vào Tam phương Điền Trạch, thì cũng chớ có hùn hạp vốn liếng mới tốt. Hai dạng này đều thuộc khả năng hùn hạp kết hợp mà gặp thời vận xấu hoặc phạm vào những kẻ tiểu nhân gian lận lừa đảo).

X.3 [Phụ Mẫu cung / Tử Tức cung]
X.3.1 Phụ Mẫu [Lộc nhập] Tử Tức:* Bề trên hiền từ bác ái, họ hàng có mối quan hệ tốt.
* Lời răn dạy tốt, biết lấy lễ nghĩa bồi dưỡng cho con cái.
* Con cái rất dễ gặp được người thầy tốt.

X.3.2 Tử Tức [Lộc nhập] Phụ Mẫu:* Con cái dẻo miệng, có lễ phéo, thậm chí là thảo mai nịnh nọt.
* Con cái có thành tích tốt, có người thầy giỏi.
* Con cái học hành đọc sách vẫn chưa dùng hết sức.

X.3.3 Phụ Mẫu [Quyền nhập] Tử Tức:* Tận lực hết lòng dạy dỗ bồi dưỡng cho con cái.
* Con cái gặp được người thầy nghiêm khắc.

X.3.4 Tử Tức [Quyền nhập] Phụ Mẫu:* Con cái vô lễ, ngạo mạn, không được dạy bảo cẩn thận, cần chú trọng đến phương pháp dạy.
* Cách cục tốt thì con cái thông minh, hay đọc sách.

X.3.5 Phụ Mẫu [Khoa nhập] Tử Tức:* Dạy dỗ đối với con cái bằng lời hay ý đẹp, giảng giải đạo lý, cách thức dân chủ.

X.3.6 Tử Tức [Khoa nhập] Phụ Mẫu:* Con cái là dòng dõi có học vấn, được dạy dỗ tốt.
* Con cái thanh tú đẹp đẽ.

X.3.7 Phụ Mẫu [Kị nhập] Tử Tức:* Bề trên nhiều con cái, ông bà nhiều cháu chắt.
* Ta đối với sự dạy dỗ con cái thì không nắm được điểm mấu chốt.

X.3.8 Tử Tức [Kị nhập] Phụ Mẫu:* Con cái thẳng tính, vui buồn hiện ra nét mặt.
* Cách cục tốt, con cái biết điều, hiếu thuận, thích đọc sách.
* Cách cục xấu, con cái vô lý, quá khích, không chịu nghe lời (thêm Quyền lại càng rõ hơn).
* Hùn hạp không thành việc hoặc duyên hùn hạp không được bền.

X.4 Nô Bộc cung Tự Hóa
X.4.1 Nô Bộc cung Tự hóa Lộc:* Giao du với bạn bè không biết chọn người, thiếu nguyên tắc, tùy hứng.
* Đa phần là bạn bè ăn nói luyên thuyên, gió chiều nào xuôi chiều ấy, a dua nịnh bợ.
* Tuy có vẻ như nhiệt tình, đối xử tốt, cần đề phòng thiếu tính phòng bị, mừng hụt.
* Quen biết khắp thiên hạ, ai là người tri kỷ?

X.4.2 Nô Bộc cung Tự hóa Quyền:* Bạn bè đa số là ưa thể hiện, thích khoe, bành trướng. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đa số đều chẳng phải kẻ chí tình chí nghĩa.
* Đề phòng bạn bè đều là kẻ hư vinh, kiêu ngạo, tất nhiên sẽ tan đàn xẻ nghé.

X.4.3 Nô Bộc cung Tự hóa Khoa:* Dù chẳng phải mối thân tình mãi mãi, nhưng cũng thuộc dạng quân tử chi giao.

X.4.4 Nô Bộc cung Tự hóa Kị:* Bạn bè chẳng được bền, có tình mà chẳng chịu được thử thách.
* Ta ở trong thái độ của bạn bè thì tồn tại sự "không ưa tiếp đón", liệu có là thật lòng thật dạ hay chăng?
* Chung quy là khó có người tri kỷ, chẳng có được tri âm.

(Tác giả chú: phàm sự việc không thể chỉ oán người khác, cũng cần tự kiểm điểm ở bản thân mình. Sự việc đa phần xuất ra ở dạng ngưu tầm ngưu mã tầm mã, phải có 2 bàn tay mới tạo thành tiếng vỗ. Mất bạn mất bè, cũng ắt phải kiểm điểm ở thái độ giao du của mình).

X.5, Phụ Mẫu cung Tự Hóa
X.5.1 Phụ Mẫu cung Tự hóa Lộc:* Cha mẹ tự cấp tự túc, chẳng sợ bị thiếu đi sự tận tâm báo hiếu, còn đề phòng giả vờ hiếu thuận.
* Nhã nhặn vui vẻ, thảo mai nịnh nọt, nhưng đề phòng chỉ là chỉ được cái miệng mà chẳng có thực lòng, a dua kiểu ng... q... tử.

X.5.2 Phụ Mẫu cung Tự hóa Quyền:* Bành trướng, kiểu cách, ngạo mạn, kịch liệt.
* Đề phòng nhanh nhảu buột miệng, chiêu chuốc thị phi.

X.5.3 Phụ Mẫu cung Tự hóa Khoa:* Thanh tú, khí chất, có mối quan hệ với bề trên rất tốt.

X.5.4 Phụ Mẫu cung Tự hóa Kị:* Cách cục xấu, không thích đọc sách, không khiêm tốn, không chịu nghe lời.
* Không thích nghi lễ rườm rà, chẳng ưa nhiều phép tắc phức tạp.
* Mất hình ảnh phong cách.
* Mệnh cách mà đẹp, dù không câu nệ tiểu tiết không hoa lá cành, thì rốt cuộc cũng là chẳng được kết quả tốt đẹp.

X.6, Tử Tức cung Tự Hóa
X.6.1 Tử Tức cung Tự hóa Lộc:* Con cái tự túc.
* Đối với sự dạy dỗ con cái thì không làm tròn trách nhiệm, không chịu để tâm.
* Gặp sao đào hoa thì đề phòng giỏi mồm mép, vô nguyên tắc mà đào hoa tùm lum, tình một đêm.

X.6.2 Tử Tức cung Tự hóa Quyền:* Con cái khó dạy, con cái ngạo mạn kiêu căng.
* Đề phòng không nắm được điểm mấu chốt để dạy dỗ con cái.

X.6.3 Tử Tức cung Tự hóa Khoa:* Con cái văn nhã, sẽ không thay đổi xấu, nhưng đề phòng do dự quá.

X.6.4 Tử Tức cung Tự hóa Kị:* Không để tâm dạy dỗ con cái hoặc không nắm được điểm mấu chốt, dăm lần bảy lượt bảo ban dạy dỗ.
* Con cái làm trái ý ta hoặc con cái có lực ly tâm đối với ta.
* Con cái duyên (phúc) không dày, nuôi mà chưa chắc đã được phụng dưỡng tuổi già, còn đề phòng tuổi già phải tự lo lấy thân (dù có cũng như không).
* Hùn hạp không nên việc hoặc duyên hùn hạp không được lâu dài.
* Gặp các sao đào hoa, đào hoa tùm lum, ăn tạp kiểu vơ bèo gạt tép. 


XI, Tượng nghĩa của sự hỗ Hóa giữa Tam phương Mệnh cung và Tam phương Điền Trạch cung
XI.1, [Mệnh cung / Điền Trạch cung]
XI.1.1 Mệnh [Lộc nhập] Điền:* Gia đình có phúc ấm, hoặc gia thế không đến nỗi.
* Gia đình ít tai vạ, cha mẹ phúc thọ (cung Điền là [cung Phúc Đức của cung Phụ Mẫu]).
* Thân cận với bề trên, họ hàng thường qua lại.
* Ăn ở có tình với người nhà, không tính toán, tình cảm thân thiết.
* Cá tính không muốn phiền hà, lòng trách nhiệm không mạnh, thường ở vị trí nhỏ trong anh em (không nhất thiết phải gánh vác trách nhiệm gia đình, hoặc có đứng ở vị trí anh cả thì cá tính cũng không giống như người đại ca).
* Có duyên khá sớm với bất động sản hoặc dễ được giúp đỡ tậu tài sản.
* Nhiều con cháu, hoặc hiếm khi mà sinh ra đứa con ngỗ nghịch, quan hệ cha con vui vẻ.
* Nữ mệnh thì vượng phu ích tử.

XI.1.2 Điền [Lộc nhập] Mệnh:* Gia thế tốt, được tổ tiên che chở, được kế thừa tổ nghiệp, được phúc gia đình.
* Hưởng thụ những cái vốn có, điều kiện cuộc sống khá tốt.
* Đất tổ có thể phát tích.
* Gia đình vui vẻ, ít tai vạ, an cư lạc nghiệp.
* Thưởng ở vị trí nhỏ trong số các anh em.
* Gia trạch vượng, con cái có tiền đồ.
* Có duyên khá sớm với bất động sản hoặc dễ được giúp đỡ tậu tài sản.
* Tài sản dễ ngày càng gia tăng, tài sản ở đoạn đường náo nhiệt hoặc ở khu vực tốt (gặp sao Thiên Tài, Lộc, Quyền).
* Nhiều bất động sản, có lời từ bất động sản, có thể cho thuê hoặc tự mở tiệm ở nhà để kinh doanh. Cũng có thể kinh doanh khách sạn, cafe, ăn uống, nghỉ dưỡng.
* Trụ sở thường thoải mái hoặc rộng rãi, chỗ ở của gia đình dễ có sân lớn, đất trống hoặc ở mặt đường lớn (trống trải).
* Nữ mệnh thì vượng phu ích tử.

XI.1.3 Mệnh [Quyền nhập] Điền:* Chiếm quyền ở trong gia đình, đối với con cái cung dạy dỗ nghiêm khắc.
* Có nhiều hoài bão, có chí tiến thủ, có sinh lực, có thể dùng phát triển tài phú. Dễ dàng sáng lập sự nghiệp.
* Thích tự nhà cửa to lớn khí thế, cũng dễ tăng cường kiến thiết, trang hoàng
* Chỗ ở của gia đình dễ có sân lớn, đất trống hoặc ở mặt đường lớn (trống trải).
* Có thể cho thuê phòng ốc hoặc tự mở tiệm ở nhà để kinh doanh.
* Khá coi trọng đời sống vật chất.
* Nữ mệnh cũng nghiễm nhiên trở thành người chủ 1 gia đình.

XI.1.4 Điền [Quyền nhập] Mệnh:* Gia giáo nghiêm minh.
* Gia thế tốt, gia đình có chí tiến thủ, có sức sống, gia đình thành tưu, cũng được kế thừa tổ nghiệp.
* Trụ sở to lớn, khí thế hoặc ở đoạn đường náo nhiệt hoặc ở khu vực tốt, đáng giá (gặp các sao Thiên Tài, Lộc, Quyền).
* Nhiều bất động sản, toàn là bất động sản có giá trị cao, có thể kinh doanh kiếm tiền (có thể cho thuê hoặc tự mở tiệm ở nhà để kinh doanh.
* Khá coi trọng đời sống vật chất.

XI.1.5 Mệnh [Khoa nhập] Điền:* Vui vẻ giản dị, hoàn cảnh yên tĩnh có học thức.
* Nhà cửa lớn nhỏ đều có mức độ vưa phải.

XI.1.6 Điền [Khoa nhập] Mệnh:* Gia đình bình thuận cuộc sống giản dị bình yên.
* Gia đình có học thức.

XI.1.7 Mệnh [Kị nhập] Điền:* Giữ gìn cơ nghiệp, chăm lo việc nhà, chịu khó, tiết kiệm, tích phúc (chưa chắc đã có quan hệ trực tiếp đến việc giàu hay nghèo).
* Đa phần là con cả (hoặc không phải con cả nhưng lại có cá tính của người con cả).
* Có thể tay trắng lập nghiệp, vừa làm ông chủ kiêm chân bồi bàn.
* Đối ngoại khó tránh được có lòng riêng, tính toán, nội tâm, ít xã giao (vì Kị xung vào Tam phương Nô Bộc).
* Cách cục tốt, cần kiệm làm giàu, tích cát thành gò.
* Dịch mã khó mà động (QNB chú: ám chỉ khó mà đi xa hoặc hiếm có cơ hội đi đây đi đó).
* Sao thâu tàng (Kị) nhập vào cung thâu tàng, là vừa khéo thích hợp.

XI.1.8 Điền [Kị nhập] Mệnh:* Gánh vác trách nhiệm gia đình, duyên nợ với gia đình, vất vả, cuộc sống phải gánh vác trách nhiệm.
* Con cả (hoặc có cả tính của con cả), đòi hỏi tay trắng lập nghiệp.
* Gia thế không vượng hoặc có gia cảnh sa sút, thành viên trong gia đình có người chẳng có tiền đồ.
* Đề phòng có áp ực về kinh tế (thu nhập thiếu thốn hoặc phải chi tiêu nhiều).
* Mua sắm tài sản phải dựa vào bản thân (hoàn toàn làm theo khả năng của mình có, để tránh phải gánh vác nặng thêm).
* Chỗ ở nhỏ, cũ kỹ, hoặc sinh hoặt trong cuộc sống có trở ngại. Đề phòng bên trong nhà cửa phòng ốc ẩm thấp, bẩn thỉu, không đủ không khí, thiếu ánh sáng.
* Đề phòng vận nhà không tốt, nhân sự không yên, nhiều con cháu thiếu phúc khí.
* Dễ không được ở yên lâu trong nhà.
* Hợp với đi làm công ăn lương, hoặc là kinh doanh nhỏ lẻ ở ngoài, khẩn trương tiết kiệm chi tiêu, tính toán cho kỹ, làm thêm, tăng ca. Hoặc theo các ngành nghề dịch vụ, tư vấn, môi giới, kỹ thuật,...
* Nữ mệnh gánh vác kế sinh nhai của gia đình, phần lớn đều làm nghề mang tính chất của phụ nữ.

(Tác giả chú: người mà Tam phương Mệnh "Lộc nhập" vào Tam phương Điền Trạch, đều có cá tính không được tích cực kiểu như em nhỏ trong số các anh em trong gia đình. Ngược lại, người mà Tam phương Mệnh "Kị nhập" vào Tam phương Điền Trạch, thì đều có tính tích cực có trách nhiệm như con trưởng trong nhà.

Còn người mà Tam phương Điền Trạch "Lộc nhập" vào Tam phương Mệnh, thuộc về dạng đời sống hậu đãi hoàn cảnh gia đình khá tốt. Và người mà Tam phương Điền Trạch "Kị nhập" vào Tam phương Mệnh, thì có trách nhiệm gánh vác hoàn cảnh gia đình khá nghèo khó vất vả). 

XI.2, [Mệnh cung / Huynh Đệ cung]
XI.2.1 Mệnh [Lộc nhập] Bào:* Không tính toán với anh em, anh em có tình có nghĩa, có duyên tốt với mẹ.
* Đối ngoại được vượng về tinh thần khí chất (vì Lộc chiếu cung Nô Bộc).
* Gia đình có thu nhập tốt, kinh tế thường đầy đủ, việc chi tiêu thuận lợi, sự nghiệp cũng khá thuận.
* Thiếu sự tính toán kỹ lưỡng, đa số đều bị thiếu hụt bất ngờ.
* Tính trách nhiệm không cao, không chu cấp trọn vẹn.
* Thể chất ít bệnh, chim họa mi hót véo von.
* Ăn ở vui vẻ với con cái (vì cung Huynh Đệ chính là [cung Phúc Đức của cung Tử Tức]).

XI.2.2 Bào [Lộc nhập] Mệnh:* Anh em thông tình đạt lý, anh em tình sâu nghĩa nặng, duyên với mẹ tốt đẹp.
* Sự nghiệp thuận lợi, kiếm tiền dễ dàng, kinh tế không lo thiếu thốn. Thiếu kế hoạch quản lý tài chính một cách cẩn thận.
* Gia đình phát triển, phấn chấn, thu nhập tốt, chi tiêu thuận lợi.
* Vốn được hưởng thụ, điều kiện sống ưu đãi.
* Thể chất tốt, họa mi hót véo von.
* Có lợi được lương cao, lợi cho sáng lập sự nghiệp.
* Ăn ở với con cái vui vẻ hòa thuận.

XI.2.3 Mệnh [Quyền nhập] Bào:* Ở vị trí con trưởng trong số anh em, hoặc chiếm quyền của anh em.
* Có chủ kiến, tham vọng, mưu đồ, kiếp lập. Có sức sống, tích cực.
* Vốn can đảm và quyết đoán, có tố chất lãnh đạo (vì Quyền xung Nô Bộc) (đề phòng ngang ngược, thô bạo).
* Sáng lập sự nghiệp, kiêm nhiệm chức vụ, khởi nguồn khơi ngọn. Dám kiếm tiền dám tiêu xài, có cách quản lý tài chính.
* Coi trọng đời sống vật chất.
* Thể chất khá tốt, ít phiền nhiễu vì đau bệnh.

XI.2.4 Bào [Quyền nhập] Mệnh:* Trong số anh em có người tài giỏi.
* Có khả năng không phải con cả trong số các anh em của mình, anh em nắm quyền.
* Thể chất khá tốt, có sức sống, phấn chấn.
* Thực lực kinh tế tốt, sự nghiệp lên theo dòng nước, tài chính càng chảy càng dồi dào.
* Tích cực, khai sáng, cách làm ông chủ.
* Coi trọng đời sống vật chất.

XI.2.5 Mệnh [Khoa nhập] Bào:* Quản lý tài chính kiểu lựa cơm gắp mắm. Kinh tế bình ổn.
* Anh em dễ trao đổi, thương lượng.

XI.2.6 Bào [Khoa nhập] Mệnh:* Biết quản lý tài chính, kinh tế hợp lý, tiền tài như dòng nước chảy nhỏ thì chảy được dài.
* Đau bệnh thì gặp được quý nhân.
* Anh em dễ trao đổi, thương lượng.

XI.2.7 Mệnh [Kị nhập] Bào:* Giữ gìn cơ nghiệp, chịu khó, tiết kiệm, tận lực với trách nhiệm, tay trắng lập nghiệp, vừa làm ông chủ vừa kiêm bồi bàn.
* Dễ là con trưởng, nâng đỡ anh em.
* Bạn bè không nhiều tình cảm (có chừng mực), hướng nội, ít xã giao (vì Kị xung Nô Bộc).
* Dễ đi làm công ăn lương, có thể kiêm nhiệm chức vụ, tăng ca, làm thêm.
* Buôn bán thu tiền mặt.
* Mệnh cách tốt, chăm chỉ tiết kiệm làm giàu, tích cát thành gò.
* Nữ mệnh thường làm những nghề mang tính chất chuyên cho phụ nữ.
* Sao thâu tàng (Kị) nhập cung thâu tàng, là phù hợp vị trí.

XI.2.8 Bào [Kị nhập] Mệnh:* Dễ là con trưởng, là "chỗ vất vả của anh em".
* Đề phòng kinh tế có áp lực (thu nhập ít hoặc chi tiêu nhiều quá).
* Cần phải tính toán chi li, tăng cường tiết kiệm, tằn tiện, chịu khó.
* Thích hợp nhất đi làm công ăn lương hoặc kinh doanh nhỏ. Hoặc theo các ngành dịch vụ, kỹ thuật, tư vấn, môi giới,...
* Nữ mệnh thường làm những nghề mang tính chất chuyên cho phụ nữ.

XI.3 [Mệnh cung / Tật Ách cung]
XI.3.1 Mệnh [Lộc nhập] Tật:* Lười vận động, dễ phát phì.
* Không có tính nhẫn nại, không vững chí bền gan, thiếu tích cực.
* Không dám chịu trách nhiệm, đời sống hưởng thụ, tùy cảnh mà thích ứng, lan man chẳng ràng buộc.
* Tâm tính tốt.
* Ăn ở tốt với nàng dâu (vì cung Tật Ách chính là vị trí của nàng dâu).

XI.3.2 Tật [Lộc nhập] Mệnh:* Lười biếng, không muốn vận động nhiều, cũng dễ phát phì.
* Gia vận tốt, không cần nhọc lòng gánh vác, điều kiện đời sống hậu đãi, hưởng thụ sẵn có. Tâm tính thường tốt.
* Chỗ làm việc (cửa hàng, công trường, phân xưởng, văn phòng,...) đều thoải mái dễ chịu.
* Chậm chạp lan man mà có phúc, ít bị phiền toái vì các bệnh mãn tính.
* Có duyên tốt đẹp với con dâu.

XI.3.3 Mệnh [Quyền nhập] Tật:* Hiếu động, tích cực, có sức nhẫn nại.
* Có tính "kháng áp" cao, rất lì lợm "dù bệnh dài cũng trì hoãn việc tìm tới thuốc men".
* Cá tính không văn vẻ hoa mỹ, cộc cằn, ý chí mạnh mẽ.
* Thể hình cường tráng cân đối. Đề phòng bị thương khi vận động, bị nội thương, đọng máu ứ máu (khi có Quyền Kị đồng cung).
* Thích hợp với những công việc có cường độ vận động lớn, cũng coi trọng đời sống vật chất.

XI.3.4 Tật [Quyền nhập] Mệnh:* Bẩm tính chịu được vất vả, cường tráng, có tính "kháng áp" mạnh, sức "kháng lực" cũng mạnh.
* Thể chất tốt. Có sức sống, thích vận động.
* Gia vận tốt.
* Dám làm dám chịu, thích hợp với các công việc có cường độ vận động cao. Cũng coi trọng đời sống vật chất.

XI.3.5 Mệnh [Khoa nhập] Tật:* Không gầy không mập, phong thái ưu nhã.
* Có bệnh thì gặp thầy gặp thuốc.
* Cá tính không vội không chậm. Thiếu sự quyết liệt. Đề phòng do dự.

XI.3.6 Tật [Khoa nhập] Mệnh:* Vóc dáng vừa phải, thân hình nho nhã.
* Cá tính ôn hòa văn nhã.

XI.3.7 Mệnh [Kị nhập] Tật:* Ham làm, không chịu được cảnh rảnh rỗi, không chịu nổi yên tĩnh.
* Có sức chịu đựng, kiên trì, việc gì cũng tự làm, vừa làm hiệu trưởng vừa làm lao công.
* Đa lao đa động, không dễ phát phì.
* Chịu khó cần mẫn, dễ kiêm chức, làm thêm.
* Nữ mệnh cần cù, thường làm những nghề mang tính chất chuyên cho phụ nữ.
* Nữ mệnh gặp sao Thái Âm thường xinh đẹp, thường sạch sẽ, giảm cân, ăn uống điều độ, dung mạo đẹp.
* Gặp sao Tham Lang: tập thái cực quyền, thuật dưỡng sinh, yoga.
* Không chịu được nhàn, nếu nhàn tự sinh bệnh.
* Cá tính hướng nội, khá ít giao tiếp xã hội.

XI.3.8 Tật [Kị nhập] Mệnh:* Bận rộn, áp lực, thân bất do kỷ, mệnh vất vả. Thường có nhiều lượng công việc, chồng chất, cực khổ.
* Cá tính "vừa nói là làm ngay", không thích dây dưa lằng nhằng.
* Mạnh cách tốt, cá tính khá chín chắn hướng nội. Mệnh cách xấu, dễ cảm xúc hóa kiểu nổi nóng, buồn rầu, tâm tình rất dễ mưa nắng thất thường.
* Đề phòng bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bị bệnh hành hạ lâu ngày.
* Gia vận khá ì ạch.
* Không dễ mập, nếu mập ắt là béo bệnh.
* Nữ mệnh thường làm những nghề mang tính chất chuyên cho phụ nữ. 

XI.4 [Tài Bạch cung / Điền Trạch cung]
XI.4.1 Tài [Lộc nhập] Điền* Tiền dễ tới, nguồn tiền dài lâu, nhưng không mưu cầu một cách hết sức.
* Che chở gia đình, ít tính toán, thu nhập tốt, gia cảnh đầy đủ.
* Dễ sống cùng cha mẹ (vì cung Tài Bạch chính là [cung Tật Ách của cung Phụ Mẫu]).
* Có thể lương cao, làm nghề ăn chia theo hoa hồng lợi nhuận. Cũng thích hợp với việc buôn bán.
* Dễ mua nhà sắm đồ (tượng của sự tăng tiến).

XI.4.2 Điền [Lộc nhập] Tài:* Được phúc của gia đình, có gia thế tốt, điều kiện đời sống đãi ngộ.
* Kinh tế tốt, tiền mặt thuận lợi mà tiêu xài nhiều, ít có kế hoạch quản lý tài chính.
* Nếu như giỏi quản lý tài sản, có thể dùng tiền đẻ ra tiền.
* Thích hợp với nghề cho thuê bất động sản kiếm lời, có thể kinh doanh khách sạn, quán trọ, ăn uống nghỉ dưỡng.
* Cũng có thể theo nghiệp đầu tư bất động sản (gặp sao Thiên Tài hóa Lộc, Quyền).
* Có thể sống chung với cha mẹ (vì Tài Bạch chính là [cung Tật Ách của cung Phụ Mẫu]).

XI.4.3 Tài [Quyền nhập] Điền:* Có sức sống, có lòng mưu đồ.
* Quản lý tài chính, ứng dụng linh hoạt, có thể có thu nhập cao, tạo dựng được của cải.
* Có không gian để phát triển trong những ngành chuyên về kỹ thuật và chuyên môn.
* Dễ trang trí, thiết kế nhà cửa phòng ốc. Tái mua sắn điền sản, thay đổi lớn về nhà cửa.

XI.4.4 Điền [Quyền nhập] Tài:* Gia thế tốt, kinh tế mạnh. gia đình có sinh lực, phấn chấn.
* Nếu như giỏi quản lý tài chính thì có thể dùng tiền đẻ ra tiền.
* Rất dễ có món tiền lớn vào ra.
* Có thể tự mở tiệm ở nhà để kiếm lợi, cho thuê bất động sản, khách sạn. Cũng có thể dùng bất động sản đầu tư (gặp sao Thiên Tài hóa Lộc, Quyền thì hoạnh phát).
* Coi trọng đời sống vật chất.

XI.4.5 Tài [Khoa nhập] Điền:* Thu nhập không cao nhưng dòng nước bé chảy nhỏ thì chảy được dài.
* Quản lý tài chính kiểu lựa cơm gắp mắm, thu chi quân bình.

XI.4.6 Điền [Khoa nhập] Tài:* Làm kế toán, quản lý tài chính, liệu cơm gắp mắm còn có dư dôi.

XI.4.7 Tài [Kị nhập] Điền:* Tiết kiệm, dành dụm, tích góp từng li, tiền mồ hôi nước mắt.
* Giữ cơ nghiệp, an định. Thường là người đi làm công ăn lương hưởng thu nhập cố đinh, hoặc là buôn bán nhỏ (Kị, chính là tích góp từng li từng tý).
* Cách cục tốt thì cần kiệm làm giàu, tích cát thành gò.
* Đối với bạn bè không dành nhiều tình cảm, ít giao tiếp xã hội (vì Kị xung tới Tam phương của cung Nô).
* Sao thâu tàng (Kị) nhập cung thâu tàng, hợp chỗ.

XI.4.8 Điền [Kị nhập] Tài:
* Suy giảm tài chính, hao tán, sa sút, áp lực về tài chính.
* Gánh nặng trầm trọng, không dễ trữ tiền và cũng rất dễ mắc nợ. Đề phòng áp lực cho vay.
* Hợp nhất đi làm công ăn lương có thu nhập cố định. Hoặc theo những ngành kỹ thuật, dịch vụ, tư vấn, môi giới.
* Đề phòng sự nghiệp suy bại, đầu tư mất tiền.
* Khi mu tài sản nhất định phải liệu sức mà làm, đề phòng gánh khoản nợ quá lớn.
* Bớt đầu tư vào bất động sản vì rất dễ thua lỗ.
* Cần phải tinh toán chi li, tiết kiệm chi tiêu (tượng của suy thoái). 

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019

1 số ghi chép tạp luận của Agape & Lê Quang Lăng

Cung VCD
Phụ mẫu VCD thì cha mẹ thường sống lâu (xem thêm Nhật, Nguyệt)

Tật Ách VCD thì ít bệnh tật

Điền VCD thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sao giữ của như Quả Tú

Tử VCD thì khó có con, vẫn có con nhưng không nhờ được con

Huynh VCD thì không nhờ nhau

Phúc VCD thì lại tốt

Phụ Mẫu VCD thì không giúp đỡ được cha mẹ nhiều, hoặc cha mẹ cũng không giúp cho con nhiều

Điền VCD gặp Triệt đương đầu: ăn trong cảnh bất ngờ, náo loạn (bất thường, phản vi kỳ cách)

Nữ Mệnh VCD thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh VCD

Tam hợp chiếu tại cung VCD thì phải tại Tứ Mộ mới ăn, tại các cung khác thì lấy xung chiếu

Mệnh VCD, Tử Tức VCD thì xấu, cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con

Phu Thê vô chính diệu thường lập gia đình bất ngờ


Tam Hóa, Lộc Tồn
Hóa Lộc tại Tứ Mộ thì Lộc bị chôn vùi, do đó chủ về phúc hơn là chủ về tiền tài. Hóa Lộc cư tại Tứ Mộ thì bị vùi, nhưng nếu gặp Triệt thì lại tốt, không bị chôn lấp

Hóa Lộc đóng tại Tứ Sinh thì tốt nhất, kế đến là tại Tứ Chính

Lộc Tồn Hóa Lộc đồng cung không tốt, chủ về họa đến bất ngờ do tiền tài gây ra

Lộc Tồn mang tính chất tồn đọng, chưa hẳn là tốt (như tại Tử thì chậm con, ít con, tại Phu Thê thì vợ chồng bất hòa, chiếu tốt hơn thủ (thủ bị giáp Kình Đà), hạn VCD có Lộc Tồn thủ thường không tốt

Lộc Tồn thủ Mệnh thì cố chấp, độc đoán, gia trưởng, làm theo ý mình không hỏi người khác, cô đơn

Tam hóa liên châu cư ngoại địa, phúc tất trùng lai (không tai họa trong đời, đời ít tai họa, bệnh tật, tù tội)

Tam Hóa cư từ Dậu đến Sửu thì là mặc áo gấm đi đêm, không tốt bằng tại Dần đến Thân

Tam Hóa liên châu tại Mệnh không tốt bằng Tam Hóa thủ chiếu Mệnh, nhưng cần phải có một sao thủ tại Mệnh mới đẹp

Cũng cần chú ý đến Tam Hóa liên châu tại đại hạn


Cự Môn
Cự Môn chủ về bất đắc chí, bất mãn, thêm Phá Toái thì càng bất mãn, cần có Tuần, Triệt, Song Hao, Thiên Hình...đồng cung.

Cư Thiên Di thì hay nói, hay bất mãn, không bằng lòng, không nên ra nước ngoài dễ bất mãn...

Quan Lộc có Cự Môn gặp Triệt thì làm việc lớn được, việc nhỏ không được, làm trong lúc loạn ly biến động thì rất giỏi, làm thẳng thì không được nhưng làm quanh co, lắc léo, khó khăn thì lại được.

Tử Tức có Cự Môn thì bất mãn về con cái

Cự Môn không gặp Tuần , Triệt , Song Hao.... thì có tài nhưng bất đắc chí


Quả Tú

Mệnh hay Tử Tức có Quả Tú thì thường là con một bề (hoặc toàn là trai, hoặc toàn là gái)


Khốc Hư
Khốc Hư Tí Ngọ, Nữ Mệnh thì tính tình mau mắn, nhanh lẹ, nói nhiều

Mệnh Khốc Hư Tí Ngọ Mão Dậu thì nói mau lẹ, làm mau lẹ, đời gặp may mắn

Khoa gặp Khốc Hư thì học hành nhanh

Khốc Hư hãm tại Tật thì bị ho, ho lao

Hư tại Mệnh thì hay ho, mắc bệnh phổi


Vị trí cung Thân

Thân cư cung nào thì thông thường dễ khổ thân về cung đó, phải lo lắng về điều đó. Thân cư cung nào thi cuộc sống gắn liền với cung đó.

Thân cư Mệnh: không được thừa hưởng di sản cha mẹ để lại. Tính tình cương quyet, không chịu khuất phục trước người khác. Cha mẹ đẻ ra người con có Thân cư Mệnh là dấu hiệu phúc đức bị suy tàn.

Thân cư Tài: khổ vì tiền bạc nghĩa là phải lo lắng về tiền bạc, cung Tài tốt thì cũng khổ, cung Tài xấu thì càng khổ hơn.

Thân cư Di: sống ngoài đường hơn trong nhà, hay phải xa nhà hoặc tuổi nhỏ hay rong chơi ngoài đường, không hay ở nhà. Ly hương.

Thân cư Quan thì bôn ba vật lộn kiếm sống, vợ chồng góp gao thổi cơm chung (cả hai cùng nhau lo về kinh tế), nữ Mệnh dễ hai đời chồng nếu chồng về kinh tế yếu, trừ khi ly hương thì có khả năng giải được

Thân cư Phối: sống nhờ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng chỉ lo ăn không ngồi rồi, hoặc rổ rá chắp lại, hoặc phải lụy vì chồng vợ, hoặc bất mãn vợ chồng, hoặc hai đời chồng. Nếu cả hai vợ chồng đều 
Thân cư Phu Thê thì lại sống lâu bền.

Thân cư Phúc: thì đối phó mặc theo sự may hay rủi tùy theo cung Phúc tốt hay xấu.


Thái Tuế
Thái Tuế thủ Mệnh thì tự hào, hãnh diện về bản thân, làm nghề liên quan đến ăn nói thì tốt nhất (như luật sư, thầy giáo, công an cảnh sát, thẩm phán...)

Thái Tuế mang tính chất tự hào, đóng tại Tử Tức thì tự hào về con cái, hay nói về con mình, tại Phu Thê thì tự hào về chồng hay vợ, hay khoe chồng vợ mình....

Thái Tuế tại Phu Thê thì lấy dễ, lấy nhanh, hài lòng, yêu thực sự....

Lưu Thái Tuế xung chiếu hạn thì dễ vướng vào cãi cọ, thị phi, hoặc kiện tụng...

Có Thái Tuế thủ Mệnh cũng có khả năng là con trưởng


Tang Hổ

Mệnh Tang Môn thì mặt buồn so, hiền lành. Mệnh Bạch Hổ thì có thể xinh nhưng rất dữ, gian nan, đáo để, vất vả, gian truân

Nữ Tang khổ hơn Hổ

Bạch Hổ Nữ Mệnh thì nhiều lo lắng, tại Phu thì khó lấy chồng

Bạch Hổ cư Dậu, Mệnh VCD Nữ Mệnh thì có tiếng tăm, tuy phát về sự nghiệp nhưng tình duyên, hạnh phúc gặp trục trặc, trắc trở

Bạch Hổ tại Phu Thê thì lập gia đình muộn màng, khó khăn

Các tuổi Dần Thân thì tác họa của Bạch Hổ giảm đi


Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
Thiên Giải mang tai họa về tinh thần, Địa Giải mang tai họa về vật chất

Thiên Giải giải mạnh hơn Giải Thần, giải toàn bộ tai họa, tại Tài thì không tốt (giải hết tiền tài)

Song Hao gặp Địa Giải đồng cung thì xấu


Hỏa Linh
Hỏa Linh tại cung Thủy thì không tác họa lắm

Tốt tại cung Mộc và Hỏa

Hỏa Linh cư cung Hỏa, Mộc thì tốt, ăn nói khúc triết, tại cung Thổ thì bình hòa, tại cung Kim thì ăn nói ẩu tả, thô lỗ hoặc cộc cằn....

Hỏa thì bộc phát nhanh. Linh thì phát chậm nhưng lâu bền

Mệnh Linh tinh, nếu có bệnh thì lâu khỏi


Phu thê

Phu thê có Thiên Không Địa Kiếp đủ bộ thì sát phu thê

Phu Thê tốt đẹp thì lập gia đình dễ dàng, vợ đẹp hoặc hiền,vợ chồng tốt...

Vợ chồng hạnh phúc hay không thì coi Nô, chủ về gia đình ăn ở, hoàn cảnh sinh sống

Vợ chồng bỏ nhau hay không thì cần coi thêm Nhật Nguyệt, nếu Nhật Nguyệt hãm thì dễ bỏ nhau, nhưng nếu tại Thìn Tuất thì lại khó bỏ. Âm Dương miếu vượng thì vợ chồng khó bỏ nhau

Lấy vợ bé thường thì phải có Đào, Hồng, Hỉ chiếu, cần Thiên Di có Đào Hoa và Tật Ách có dâm tinh như Tướng ngộ Thai....


Tạp luận

Tuần Triệt đương đầu (xung chiếu Mệnh) thiếu niên tân khổ (vì bệnh, khổ tâm....)

Xem cung Phụ Mẫu thì phải là con trưởng hoặc út thì mới xem rõ được

Không Kiếp tại Tỵ thì phát nhanh, tàn nhanh, tại Hợi phát nhưng còn giữ lại được

Thiên Tài chủ sự cắt giảm, đóng tại Mệnh thì khó làm lớn (vì nghĩa cắt giảm), tại Tật thì lại tốt (cắt giảm bệnh tật)

Tướng Quân chỉ về lãng mạn, gặp Đào Hoa, Mộc Dục, Hồng Loan...chủ về dâm

Thiên Mã gặp Tuần, Triệt không nhảy được như quan điểm của cụ Thiên Lương, và Mã tại Hợi là nơi cùng đường nên phải nhảy

Cự Cơ tối hiềm Hóa Kỵ

Cự gặp Lộc Tồn thì kỵ, bất đắc chí

Cự gặp Kỵ thì bất đắc chí, bất mãn với hoàn cảnh, hay than thở, gặp Lộc Tồn thì càng xấu. Tại Tật gặp Kỵ thì có bệnh khó chữa

Hóa Kỵ hành Thủy, ở cung VCD thì lại tốt

Hung tinh hãm địa thì cũng ăn nhưng ăn vào thời loạn, tranh tối tranh sáng, còn hung tinh đắc địa thì ăn vào cả thời bình lẫn loạn

Hung tinh ăn về hậu vận, về già mới ăn

Tuổi Tỵ Hợi ăn Không Kiếp rất mạnh

Thiên Tài cư tại cung VCD hoặc tại Tật Ách thì lại tốt

Xương Khúc thì ham vui hát hò, văn nghệ..., không hay suy nghĩ, lãng mạn văn nghệ

Đà La thì lãng mạn, âu sầu, lì lợm

Kình Dương là gọng kìm, cần sao chủ vị

Hữu Bật là cây cung, ly hương, lập gia đình thì già kén kẹn hom, làm bé, làm lẽ

Giáp Xương Khúc thì là người ham vui, vì vui mà mang họa

Khi còn bé thì xét sinh khắc giữa cung và Mệnh để biết cha mẹ làm nên hoặc xuống dốc trong thời gian đó

Thiên Thọ (Thọ chủ về lâu dài, bền) ở Tật thì bệnh tật lâu khỏi, bệnh tật triền miên, tại Mệnh thì sống lâu, tại Tài thì tiền của bền vững....

Song Hao làm giảm tác họa của Thiên Không, làm giảm bệnh tật....

Hóa Khoa, Tuần Triệt giải được Thiên Không

Thiên Tướng, Tướng Quân thì dâm

Nữ nhân có Thái Âm lạc hãm thì kinh nguyệt không đều, ít nhất là xảy ra trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và thông thường sinh lý không mạnh, không có nhiều hứng cảm khi làm tình.

Nam nhân có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý yếu hoặc có vấn đề như xuất tinh sớm, không cương cứng, không thể làm tình nhiều lần hoặc thiếu kỹ thuật...

Tóm lại Âm Dương sáng sủa thì cuộc sống sinh lý vợ chồng tốt, một điều kiện đưa đến hạnh phúc.

Âm Dương đồng sáng sủa thì vợ chồng khó bỏ nhau, thông thường thì vợ chồng tương đắc trừ khi gặp sao khắc kỵ với Âm Dương. Âm Dương sáng sủa tại Thìn Tuất thì vợ chồng tương đắc về sở thích nhưng hay tranh cãi nhau. Âm Dương lạc hãm là một điều kiện để vợ chồng dễ xung khắc, dễ bỏ nhau, xa cách hoặc chia ly

Âm Dương đồng tranh Sửu Mùi: vợ chồng thông thường không nhường nhịn nhau, tranh đua nắm thế thượng phong, từ đó dễ đưa đến bất hòa, vợ muốn lấn chồng, chồng muốn lấn vợ

Mệnh giáp Âm Dương lạc hãm thì vợ chồng dễ xa cách hoặc chia ly, nếu gặp Tuần Triệt thì cũng bỏ nhau nhưng bỏ chậm

Hạn rơi vào Âm Dương thủ hạn cũng quan trọng, thông thường dễ liên quan đến chồng hoặc cha nếu gặp Thái Dương, và mẹ hoặc vợ nếu gặp Thái Âm

Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại vấn vương về tình cảm

Cung Tật có Âm Dương dù đắc hay hãm cũng dễ có tật về mắt như mắt bị cận thị, yếu

Âm Dương sáng sủa thì cha mẹ thông thường thọ, còn lạc hãm thì không thể kết luận về thọ yểu

--------------------------Hết phần ghi chép của Agape---------------------------------------------

Phần kinh nghiệm của Lê Quang Lăng

1, Mệnh lục hại với Tật cần phối Triệt Tuần Không Vong.

2/ Với người lớn cần xét lục sát bại tinh đóng đâu. Nhất Mệnh-nhị Thân,Tam Phúc,tứ Tật. Mệnh hảo thân tốt ắt thọ trường,không lo đại nạn. Mệnh dính lục sát vận đến sát tinh cũng nguy hiểm. Ngũ hành mệnh, ngũ hành tam hợp vận và ngũ hành tam hợp mệnh tài quan cần phối chiếu quan sát kỹ. Hạn đi đến những nơi đất xấu cũng cần đề phòng rủi ro. 

Tử Vi chia bộ hạn ra làm vài trăm loại. Mỗi loại một mối hiểm nguy. Hạn đến Thương Sứ Hình Hổ thì hết thọ dương thế. Hạn đến Tang Hổ Âm Dương Kỵ kiết mã đà ắt tang cha mẹ....! Hạn đến cung nào, Tuế động đâu ắt sinh chuyện nơi đó. Hạn động do Tuế, hạn tĩnh do Tang. Mã thì dịch và dính tay chân, Kỵ mệnh di vào trục ấy ắt bị oan khiên, tang lưu ắt kiện tụng lao lý, Âm Dương đau yếu, Cơ tinh quặt què, Tham hạn do súc vật gây nên, Sát hạn vong thương, Phá hạn hao tài, Liêm hạn khốn tắc bí cùng, Phủ hạn lao đao, Cự hạn tán tài tiếng tai, Linh Hoả trùng phùng lao đao cùng cực, Đồng hạn ắt chạy khắp nơi, Hồng Hỷ Loan Long ắt có tin mừng con cái, Tứ đức nhập hạn ắt có bầu sinh con....

Đại vận mà tốt ắt ít hoạ tang thương
Đại vận mà xấu hung hoạ nhiều thêm
Chia cắt phần ba đại vận,lấy ngũ hành làm tiên chỉ. Vạn sự bổ mệnh,mệnh gốc làm chính ắt tìm ra nguyên sự sâu xa.
Âm dương tại mệnh cần vận xương khúc
Cơ Lương tại mệnh cần Khoa Quyền ứng cứu
Tham Liêm Sát Phá cần linh hoả
Cơ Cự Đồng cần quang quý
Tử Tướng vào vận cần lộc mã
Mệnh cư mộ vị cần hoá kỵ phản vi
Mệnh nơi Tứ chính cần hồng hỷ vẫy vùng
Thiên Đồng tối vi cần tứ đức tả hữu sinh lai
Cự Môn tối cần Hoá Lộc Vũ Sát vào hạn-tối kỵ thái tuế động cung
Thái Dương tối cần ấn cáo
Thái Âm tối cần nguyệt đức
Thiên Tướng tối cần Mã Khoa Văn Phượng
“Hạn đến Hình Kỵ lo âu
Gặp nơi Thương Sứ bắc cầu sang âm
Tướng quân ngộ triệt ở gần
Hạn vào đến đó, đầu trần lìa đôi”

----------------------------------------------------------------


I. Cần tuần triệt:
1. Tất cả các chính tinh hãm địa trừ sao Thiên Tướng đều cần tuần triệt
2. Lục sát tinh hãm địa cần tuần triệt, thiên hình, hoá kỵ hãm cần tuần triệt
3. Cung tật ách bất kể sao gì cũng cần tuần triệt để hoá giải bệnh tật
4. Phụ tinh tướng quân , quốc ấn tối kỵ tuần triệt
5. Cung vô chính diệu
6. Các bộ chính tinh đặc biệt cần tuần triệt mới tốt là :
- Cự môn độc thủ ở mọi vị trí
- Cự môn , thiên cơ mão dậu
- Cự cơ tý ngọ ( tuần triệt đóng ở vị trí của thiên cơ hoặc cự môn đều được)
- Thiên cơ, thiên lương thìn tuất
- Cơ lương sửu mùi ( tuần triệt đóng vào vị trí của thiên cơ hoặc thiên lương đều được )
- Vũ tham sửu mùi
- Phá quân thìn tuất
- Đồng Cự sửu mù. Tuần triệt thì cực tốt cho bộ đồng cự sửu mùi , khi ấy đương số sẽ ăn được cái giác quan thứ 6 của sao thiên đồng , ăn được cái khôn ngoan , khôn nói của sao cự môn .
II. Không bị ảnh hưởng bởi tuần triệt:
1. Những sao thuộc vòng tràng sinh
2. Sao lộc tồn
3. Tam hoá khoa quyền lộc
4. Bộ sao tứ đức : thiên đức , phúc đức , nguyệt đức , long đức
5. Bộ Ân quang thiên quý
6. Bộ sao tam giải : Thiên giải , địa giải , giải thần
7. Sao thiên đồng đắc vượng miếu . Nhưng thiên đồng hãm cực cần tuần triệt
*** Tuần triệt tác dụng cả đời

1/ Tam giải thì tự nhiên nó giải, dù bạn có làm việc xấu. Quang quý thì làm việc xấu sẽ mất tác dụng. Quang quý làm việc thiện thì sức giải là siêu đẳng.

--- Sưu tầm-----

Cách xem hạn của Agape

A. Vấn đề sinh khắc
Cứ tương sinh (sinh nhập, sinh xuất) là tốt, tương khắc (khắc nhập, khắc xuất) là xấu
Trong các hành thì hành Thổ có ưu điểm hơn là cho dù bị khắc nhưng cũng đỡ hơn
Dương Nam (+, + => +), Âm Nữ ( -, - => +) thuộc Dương (người Dương), đi đến cung Âm (Sửu , Mão, Tỵ....) thì ăn mạnh (nếu tốt thì tốt thêm, tốt gấp hai, xấu thì xấu hơn, xấu thì xấu gấp hai), đi đến cung Dương thì ăn yếu (tốt thì không tốt nhiều, xấu thì không xấu thêm)
Âm Nam (-, + => -), Dương Nữ (+, - => -) thuộc Âm (người Âm), đi đến cung Dương thì ăn mạnh, đi đến cung Âm thi ăn yếu hơn
Dương Nam, Âm Nữ thuộc Dương, đi đến cung Âm (từ Tuất đến Dần, ban đêm) thì ăn mạnh hơn khi đi đến cung Dương (từ Mão đến Dậu, ban ngày)
Âm Nam, Dương Nữ thuộc Âm, đi đến cung Dương thì ăn mạnh hơn đi đến cung Âm
Nguyên tắc này được vận dụng khi coi đại vận, tiểu vận, vị trí cung Mệnh!
Ví dụ người Âm Mệnh đóng tại cung Dậu (Âm) thì không ăn mạnh, nhưng cũng được gỡ phần nào do cung Dậu thuộc Dương (phân theo trục Mão Dậu)
Ví dụ Âm Nam Mệnh đóng cung Thìn thì tốt hơn cung Tuất
Hỏa và Kim thuộc Dương, Thủy và Mộc thuộc Âm. Như vậy Mệnh Thủy, người Dương (Dương Nam, Âm Nữ) thì ăn hơn người Âm (Âm Nam, Dương Nữ).

B. Xem đại hạn (đại vận)
Cung là hoàn cảnh nuôi bản Mệnh
Khi xem thi sự sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh quan trọng hơn chính tinh nhập hạn có hợp hay không (chỉ ảnh hưởng 30%)
Sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh:
Đồng hành thì ăn 100%
Sinh nhập thì được hoàn cảnh nuôi dưỡng, ăn 90%
Sinh xuất thì vất vả, phải chạy theo hoàn cảnh, nuôi dưỡng hoàn cảnh (ăn 60%)
Khắc xuất thì tuy chống đối hoàn cảnh nhưng vẫn vượt qua được (ăn 30%)
Khắc nhập thì bị hoàn cảnh chống đối không cho hoạt động (không ăn gì cả 0%)

Ngoài ra nếu trên 37 tuổi thì xét thêm tương quan giữa hành cung và hành Cục để biết thêm hoàn cảnh có tốt hay không

Chú ý: hành của cung tính toán trên hai cơ sở kết hợp: hành chính cung và hành tam hợp cục (ví dụ cung Tí hành Thủy vì chính cung là Tí hành Thủy, tam hợp Thân Tí Thìn hành Thủy, còn cung Sửu thuộc Thổ đới Kim vì cung Sửu hành Thổ, tam hợp Tỵ Dậu Sửu hành Kim. Như vậy cung Tỵ là Hỏa đới Kim, nếu Mệnh Hỏa thì ăn 70%, Mệnh Kim thì ăn 30%, cung Ngọ hành Hỏa, Mệnh Hỏa ăn 100%)

Chính tinh đắc địa nhập hạn quan trọng hơn chính tinh hợp Mệnh. Đắc mà không hợp Mệnh thì cũng hơn hãm mà hợp Mệnh
Đắc nếu hợp Mệnh thì ăn 100%, nếu không hợp thì cũng còn ăn 40%
Hãm và không hợp Mệnh thì không ăn, nếu hãm mà đồng hành thì cũng ăn vì là của mình
Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ)
Người chính diệu đi vào hạn VCD thì lao đao ít hơn người VCD đi vào hạn VCD
Người VCD đi vào hạn có hung tinh đắc địa độc thủ thì phát. Gặp Không Kiếp Tỵ Hợi người tuổi Tỵ Hợi thì phát mạnh, nếu Mệnh Kim thì càng ăn mạnh
Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đi vào hạn Sát Phá Tham thì xấu (Trúc La hạn)

C. Xem tiểu hạn (tiểu vận)
Đại hạn tốt nếu tiểu hạn có xấu cũng hưởng 50%
Xem tiểu hạn khi xét sao thì chỉ quan trọng sao thủ trong cung. Các sao chiếu phải là sao đôi (như Khôi Việt, Quang Quí)
Sao chính chiếu quan trọng. Sao tam hợp không quan trọng
Cung nếu có Tuần, Triệt thì chiếu mạnh hơn (Triệt: câu vào, Tuần: đẩy ra), nhất là cung Vô Chính Diệu, nếu không có Tuần Triệt thì chiếu ăn 30%
Cung tiểu hạn là cung lưu Mệnh. Mệnh rơi vào cung nào thì cung đó quan trọng, dính dáng đến cung đó (ví dụ tại Tử Tức thì vấn đề con cái quan trọng) (cách xem này đang khác với trường phái tứ hóa phái lấy Lưu Thái Tuế làm Lưu Mệnh, và của nhiều tử vi gia Việt Nam lấy Lưu Đại Vận làm Lưu Mệnh)

D. Lưu niên đại hạn (LNĐV) cũng quan trọng
Xem thêm cung có sao lưu Thái Tuế (ví dụ vào Phu Thê thì vợ chồng bất hòa? vào Điền Tài thì tranh chấp về Tài Sản? vào cung Tử thì đẻ con, khai sinh?)
Cần xem sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh để xét hoàn cảnh có nuôi dưỡng mình không?
Cần xét thêm sinh khắc giữa hành năm nhập hạn và hành Mệnh để biết tăng độ số hoặc giảm độ số (thêm hanh thông hoặc thêm trắc trở)

Trên 37 tuổi còn xét tương quan giữa hành Cục và hành sao tại cung Thân
Tiểu hạn là năm tam hợp với tuổi thông thường thì đàn bà tốt, đàn ông xấu, nếu là năm xung thì đàn bà xấu, đàn ông tốt (nhưng gặp xấu trước rồi mới tốt)
Vào năm xung lấy nhau thường dễ gặp khó khăn. Vào Năm tam hợp nếu gặp Đào Hồng Hỉ hoặc Tả Hữu Âm Dương đúng thế thì dễ lấy
Người Mệnh Âm thì ăn mạnh sao Dương hơn sao âm....

E. Cách xem tiểu vận

a) Có biến cố tốt, trọng đại xảy ra trong năm : Đẩu Quân
b) Thi đậu, thăng tiến công danh, làm ăn tốt : Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa
 Quyền Lộc, Long Phượng Hổ Cái, Mã ngộ Tràng sinh, Mã Khốc Khách, Đào
Hồng Hỉ , Phong Cáo, Quốc Ấn, Lưu Niên Văn Tinh..v.v..
c) Tình yêu, lập gia đình : Long Phượng Hổ Cái, Đào Hồng Hỉ, Thanh Long,
Riêu Y, Mộc Dục, Thai, Liêm Tham...v.v..
d) Vận tù tội : Sát Hình Phá, Liêm Hình, Liêm Phá + Sát tinh, Liêm Tham Tỵ
Hợi + Sát tinh, Bạch Hổ + Đường Phù và nếu thêm Thiên Không, Không
Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát thì càng rõ hơn...v..v..
e) Vận phát tài, làm giàu : Tham Vũ Lộc đồng cung, Lộc Mã, Song Lộc, Kiếp
Không Miếu ở Tỵ Hợi, Hỏa Linh Miếu, Sát Phá Tham Miếu Vượng Đắc
hợp với mệnh..v..v.
f) Vận tán tài : Song Hao hãm, Kình Đà..v..v..
g) Phát và Tán : Song hao Miếu..v..v.
h) Vận thay đổi : Thiên Mã, Thiên Đồng...v...v..

Khi xét Lưu Niên Tiểu Vận thì cũng xem ảnh hưởng của các sao lưu động vận hành trên các cung tùy theo từng năm xem hạn. 9 sao lưu động gồm Lưu Thái Tuế, Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ, Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, Lưu Lộc Tồn, Lưu Kình Dương, Lưu Đà La, Lưu Thiên Mã.

- Lưu Thái Tuế : lưu Thái tuế tại cung nào thì kích động cung đó cho nên phải lưu ý đến cung đó. Mọi sự việc trong năm hay hoặc dở , xem hạn đều có liên quan mật thiết đến cung có Lưu Thái Tuế. Ví dụ Lưu Thái Tuế tại Tuất là cung Quan lộc, vậy trong năm Tuất những sự hay dở xảy ra đều có liên hệ đến cong danh sự nghiệp hay công việc làm ăn. Lưu Thái Tuế gặp nhiều sao sáng sủa đẹp đẽ thì hạn tốt đẹp may mắn, nếu gặp nhiều sao xấu mờ ám thì hạn xấu.

- Lưu Tang Môn Bạch Hổ : Cung nào có Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ gặp nhiều sát tinh hay bại tinh thì trong hạn sẽ gặp nhiều sự chẳng lành như ốm đau, tang tóc. Nguy hiểm nhất là Lưu Tang môn gặp Tang Môn cố định hay Lưu Tang Môn gặp Tang Môn đồng cung. Gặp trường hợp này nếu gốc Đại Vận xấu và không gặp sao giải lại mà gặp thêm nhiều sao xấu, tiểu hạn cũng xấu nếu không gặp sao giải thì tất ốm nặng có thể đi đến chổ mạng vong.

- Lưu Thiên Khốc Thiên Hư : Lưu Tang Hổ Khốc Hư cho biết những việc phải lo lắng, phiền não, ốm đau, buồn thương xảy ra tại các cung mà có các sao lưu này hội tụ. Cũng như Lưu Tang Môn Bạch Hổ, nguy hiểm nhất là lưu Thiên Khốc gặp Thiên Khốc đồng cung, lưu Thiên Hư gặp Thiên Hư đồng cung thì khó tránh được bệnh nan y hay tai ương bất ngờ nếu không gặp nhiều sao tốt đẹp cứu giải. Bộ sao Tang Mã Khốc Hư có vai trò rất quan trọng trong việc luận đoán sự sống chết nữa. Đôi khi bản thân lo buồn thì do thân nhân thường có nạn, khi thân nhân lo buồn thì chính bản thân cũng do gặp nạn.

- Lưu Lộc Tồn Kình Dương Đà La : Nếu Lưu Lộc Tồn gặp nhiều quí tinh, quyền tinh sáng sủa đẹp đẽ hội hợp nhất là gặp Lộc Tồn và Thiên Mã cố định thì mọi sự trong hạn đều hưng vượng hanh thông nhưng nếu gặp nhiều sát tinh và bại tinh như Không Kiếp Song Hao thì gặp nhiều bất mãn, phiền muộn , hao tán tiền bạc. Nếu Lưu Kình Dương và Lưu Đà La gặp Kình Dương và Đà La cố định đồng cung thì khó tránh được những tai nạn khủng khiếp. Đáng ngại nhất là Lưu Kình Dương hay Lưu Đà La gặp nhiều sát tinh hay bại tinh cũng gặp tai họa trong hạn nếu không gặp cát tinh cứu giải.

- Lưu Thiên Mã : Lưu Thiên mã chỉ sự di chuyển, hoạt động. Lưu Thiên Mã tại cung nào thì trong hạn có sự thay đổi hoặc có sự di chuyển liên hệ đến cung đó. Ví dụ: Tiểu vận năm Bính Tuất lưu Thiên Mã tại cung Thân là cung Phu Thê. Vậy trong năm Tuất có sự di chuyển, thuyên chuyển hay thay đổi nghề nghiệp có liên quan đến vợ hay chồng. Ngoài ra, nếu Thiên mã gặp Triệt, Thiên hình, Đại Tiểu vận xấu thì dễ xảy ra tai nạn, chia ly có liên quan đến cung có lưu Thiên mã rơi vào. Nếu Đại Tiểu vận tốt, Thiên mã không gặp Tuần Triệt thì có chuyện di chuyển, du lịch vui vẻ.

Thiên Mã Lưu Niên là con sao thường đem lại sự thay đổi quan trọng và ứng nghiệm mạnh mẽ hơn cả con Thiên Mã cố định. Bởi vậy khi gặp Tiểu hạn có Thiên Mã cố định đừng vội cho ngay là có sự thay đổi về nhà cửa, xe cộ hoặc sự di chuyển về mình hoặc cho thân nhân vì Thiên Mã cố định không ảnh hưởng gì nhiều đến hạn.

Lưu Lộc Tồn: Khi Lưu Lộc Tồn nhập vào Tiểu hạn thì đừng vội cho là có tiền ngay. Nhưng phải cần xem xét Tài Lộc đến ai mà là người được hưởng và tới bằng cách nào. Mình sẽ được hưởng khi Lưu Lộc Tồn nhập vào hạn liên quan đến những cung trực tiếp với mình như Mệnh Thân, Quan Tài Phúc Điền và còn phải ứng hợp với 1 Đại Vận thuận lợi nữa hoặc ít ra Mệnh Thân có yếu tố hoặc môi trường để được hưởng.
Trường hợp Lưu Lộc Tồn nhập vào cung Phụ Mẫu hay Huynh Đệ thì ít khi ta hưởng được tài lộc, nếu có thì may mắn lắm được hưởng gián tiếp khi cung nhập hạn có thêm Đào Hồng Hỷ, Thiên Quan, Thiên Phúc Quý Nhân, được như thế thì Cha Mẹ hay Anh Chị Em cho chút ít để xài.
Lưu Lộc Tồn gặp Lộc Tồn cố định không tốt bằng cách xung chiếu như thế tiền bạc sẽ dồi dào hơn vì do tiền cứ luân chuyển làm tiền sinh ra tiền, chứ hai lộc gặp nhau ở một cung thì giống như tiền bỏ vào quỷ tiết kiệm cùng lắm chỉ ăn được tiền lời thôi. Ngoài ra Lộc Tồn cần gặp Lưu Thiên Mã chứ không cần gặp Thiên Mã cố định vì Lộc Tồn tượng trưng cho tiền bạc hàng hóa nếu đem chất lên một chiếc xe không chạy đi đâu thì thật là vô ích.
Có trường hợp Lưu Lộc Tồn đóng cung Tài Bạch gặp Lộc Tồn cố định ở cung Phúc Đức xung chiếu là những cung liên quan trực tiếp đến mình mà năm đó vẫn chẳng có chút lộc nào để hưởng là vì Mệnh có Địa Kiếp hội với Phá Quân, tưởng năm đó số mình được hưởng nhưng lại không phải vì cả năm đi lãnh tiền về để phân phát cho thiên hạ mà mình trái lại chẳng hưởng được đồng nào.

Lưu Kình Dương
Khi thấy sao Kình Dương hầu hết mọi người đều sợ dù nó đóng cố định hay nhập hạn vì bản chất của nó dể đưa đến chuyện xui xẻo chẳng lành. Nhưng theo kinh nghiệm cho thấy dù nhập hạn gặp Kình Dương cố định chưa có gì đáng ngại cho lắm trừ khi có thêm nhiều yếu tố ác sát tinh khác tăng cường. Ngược lại, khi Tiểu hạn có Lưu Kình Dương đóng ở 4 cung Tí Ngọ Mão Dậu dù không có thêm yếu tố xấu khác vẫn thường có chuyện không hay xãy ra, nặng hay nhẹ còn tùy thuộc vào sự chế hóa của cung nhập hạn hay từ cung tam hợp mà ảnh hưởng đến chính mình hay cho thân nhân.
Ta có thể ví sao Kình Dương cố định như một tên trộm vác cuốc đi đào mệt quá đang ngủ , còn Lưu Kình Dương như một tên trộm khác đang thức vác cuốc đi đào đất ăn cướp vàng . Như vậy, tên trộm đang ngủ không nguy hiểm bằng tên trộm đang thức để đào đất. Tuy nhiên, khi Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định như tên trộm đang thức làm cho tên trộm đang ngủ tỉnh dậy cùng họp sức khiến cho sức phá hoại càng mạnh mẽ ác liệt thêm. Còn trường hợp Kình Dương cố định gặp Kình Dương xung chiếu thì đừng tưởng rằng sự nguy hiểm giảm bớt đi nhưng trái lại còn đáng lo ngại hơn vì cả hai đang ở thế gọng kìm hoặc 2 mặt giáp công khó có đường mà tẩu thoát. Còn nếu Lưu Kình Dương ở cung xung chiếu không gặp Kình Dương cố định thì vẫn cẩn thận như thường vì ảnh hưởng của nó vẫn mạnh mẽ dù ngay cả khi nó nhập hạn ở vào 1 trong cung tam hợp thì cũng vẫn có ảnh hưởng chút đỉnh. Nếu chẳng may Tiểu hạn rơi vào cung Thìn Tuất tức La Võng Chi Địa hội thêm Cô Quả Hình Linh thì thực là đại họa.
Khi Lưu Kình Dương nhập hạn coi thử có ảnh hưởng đến mình hay cho thân nhân thì nhận định như sau :
Ví dụ Tiểu hạn đi đến cung Tật Ách có Lưu Kình Dương ngay tại cung này. Nếu Đại Hạn không nhìn thấy liên quan đến cung Tật Ách và Mệnh thì đương số gần như an toàn nhưng cha mẹ, anh chị em bị ảnh hưởng vì cung Phụ Mẫu ở thế xung chiếu và cung Huynh Đệ ở thế tam hợp. Nếu thấy cung Phụ Mẫu có nhiều yếu tố khác xấu hơn cung Huynh Đệ như bị Lưu Tang Môn, Lưu Khốc Hư thì cha mẹ gánh chịu. Cũng trong trường hợp này nếu Mệnh đương số xấu, Đại Hạn cũng xấu mà Lưu Kình Dương nhập hạn vào những cung liên quan đến mệnh thì đương số lãnh đủ hết ảnh hưởng của Kình Niên và ít khi cha mẹ hoặc anh chị em bị chịu lây.
Trong trường hợp Tiểu hạn đi đến cung Điền Trạch nếu có Lưu Kình Dương nhập hạn mà Đại Tiểu hạn không trùng phùng thì dù mệnh đương số không tốt cũng không đáng lo ngại vì cung Điền trạch không gây trực tiếp đến cho bản Mệnh mà trái lại gây ảnh hưởng đến cung Tử Tức và cung Huynh Đệ. Lúc đó chỉ cần coi cung Tử Tức và Huynh Đệ cung nào chịu ảnh hưởng khắc xấu trong năm mà xét đoán. Nếu cung Tử Tức có Kình Dương cố định trong khi cung Huynh Đệ có Quan Phúc, Hóa Khoa, Khôi Việt thì chắc chắn con cái bị ảnh hưởng nguy hiểm còn anh chị em thì không việc gì.

Lưu Niên Đại Vận
Khi xem, phải xem gốc Đại vận chủ về cái gì rồi Tiểu vận một năm ăn từ gốc ấy mà ra. Thí dụ vào Đại Vận phát tài thì các Tiểu hạn hướng về phát tài, Đại vận chủ về công danh thì các Tiểu hạn hướng về công danh. Xem gốc Đại vận phải cộng cung chính và 3 cung xung hợp chiếu.
Nhìn vào lá số thấy các Tiểu vận dàn ra trên 12 cung và cứ 12 năm lại gặp lại một lần không lý các diễn biến lại diễn ra đúng như trước?? Dỉ nhiên là không phải như vậy. Vận số một năm như thế nào là do cung của Tiểu vận cho biết nhưng còn tùy thuộc vào Mệnh và Phúc đức cùng những cung chính và cũng tùy theo Đại vận nữa. Một trong những cách giải đoán vận hạn một năm là nhập các sao Tiểu Vận và Đại Vận vào mà giải đoán.
Khi xem hạn cần phải xem Lưu Niên Đại Vận nữa. Lưu Đại Vận là một cung cho biết cái hướng của vận hạn trong năm đó và tính từ gốc Đại vận giống như người tài xế lai xe hay dở thế nào. Vậy phải nhập cung Lưu Niên Đại Vận vào mà giải đoán. Xem Lưu Đại Vận cũng phải đủ cung chính và 3 cung xung hợp chiếu. Khi phối hợp Tiểu Vận một năm với Lưu niên Đại Vận một năm để xem. Tiểu vận một năm cho biết diễn biến của sự việc, còn Lưu Niên Đại Vận cho biết kết quả của sự việc

Luận Sắc Không trong Tử Vi

Luận Thiên Không

Thiên Không hiểu theo triết lý nhà Phật mang ý nghĩa “sắc sắc không không”. Thiên Không là "Mục không nhất thiết" nghĩa là không màng chuyện đời hay không coi chuyện đời ra gì, nhưng khi đảo ngược thì lại thật tha thiết với chuyện đời để chuyển thành mưu chước thủ đoạn.

Thiên Không luôn đi cùng Thiếu Dương và hợp cùng tứ Đức. Thiếu Dương và Tứ Đức đại diện cái Thiện. Mặt khác, Thiên Không luôn luôn có Đào Hoa và hoặc Hồng hoặc Hỉ hội tụ. Bộ ba Đào Hồng Hỉ chính là đại biểu "sắc". Bởi thế nên nội tâm người TK luôn bị dằn vặt của sắc và không.


Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ), không trừ một ai, không kể thời gian tuổi tác, nó đến để làm tình làm tội hay để tôi luyện con người thành Đức Hạnh hơn còn tùy thuộc vào nhân quả và nhận thức của từng cá nhân.

Vào hạn Thiên Không là hạn quả qua những năm tháng gieo nhân. Như vậy sao Thiên Không chủ sự đáo hạn (cái chết cũng là đáo hạn của cái sống), đến hẹn, những gì có tính hạn kỳ thì nay xuất hiện, hạn kết thúc, hạn mở ra con đường mới. Vì mình được sinh ra, được thành thân này nên nói tấm thân này của mình cũng đúng, nói là của cha mẹ cũng đúng.

Người ta thường nghĩ nặng chữ KHÔNG trong sao Thiên Không nên sợ đủ thứ, nhưng thật ra trước khi nó là KHÔNG thì phải là cái CÓ trước, Có để mà Không. Tất cả những gì đã lâu không giải quyết được hoặc ta đã quên, hoặc nó nằm im lâu ngày thì vào hạn Thiên Không sẽ xuất lộ, kể cả việc ly hôn, chữa bệnh, trả nợ, vay mượn, lục lại hồ sơ cũ, tìm hoặc gặp người hoặc vật đã bị thất lạc ... tức cái Có của cái Không cũ xì nó tới.


Mệnh có Thiên Không + Hồng Loan là người có tư cách thanh cao, thích an nhàn, ẩn dật, và khuynh hướng xa lánh trần tục rất rõ ràng. Hai chữ “không hồng” với quan niệm triết lý của nhà Phật, phải chăng là không vướng bụi hồng trần? Người Hồng Không là người ít màng chuyện đời, muốn tìm nơi vắng vẻ mà tu, hoặc sống nhiều với nội tâm, thích đóng cửa đọc sách, cô quạnh hay tự đặt mình, làm cho mình cảm thấy cô quạnh kể cả ở nơi đông vui.
------------------------

Luận Đào Hoa

Bộ Thiên Không Đào Hoa đồng cung: chủ họa đến bất ngờ, nhanh chóng

Ví dụ: tại Di thì ra đi bất ngờ, làm gì cũng bất ngờ, tại Tật Ách thì chết bất đắc kỳ tử, chết vì đau tim bất ngờ, tại Điền thì mất nhà cửa bất ngờ, tại Tài thì vỡ nợ, bị giật tiền...., tại Quan Lộc thì quan trường gãy đổ bất ngờ, tại Tử Tức thì con cái chết bất ngờ tuổi thanh xuân, tại Nô thì vợ chồng chia tay bất ngờ, tại Huynh Đệ thì có anh chị em chết bất ngờ. Hạn gặp Không Đào thì xui xẻo tới bất ngờ, ví dụ như Không Đào tại Nô thì đề phòng chồng chết bất ngờ vì tim mạch, bạn bè chơi với nhau không bền....

Một điểm đặc biệt khi coi phu thê là cung phu thê chỉ cho ta coi hoàn cảnh khi gặp gỡ, còn khi sống chung đã thành lập gia đình thì phải coi cung Nô làm quan trọng hơn. Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng bay bướm... Coi ly dị khi vợ chồng đã có con thì coi cung Nô, ví dụ như Âm Dương lạc hãm cách cung và chiếu Nô thì hai đời....

Đào Hoa Thiên Không đồng cung: hoa rơi
Đào Hoa Địa Kiếp đồng cung: hoa héo
Đào Hoa thuộc Mộc, Mộc Dục thuộc Thủy, gặp nhau thi độ số gia tăng
Đào Hoa cư Dậu thì duyên phận bẽ bàng, cư Tí thì lẳng lo, cư Mão thì tốt đẹp

Đào Hoa tại Mệnh thì xấu (mê trai, gái), chiếu Mệnh mới đẹp (người khác mê mình). Gặp Thiên Không đồng cung càng xấu thêm. Đào Hoa cư Mão đẹp nhất (có duyên, lập gia đình sớm, tươi tắn...), kế đến là cư Ngọ (nhưng kỵ gặp Tử Vi đối với Nữ Mệnh). Còn tại Dậu và Tí thì xấu. Tại Dậu thì như hoa héo, là cách lấy vợ thừa, thất tiết, không đứng đắn, hoặc về già mới lập gia đình, lấy trễ. Xấu nhất là gặp Không Kiếp, kế đến gặp Linh Hỏa. Gặp Tuần Triệt ví như hoa bị ngắt. Gặp Thiên Hình Không Kiếp thì bị bề hội đồng. Đào Hoa tại Tí gọi là phiếm thủy, chủ dâm dật, đàn bà thì lãng mạn, dễ mắc vào tình ái, nếu gặp Thiên Không đồng cung thì tuy thông minh nhung đường chồng con không khá, bị chồng bỏ... 

Trên 50 tuổi nếu Đào Hoa thủ hạn thì cần chú ý vì dễ bị bệnh nặng, chiếu hạn thì không sao,chỉ bị bệnh mà thôi. 

Tử Vi cư Ngọ gặp Đào Hoa đồng cung, đối với Nữ Mệnh gọi là Đào Hoa phạm chủ, chủ dâm dật, chỉ cách lấy nhau trái luân thường đạo lý như cách thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau....

Đào Hoa cư Nô thì đàn ông mới xấu (lấy tớ).

----------------------------------------------------

Sao Đào Hoa ở mỗi cung khác nhau, có ý tượng rất khác nhau:

Đào Hoa ở cung mệnh đã có tư tưởng lại cũng có hành động;

Đào Hoa ở cung tử tức thì nghiêng về việc trọng sắc dục;

Đào Hoa ở cung phu thê tất nghiêng về luyến ái bên ngoài;

Đào Hoa ở cung tật ách tất nghiêng về mặt quan hệ xác thịt, đụng chạm;

Đào Hoa ở cung phúc đức tất trọng về mặt cảm quan tinh thần;

Đào Hoa ở nô bộc tất là có ham mê về các tình cảm khuyến dụ từ bên ngoài.

Đào Hoa Có Chia Nội Đào Hoa Và Ngoại Đào Hoa.

Nội Đào Hoa chủ sự lãng mạn trong đời sống vợ chồng, sự sinh hoạt cũng thường xuyên, như các sao Xương Khúc.

Ngoại Đào Hoa tất là chủ các quan hệ luyến ái ngoài hôn nhân, như các sao Thiên Diêu, Hàm Trì.

Gặp Đào Hoa mà đưa đến phá tài, mang tiếng xấu, điều xấu, hôn nhân bất lợi, gọi là “Đào Hoa Kiếp”. Đào Hoa gặp Không,Kiếp, Đại Hao, hoặc gặp xung Tài Lộc Tinh, dễ phát sinh “Đào Hoa Kiếp”.

Đào Hoa mà đưa đến Quan Tư Tù Ngục, gọi là “Đào Hoa Sát”. Đào Hoa Tinh gặp Dương Đà Hình Bạch Hổ Quan Phù Phá Toái cũng coi là các tổ hợp đưa đến tù ngục hình hại, nó rất dễ sinh ra “Đào Hoa Sát”

Cung Phu Thê có Mộc Dục, Hàm Trì, chủ Đào Hoa có tính thực dụng (Nhục Dục Đào Hoa); Liêm Tham Tỵ Hợi (Nam Nữ đồng luận như nhau) hội thêm Sát Tinh, thì đó là Đào Hoa Nhục Dục hoặc thực dụng. Tham ở Hợi Tý gặp Dương Đà là “Đào Hoa Phiếm Thủy”(Bèo dạt mây trôi), cũng là một loại Đào Hoa Nhục Dục; Liêm trinh hội Hàm Trì lại hội Văn Khúc, là Đào Hoa mang tính tinh thần (Tức chỉ mang tính bạn bè mà không có sắc ái tình); Tham Lang hội Đà La là rất mực Phong Lưu, là Nhục Dục Đào Hoa, chủ có việc về tửu sắc; Đồng Cự hội Văn Khúc, là Đào Hoa Tinh Thần, nữ mệnh có thể nghiêng về Đào Hoa thực dụng; Liêm Cự hội Thiên Diêu, dễ có Đào Hoa thực dụng; Hồng Loan hội Thiên Diêu, là Chân Đào Hoa vậy(Mang tính thực dụng).

Đào Hoa = Đời sống tình dục; Hồng Loan = Cuộc sống hôn nhân và sự thủy chung; Thiên Hỷ = Cưới Hỏi và Sinh nở

-----------------------------------------------------------
Sưu tầm: Agape & others


Thứ Ba, 7 tháng 5, 2019

Nghiệp trong tử vi

Trước hết, về các sắp xếp các cung trên lá số Tử Vi, chúng ta thấy các cung này được sắp xếp theo chiều ngược kim đồng hồ. Tại sao vậy? Các nhà huyền học quan niệm nghiệp hữu bao gồm nghiệp chướng, phát xuất từ tiền kiếp, nên phải đi ngược trở lại vòng thời gian mới có thể khám phá ra nghiệp thế hữu trong cuộc sống hiện hình của con người. Do đó, trên lá số, tiến trình của một cuộc đời đã được sắp xếp theo cách vận hành ngược chiều kim đồng hồ. 
Như đã nói ở trên, lá số Tử Vi bao gồm cả tiền kiếp, hiện kiếp lẫn hậu kiếp nên cung khởi đầu trên lá số là cung Phúc Đức chứ không phải cung Mệnh như nhiều người thường tính. Cung Phúc Đức biểu tượng cho tiền kiếp và dòng họ. Từ dòng họ phát sinh ra Phụ Mẫu, Phụ Mẫu sinh ra đương số là Mệnh. Sau Mệnh là Huynh Đệ (anh em) rồi mới đến Phu Thê (vợ chồng). Có Phu Thê rồi mới có Tử Tức (con cái). Đó là phần nôi vi chủng thể. Kế đến là phần ngoại vi tiếp thể, bào gôm Tài Bạch (của cải), Tật Ách (họa, phúc, an nguy), Thiên Di (giao dịch với bên ngoài), Nô Bộc (tương quan với bên ngoài), Quan Lộc (công danh sự nghiệp), và Điền Trạch (bất động sản). Điền Trạch cũng là bản kết toán của cả cuộc đời (quy hương tổng luận). 
Mười hai cung trên lá số được gọi là Thập Nhị Nhân Duyên, tức 12 cung nguyên độc lực cấu thành số Mệnh của con người. Có người còn coi Thân là tác nhân thứ 13, nhưng huyền học coi Thân chỉ là mặt động, phần dụng của Mệnh mà thôi, nên sẽ được xét cùng một lúc với Mệnh.
Phúc Đức: Huyền học quan niệm Phúc Đức là “Bản lai diện mục nhân thần”, có nghĩa là hình trạng nguyên có trước của mỗi người, bao gồm cả di sản vật chất lẫn tinh thần. Nói theo Phật học, Phúc Đức biểu hiện cái tiền kiếp của đương số. Hiện kiếp tốt xấu phần lớn do tiền kiếp. Dù theo quan niệm nào thì Phúc Đức cũng đóng vai trò quan trọng, vì được coi là cái gốc của Mệnh. Huyền học coi Mệnh tốt không bằng Phúc tốt. Phát nhờ Phúc bền hơn phát nhờ Mệnh.
Cuộc đời của từng con người qua một tiến trình được Mệnh danh là “tiến trình Hoàn, Giải, Đoạn nghiệp” (trả nghiệp củ, giải nghiệp rồi đoạn nghiệp), vì thế trên lá số bao gồm cả tiền kiếp, hiện kiếp lẫn hậu kiếp. Các nhà huyền học đã hình dung tiến trình đó qua các sao và các cung sau đây:
Sao Tuyệt: đặc trưng cho nghiệp luận hữu. Nhìn cung có sao Tuyệt có thể luận công tội của một người trong tiền kiếp.
Cung Phúc Đức: đặc trưng cho nghiệp thụ hữu. Nhìn cung Phúc Đức có thể luận ra những gì mà một người phải lãnh nhận do hậu quả của những hành động trong tiền kiếp để lại.
Cung Mệnh: đặc trưng cho nghiệp thể hữu. Nhìn cung Mệnh có thể luận ra những gì mà một người phải lãnh nhận do hẩu quả của những hành động trong tiền kiếp để lại.
Sao Đẩu Quân: đặc trưng cho nghiệp cá hữu. Nhìn cung có sao Đẩu Quân có thể luận ra phần nghiệp thuộc cá nhân một người.
Sao Thái Tuế: đặc trưng cho nghiệp cộng hữu. Nhìn cung có sao Thái Tuế có thể luận ra các nghiệp dòng họ, gia đình và xã hội tạo nên. Cái nghiệp mất nước năm 1975 là một cái nghiệp cộng hữu. Đó là vận nước đến lúc mạt. Nghiệp cộng hữu rất khó đoán, vì phối hợp với các khoa mới đoán được. Bình thường, chúng ta chỉ có thể luận về tính nặng nhẹ của cộng nghiệp mà thôi.
Cung Điền Trạch: đặc trưng cho nghiệp tồn hữu. Nhìn vào cung Điền có thể thấy ở đó bảng kết toán cuộc đời. Cung Điền tốt báo hiệu một hậu vận tốt.
-------------------------------------------------------------
Sưu tầm: nguồn TVLS; Tác giả: Thiên Ký Quý