Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Mệnh cung Thiên Can phối thuyết Tam Tài (blog cụ Hà Uyên)

I. I. Mệnh cung Thiên Can

Mệnh cung (MC), cung an Mệnh trên lá số tử vi, nó bao gồm cả Thiên Can và Địa chi, nhưng lâu nay chúng ta thường sử dụng phần của Địa chi nhiều hơn trong phép luận đoán trên lá số mà lại quên mất các tính chất quan trọng của Thiên can. Nay, tôi (Ma y cung) xin nêu lại vấn đề của Thiên Can và phụ bổ một số tính chất thuộc về Thiên Can của Mệnh cung. Như vậy, chỉ cần biết MC Thiên can của một người là ta có thể đoán sơ sơ được vài cá tính căn bản của họ mà chưa cần phải nhìn vào lá số. (Người soạn – Ns: Việc này cũng có thể sử dụng như một công cụ rất hữu ích cho việc phối hợp với các thông tin khác để kiểm chứng giờ sinh của đương số trước khi bắt tay vào việc giải đoán lá số tử vi).

a, Làm thế nào để xác định được Mệnh cung Thiên Can?

- Dùng Lịch của Năm sinh mà truy cứu, ví dụ sinh năm 1980, Mệnh cung tại cung THÌN thì Mệnh Can (Mệnh cung Thiên Can) sẽ là CANH. Như vậy, Can Chi của Mệnh cung sẽ là Canh Thìn, mà Canh Thìn thì có Hành của Nạp Âm là KIM, và Kim ở đây chính là CỤC số. (Ns: việc này có mối liên quan chặt chẽ với việc xác định Cục khi thành lập một lá số tử vi, xem chi tiết xin tham khảo trang 21, 22, sách của tác giả Trừ Mê Tín).

- Nếu không dùng lịch thì dùng bài thơ Ngũ Hồ độn:
GIÁP/KỶ chi niên BÍNH tác đầu. (BÍNH là Thiên can Tháng Giêng)
ẤT / CANH = MẬU (MẬU là Thiên can Tháng Giêng, từ đó suy ra những tháng tiếp theo)
BÍNH /TÂN = CANH
ĐINH/NHÂM = NHÂM
MẬU/QUÝ = GIÁP.

b, Mệnh cung Thiên Can có những đặc tính sau:

1/ GIÁP:
Giáp - Mộc có khuynh hướng phát triển vươn lên theo chiều cao (chẳng hạn như vị trí, cấp bậc), có cá tính kiên cường khí phách, có thể đủ dung lượng che chở cho kẻ yếu thế (vì có bóng mát), có tâm địa nhân hậu và chính trực, nhưng Giáp lại khiếm khuyết (thiếu) tính mềm dẻo, thiếu khả năng ứng biến và thích nghi với hoàn cảnh. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Giáp = dương mộc, nên có tượng là cây lớn, cây đại thụ, thuộc họ thân gỗ, cứng cáp, có tán lá tỏa rộng”). GIÁP = Là người có cá tính độc lập, độc lai độc vãng (đến 1 mình, đi 1 mình), không thích ai bao che cho mình, giúp ai thì cũng thích giúp nhưng cũng không muốn vướng bận.

2/ ẤT:
Ất - Mộc có tính cách mềm yếu, dù nội tâm có xung động cũng ít khi biểu lộ cực đoan, có khuynh hướng phát triển ảnh hưởng theo bề ngang, bề rộng (ví như có nhiều vây cánh), ngoại biểu thường tùy hòa, hiền lành, đối với ai cũng được lòng lại dễ thích ứng một khi hoàn cảnh bị thay đổi và dễ tùy cơ ứng biến. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Ất = âm mộc, nên có tượng là cây thân leo, cây bụi hoặc cây thuộc họ thân cỏ, mềm dẻo”). ẤT = Thường được phái nữ xung quanh bao che và ủng hộ, nhưng vẫn thích tính cách độc lập, cuộc sống thường dễ chịu, có thể khắc Mẹ hoặc khắc Vợ.

3/ BÍNH :
Bính - Hỏa thường là mẫu người nóng tính, cả nội tâm và sức sống đều mãnh liệt, dễ bị xung động, trọng những biểu hiện có tính hình thức bề ngoài,... Tâm tính tuy quang minh lỗi lạc nhưng lại hay cố chấp, nóng nảy. Có tính vội vã và ưa hoạt động, có khi quá đáng thành ra kẻ bận rộn và lao lực. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Bính = dương hỏa, nên có tượng là đám cháy, cây đuốc,… tính cấp, vội, nóng, có sự lan tỏa ra môi trường xung quanh”). BÍNH = Đàn ông thường được Mẹ / Vợ / Tình nhân / bạn bè nữ giới / nữ chủ nhân giúp đỡ. Nhưng lại cũng dễ bị hiềm khích, hiểu lầm.

4/ ĐINH:
Đinh - Hỏa là những người Nhu trung hữu cương, trông cá tính bề ngoài thì mềm dẻo nhưng có quyết tâm, cứng rắn bên trong, là kẻ có tính cách ôn hòa bên ngoài nhưng có khi bên trong như bị lửa đốt (cấp tháo, kiểu như nói chuyện với khách mà cứ nhìn đồng hồ như muốn chấm dứt nhanh chuyện để làm việc khác, mà thực ra cũng chẳng phải là việc gì quan trọng phải làm cả), kiêm tính tế nhị nhưng lại hay đa nghi, ưa quan sát kín đáo đối phương (để thẩm định giá trị hoặc nhận xét về một khía cạnh nào đó) và nhiều Tâm cơ (đầu óc hay tính toán, suy tính lung tung).(Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Đinh = âm hỏa, nên có tượng là lửa trong lò, lửa trong đèn lồng,… bên ngoài thì tĩnh mà bên trong thì động, để lâu có thể sẽ bộc phát”).ĐINH = Có tính cách độc lập, lầm lì nhưng quyết liệt, dám làm dám chịu, không sợ hậu quả cũng như hậu hối (làm thì quyết không hề hối hận sau này).

5/ MẬU:
Mậu - Thổ là mẫu người cá tính ổn trọng, trung hậu, thành thật và giữ chữ Tín, hay trọng danh dự, mặt mũi, cho nên thường là người hay tự ái, cố chấp ý kiến của họ, không thích những kẻ ưa thay đổi và sống kiểu phù du, không thích những người hứa rồi không bao giờ đến. Họ rất hay thích những gì cổ điển và có tính xưa cũ, không thích nghi với những cái thay đổi quá đáng, họ có tính bảo thủ, lại hơi tiêu cực và khó thích ứng với hoàn cảnh mới (vì cứ nhớ lại những hình bóng, kỷ niệm thời xa xưa). (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Mậu = Dương thổ, nên có tượng là vùng đất cao, hơi nhô lên (lộ thiên),…có tính ổn định vững chắc, kiên cố”). MẬU = Giúp đỡ, che chở cho người thì nhiều, mà thọ lãnh sự giúp đỡ của người thì ít, hay nể sợ đàn bà, cá tính ổn trọng thâm trầm, nhiều cao vọng.

6/ KỶ:
Kỷ - Thổ là dạng người nội hàm (có nội tâm được hàm dưỡng tốt), tư cách không nóng vội, chịu đựng và nhẫn nhịn, thường thì các biểu hiện vui, buồn, ưa, ghét, v.v… ít khi để lộ quá rõ ràng ra bên ngoài, đối với công việc thì xử sự linh động, thông minh, đa biến hóa nhưng lại cẩn thận.(Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Kỷ = Âm thổ, nên có tượng là vùng đất ẩn tàng bên trong, phía dưới,…vừa có tính ổn định vừa có tính mềm dẻo, bền bỉ”). KỶ = Cũng thường bao che người khác, nhưng bị người khác làm hao phí tiền bạc của mình, hoặc dễ bị lường gạt, quịt nợ về tiền bạc. Nhưng là người đạt chữ nhẫn tốt nhất nên cuộc sống thường bình ổn và ít gặp phải sóng gió, bôn ba.

7/ CANH:
Canh - Kim thường có cá tính cương nghị, cương quyết, quả đoán, khảng khái, có tính cách hiệp nghĩa, hay giúp người khi người ta gặp khốn khó. Ngoài ra, còn mang tính hiếu thắng, thích xuất đầu lộ diện đứng mũi chịu sào, có đảm lược và hào sảng, cương trực, nhưng cũng cả tính cách công kích, phá hoại cùng dã tâm to lớn. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Canh = Dương kim, nên có tượng là thiết trụ kình thiên, thanh bảo kiếm,… có tính rắn chắc, kiên cố nhưng cũng có tính chống đối, tranh thắng”). CANH = Thích tư thế độc lập, giúp người mà không mong người giúp.

8/ TÂN:
Tân - Kim có tính cách nhu hòa, ôn nhã, minh mẫn và khí chất thanh cao, hào sảng, thích thể diện và ít muốn va chạm xông xáo với giới phàm tục (vì e chén ngọc đụng phải chén sành chứ không phải nhút nhát) vì thế có thể bị hiểu lầm là thiếu khí phách, cũng là loại người trọng cảm tình, ý chí không được kiên định. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Tân = Âm kim, nên có tượng là đồ trang kim thanh cao, những kim loại mềm và mỏng,…có tính cao quý, trang nhã, đẹp đẽ”). TÂN = Thích thể diện, hình thức, trọng tình cảm, có tâm hồn nghệ thuật.

9/ NHÂM:
Nhâm - Thủy có tính cách nhiệt tình cuồng cuộn như dòng sông đang trôi chảy, là kẻ đa tài đa nghệ, kiêm bị văn võ muốn chơi đằng nào cũng được, thường xuyên lạc quan yêu đời và ngoại hướng (thích hòa mình với sinh hoạt của dòng đời, dễ bị sự quyến rũ từ bên ngoài) có mưu lược và biết nắm lấy thời cơ, tuy thông minh nhưng hay làm theo ý của mình (ít chịu khuất phục kẻ khác). (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Nhâm = Dương thủy, nên có tượng là thác nước, mưa bão, những con sóng lớn,…có tính mạnh mẽ lôi cuốn nhưng không ổn định”). NHÂM = Tính cách độc lập và tự phụ rất cao, nắm được Thiên thời nên dễ chiếm được tiện nghi trong nhiều hoàn cảnh.

10/ QUÝ:
Quý - Thủy là kẻ thanh t*o, êm thắm, ôn nhu, bình tĩnh và hướng nội (sống thiên về nội tâm), là kẻ trọng tình cảm và có nhiều mơ mộng, ảo tưởng, tuy có tâm nhẫn nại, nhường nhịn nhưng đôi khi cũng bị nổi cộc nếu bị khiêu khích quá đáng. (Ns: các tính chất trên có thể hình tượng hóa như sau “Quý = Âm thủy, nên có tượng là chén nước trà quý, rượu ngon,…có tính thi vị, lan toả hương thơm”). QUÝ = Dễ bị hao tổn , thích biến động, bởi Quý là Can duy nhất không muốn dựa vào thế lực của Thiên / Địa / Nhân mà chỉ trông mong vào sự nỗ lực của chính mình, cho nên ưa thích những ngành nghề tự do, khởi phục cao độ.
II. Thuyết Tam Tài (rút gọn)


TAM TÀI: THIÊN, ĐỊA, NHÂN (Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa).

NGUỒN GỐC phát sinh của TAM TÀI:
THIÊN: Khai tại TÝ 
ĐỊA: Khai tại SỬU 
NHÂN: Khai tại DẦN

Tý, Sửu, Dần, 3 Cung đó là nơi khai thủy của Tam Tài (Thiên, Địa, Nhân), khoa Tử vi là môn nghiên cứu về Nhân, mà Dần là cung khởi thủy của Nhân, do đó lấy Dần làm Chính cung để định Thân / Mệnh. 

CHỖ SỞ CƯ CỦA TAM TÀI:
Trong 12 địa chi thì được phân chia thành 4 bộ Tam hợp và bộ Tứ hành xung, trong đó:
THIÊN cư tại TÝ NGỌ MÃO DẬU = ứng với Thượng Hào.
NHÂN cư tại DẦN THÂN TỴ HỢI = Ứng với Trung Hào.
ĐỊA cư tại THÌN TUẤT SỬU MÙI = Ứng với Hạ Hào.
Do vậy, cứ theo Địa Chi mà nói thì nói thì cứ mỗi TAM HỢP đều có đủ Tam Tài.

ỨNG DỤNG CỦA TAM TÀI:
Mệnh Cung Tam Tài dùng xem xét số phận của người được xem cái cách người đó sẽ được hưởng Thiên thời / Địa lợi / Nhân hòa như thế nào, mức độ ra sao, nhằm giúp quyết đoán Cách cục của 1 lá số. (Ns: Đối với những người mới học Tử Vi có thể dùng như một căn cứ để bổ khuyết cho phép hội sao khi chưa có kinh nghiệm).
Tại Vận trình (Đại / Tiểu Hạn), Tam Tài dùng để xem xét Thời Thế như thế nào, có nên lộ mặt ra (làm ăn, hoạt động...) hay không, hay nên ẩn nhẫn, nên / không nên làm gì trong Đại / Tiểu Hạn này, mức độ thành công / thất bại cao thấp như thế nào, v.v…
Theo địa chi thì cứ trong mỗi TAM HỢP MỆNH CUNG đều có bao hàm các yếu tố THIÊN / ĐỊA / NHÂN. Có nghĩa là mỗi con người khi sinh ra đều phải chịu 3 loại Tác động rất quan trọng trong cuộc sống, đó là:

THIÊN THỜI = Tự giúp mình (độc lập, tự lập) nhưng nắm được thời cơ, điều kiện thuận lợi.
ĐỊA LỢI = Mình giúp người, nhưng chiếm vị thế nên hoàn cảnh, môi trường sẽ giúp lại cho ta.
NHÂN HÒA = Người xung quanh giúp mình, nhưng chưa chắc được hưởng Thiên thời, Địa lợi. 

Nắm được Thiên thời là hay nhất (Ns: hay gặp may mắn, gặp thời), cho nên lá số nào có MỆNH CAN là GIÁP / ĐINH / CANH thuộc THIÊN thì thường được thành công và chiếm nhiều trong số lượng danh nhân / Vĩ nhân. Thiên can là QUÝ cũng có khả năng thành công và là Danh / Vĩ nhân, nhưng dễ bị Hao / Phá.

Qua những Tượng ý bên trên, chúng ta có thể đại lược suy ra được Tính cách của từng lá số, ví dụ như các trường hợp sau đây:

- Chẳng hạn Mệnh cung Thiên Can = BÍNH, thì thường được Mẹ / Vợ chu cấp, lo lắng, chăm sóc, v.v… nhưng cũng dễ bị xung khắc. 

- TÀI BẠCH cung CAN tọa NHÂM = phải tự lực phấn đấu và phải dựa vào Thiên thời / Thiên ý (có nghĩa là phải đi hỏi Thầy bói khi nào làm ăn được, he he! - Ns: chỗ này tác giả hài hước cho vui vậy thôi, độc giả cần xem lại tính chất của can Nhâm).

- QUAN LỘC cung CAN tọa MẬU = Sự nghiệp của mình có thể dùng để bao bọc, giúp đỡ hay làm lợi cho kẻ khác, cho nên thường dễ bị phí tổn tâm sức mà cái lợi không có là bao. 

Hoặc giả như trường hợp:

- Mệnh cung THIÊN CAN tọa NHÂM = Tính cách cao ngạo, tự thị, nếu giàu có thì cũng chia xẻ cho họ hàng hay người nghèo. 

Lập lá số xong , xem đại khái sư kết hợp của Tinh tú , rồi dùng TAM TÀI , TỨ TƯỢNG (Tứ Hóa) quan xét thì gọi là XÉT VỀ KHÍ TƯỢNG ( 3 TÀI / 4 HÓA ) để định CÁCH CỤC. Đây là chiêu thức CAO CẤP mà các Đại sư ngày xưa đã sử dụng, ngày nay bộc lộ ra thì ắt có kẻ coi thường, nhưng chỉ cần vài người hiểu giá trị và tự tìm biết cách ứng dụng.

III. Mệnh cung Thiên Can phối Thuyết Tam Tài (rút gọn)
Các Lý Thuyết liên quan tới TAM TÀI lâu nay bị bưng bít, một vài Trưởng lão thủ đắc được chiêu Tam Tài cứ lâu lâu đem ra HÙ 1 tiếng làm bọn Hậu bối giựt mình, chơi như vậy là không công bằng, nên hôm nay tui xin được công bố, vì thế quý vị không nên xem thường Chiêu này, nếu không có chỗ dùng tại sao người ta lại giấu kỹ như vậy?

GIÁP / ẤT / BÍNH = Thuộc THIÊN .
ĐINH / MẬU / KỶ = Thuộc ĐỊA .
CANH / TÂN / NHÂM = Thuộc NHÂN.
QUÝ là can có vị trí không chịu nhiều tác động của các thế lực THIÊN / ĐỊA / NHÂN.

TAM TÀI = THIÊN - ĐỊA - NHÂN ( THEO THỨ TỰ 1-2-3 ).
GIÁP - ẤT - BÍNH ( theo Thứ tự A - B - C )

Lấy A-B-C áp đặt lên trên 1- 2- 3 ta sẽ có:
1/ 
GIÁP thuộc THIÊN, nên GIÁP là THIÊN chi THIÊN (Trời của Trời / tầng Trời cao nhất).
ẤT thuộc ĐỊA, nên ẤT là THIÊN chi ĐỊA.
BÍNH thuộc NHÂN, nên BÍNH là THIÊN chi NHÂN.
2/ 
ĐINH thuộc THIÊN, nên ĐINH là ĐỊA chi THIÊN.
MẬU thuộc ĐỊA, nên MẬU là ĐỊA chi ĐỊA.
KỶ thuộc NHÂN, nên KỶ là ĐỊA chi NHÂN.
3/ 
CANH thuộc THIÊN, nên CANH là NHÂN chi THIÊN.
TÂN thuộc ĐỊA, nên TÂN là NHÂN chi ĐỊA.
NHÂM thuộc NHÂN, nên NHÂM là NHÂN chi NHÂN.

Can QUÝ đứng độc lập, không phụ thuộc THIÊN / ĐỊA / NHÂN, gọi là Ngoại Hóa chi Vị (Vị trí có Hóa thể Ngoại thuộc).


Để dễ hiểu có thể đưa về dạng bảng kiểu của bảng lập thành quẻ dịch, sau khi xác định được thiên can, muốn biết tính chất của nó khi phối vào thuyết Tam Tài thì chỉ cần: Nhìn vào bảng thấy can đó nằm ở đâu và chiếu từ trái qua phải, rồi chiếu lên trên, sẽ biết ngay:

QUÝ THIÊN ĐỊA NHÂN
THIÊN GIÁP ẤT BÍNH
ĐỊA ĐINH MẬU KỶ
NHÂN CANH TÂN NHÂM

VD: Giáp = Thiên chi Thiên, Kỷ = Địa chi Nhân, Tân = Nhân chi Địa, Nhâm = Nhân chi Nhân,...
Mời cung chủ MYC tiếp tục ra tay, nhân tiện xin MYC chỉ giáo về sự liên hệ giữa thuyết Tam Tài MC TC và thuyết Tam Tài của Hạn.

- Ma Y Cung đáp:
VỀ TAM TÀI của Đại hạn liên quan đến Mệnh cung Tam tài theo tôi thì cũng tựa như Lưu Tứ Hóa của đại hạn đối với Tứ Hóa Mệnh cung mà thôi, ví dụ Mệnh cung thiếu Địa lợi mà địa lợi thấy xuất hiện tại đại hạn thì tại Hạn này có thể làm ăn dễ dàng và mát mặt với đời 1 tý, vì đã hội đủ Tam Tài, nếu thấy kết hợp Tinh diệu tại Hạn này tương đối không xấu.
Vấn đề là phải làm sao kết hợp được sư liên hệ giữa Tam Tài Của Mệnh cung / đại hạn với Tứ Hóa cũng như sự phối hợp Cát / bất Cát của Tinh diệu để đưa ra 1 giải đáp tương đối Chính xác. Lý thuyết là vậy nhưng khi áp dụng thì mỗi người mỗi ý, có người chủ trương lược bỏ Tứ Hóa và Tinh diệu, có người chủ trương loại bỏ Tinh diệu chỉ giữ lại Tam Tài và Tứ Hóa .v.v…

(TAM TÀI ỨNG DỤNG TRONG ĐẠ/ & TIỂU HẠN) - Ví dụ :
LƯU ĐẠI HẠN cung QUAN có TC = ĐINH , Tức L.QUAN được hưởng Thiên thời, nhưng nếu Tiểu Hạn là các năm NHÂM / QUÝ thì Thủy sẽ khắc Hỏa của ĐINH làm cho GIẢM hoặc MẤT Thiên thời.
Như LƯU ĐẠI HẠN cung TÀI có TC = ẤT, tức L.TÀI hưởng được Địa lợi, nếu Tiểu hạn là năm TÂN, Kim khắc Mộc, làm giảm mất phần Địa lợi trong Cung Tài.
Cũng vậy , Tiểu Hạn tại Cung Dần có chữ BÍNH, tức được Nhân Hòa , nhưng nếu đó là năm 1992 = Nhâm Thân, thì Nhâm sẽ khắc Bính làm mất đi lợi thế Nhân hòa . (Phải an Thiên Can theo năm sinh, bắt đầu từ Cung Dần chạy thuận vòng cho đến cung Sửu).
Ngược lại, những năm nào SINH cho Tam Tài thì Tốt, cứ theo lý Ngũ Hành sinh khắc, chế hóa mà suy luận.

Như vậy, vấn đề này vẫn chưa thống nhất và cần nhiều thảo luận, trao đổi để khám phá thêm, vì đơn giản là từ trước đến nay chưa từng có những cuộc hội thảo kiểu này, vấn đề là phải có 1 hiểu biết tổng quát, mà mỗi người chỉ biết có khu vườn nhỏ của mình, như vậy cần có nhiều phát hiện khác để bổ sung và củ chính.
Về việc phối Tam Tài, Tui – Ma Y Cung - xin sắp xếp lại (cho có trật tự 1 tý):
GIÁP ẤT BÍNH = Thiên .
ĐINH MẬU KỶ = Địa
CANH TÂN NHÂM = Nhân .
---------------------------------------
Thiên Địa Nhân

Ví dụ, muốn biết GIÁP là gì, ta thấy theo chiều NGANG thì GIÁP = Thiên .
Từ chữ GIÁP nhìn theo chiều DỌC xuống dưới cùng ta thấy chữ Thiên. Như vậy GIÁP = Thiên chi Thiên.
KỶ, theo chiều Ngang = Địa / theo chiều Dọc = Nhân.Vậy, KỶ = Địa chi Nhân.

Các Bạn FORGET giùm phần viết bên trên (1-2-3) và (A -B -C) đi vì thấy nó lủng củng quá.
4. Nick QuachAthanh: Bác Ma Y Cung, Mong bác có thể cho một vài ví dụ về cách luận. Như Mệnh cung là can Canh.
Canh đọc ngang là Nhân = Được người giúp, ỷ lại
Canh đọc dọc xuống là Thiên = Độc lập tính, nắm được thiên thời.
Như vậy cung Mệnh can Canh sẽ là Nhân Chi Thiên. Ý nghĩa của Nhân Chi Thiên là gì? Phải chăng là sự tổng hợp của hai yếu tố Nhân và Thiên?

- Đáp:
THIÊN = Thiên thời, ĐỊA = Địa lợi, NHÂN = Nhân hòa. Cứ dựa theo ý của 3 chữ trên mà diễn đạt. HÀNG NGANG LÀ CẤP SỐ, HÀNG DỌC LÀ BẢN VỊ.

* HÀNG DỌC = BẢN VI :
GIÁP / ĐINH / CANH = THIÊN THỜI (nắm được THIÊN THỜI vì có BẢN VỊ là chữ THIÊN).
ẤT / MẬU / TÂN = ĐỊA LỢI (nắm được ĐỊA LỢI vì BẢN VỊ là chữ ĐỊA).
BÍNH / KỶ / NHÂM = NHÂN HÒA (nắm được NHÂN HÒA vì BẢN VI là chữ NHÂN).

* HÀNG NGANG = CẤP SỐ.
Chữ THIÊN / ĐỊA / NHÂN theo hàng NGANG có thể hiểu là THƯỢNG / TRUNG / HẠ, vì dùng để chỉ CẤP SỐ.

* Điểm CHÍNH YẾU là HÀNG DỌC còn HÀNG NGANG chỉ là CẤP SỐ.

Như chữ ĐINH , Bản vị là THIÊN cho nên nắm được THIÊN THỜI , và có Cấp số là ĐỊA (TRUNG) nên gọi là ĐỊA chi THIÊN = Có được Thiên thời, nhưng chỉ ở mức TRUNG ĐẲNG. chưa phải là cao nhất (vì cao nhất là Thiên chi Thiên).
Như chữ TÂN = ĐỊA LỢI, nhưng Địa lợi ở CẤP ĐỘ nào thì xem HÀNG NGANG = NHÂN (có nghĩa chỉ ở mức HẠ ĐẲNG – thấp nhất).

Ví dụ: Mệnh cung Thiên can có NHÂM = Nhân chi Nhân, có nghĩa là người này nắm được, sở hữu được tính Nhân hòa, tức là được lòng người xung quanh (Bà con, hàng xóm... tuy rằng ở mức độ không cao vì chỉ có cấp số là NHÂN (Hạ đẳng).
Nếu QUAN có chữ NHÂM = Được cấp trên đề bạt / đồng nghiệp giúp đỡ, v.v… tuy nhiên những sự ưu ái đó vẫn chưa phải là cao nhất vì do cấp số chỉ ở mức thấp.
Nếu TÀI có chữ NHÂM = Tiền bạc làm ra là nhờ yếu tố nhân sự, nhân hòa, chẳng hạn như mở quán Phở, tài nghệ nấu nướng thì chỉ dưới trung bình, quán lại ở trong hẻm nhưng vẫn sống được vì cả xóm đa số đều ủng hộ.
Như vậy khi Mệnh cung Thiên Can = NHÂM, tức đương sự nắm được yếu tồ Nhân hòa.

5. Nick Khongtuong: Mong Cung chủ MYC tiếp tục tường minh giùm tôi và các độc giả ở một vài điểm nữa trong thuyết Tam Tài Mệnh Cung Thiên Can.
Do khởi từ Dần nên đến Hợi sẽ hết 10 TC, qua Tý & Sửu sẽ lần lượt lặp lại TC của Dần & Mão. Vì vậy, Hành của các cung này sẽ vượng hơn các Hành khác tại các cung còn lại. Ví dụ: năm 2010-Canh Dần thì TC Tháng Giêng - cung Dần là Mậu (thổ), Mão là Kỷ (thổ),... đến Tý là Mậu (thổ), Sửu là Kỷ (thổ). Như vậy:
a, Sự vượng quá của Thổ sẽ có vai trò như thế nào khi luận đoán?
b, Xét về Hành của các Địa Chi của cung thì Dần & Mão thuộc Mộc, nay thiên can của cung đều là Thổ. Tương tự, Tý thuộc Thủy, Sửu thuộc Thổ, nay thiên can đều là Thổ. Sự chế hóa của Ngũ hành có được áp dụng vào đây hay không?
c, Nếu tạm bỏ qua sự rắc rối về Hành của các Địa Chi, sau khi xác định được Thiên Can của các cung thì ghép ngay vào Địa Chi và dùng ngay Hành của Nạp Âm của nó liệu có thỏa chăng?

- Đáp:
a/ Khi qua những Cung Vượng THỔ , dĩ nhiên Hiện tượng Địa lợi nổi bậc , nhưng CÁI CHÍNH và QUYẾT ĐINH VẪN LÀ THIÊN CAN.
THIÊN CAN là Quyết định nhưng nhìn ĐỊA CHI có thể cho ta biết Mức độ Thịnh / Suy ... của Thiên Can như thế nào. Vì thế, khi đã phối hợp Can và Chi thì không cần thiết dùng HÀNG NGANG - CẤP SỐ nữa.

b/ Tất nhiên là PHẢI CÓ sự Chế Hóa của Ngũ Hành ở đây ,vì thế tôi mới đưa ra cái Hướng Kết hợp Can Chi. VẤN ĐỀ là tại sao người ta chỉ lấy Thiên CAN để luận?
Thứ nhất là Địa chi gồm nhiều Thành phần, không chuyên nhất.
Thứ nhì, kết hợp Can Chi nhiều khi rất khó cho người luận.
Thứ ba, Địa Chi cũng như gốc rễ ( Địa chi = nhánh dưới đất = gốc rễ), Thiên Can cũng như thân cây, hoa lá cành. Thiên Can vì hiển lộ nên dễ thấy, Địa chi ẩn tàng nên khó nhìn.
Thiên Can ví như Thân cây /như HOA , duy chỉ nhìn HOA là có thể biết được Tổng thể của nó , chẳng hạn nhìn 1 đóa hoa là ta có thể biết giống Hoa gì, Quý hay tầm thường ( Cách cục ) nhìn lá có thể biết nó bị bệnh gì , nhìn Thân biết nó sống được bao lâu ...
Từ trước đến nay, như tôi đã nói, chưa có ai dùng sự kết hợp giữa CAN và CHI để luận đoán về Tam Tài, người ta chỉ 1 mạch dùng THIÊN CAN mà thôi.

Cho nên Kết hợp giữa CAN và CHI để luận Tam Tài là 1 HƯỚNG quá mới mà tôi đã đề ra, nhưng vẫn có cái lý của nó. Và Các Bạn muốn đi Hướng này thì phải tự làm chủ chính mình, đây là 1 lối đi chưa ai đi, thì mình là người Pioneer phải đi thử và quan sát lấy kinh nghiệm, trước mặt của mình không là ai cả.

c/ Nếu Bạn dùng NẠP ÂM thì lại tạo dựng thêm 1 Hướng mới nữa, tại sao không thỏa chứ? Dùng Nạp Âm có nghĩa là bỏ Chính Ngũ Hành nhảy qua dùng Phản Ngũ Hành, dùng Nạp Âm có nghĩa là dùng SỐ / KHÍ SỐ để đoán, cũng tựa như dùng Quái số vậy. Tử bình xưa kia cũng có trường phái dùng Nạp Âm đoán rất chính xác.
Bổ xung thêm về LÝ THUYẾT: TAM TÀI có 2 phần: ÂM và DƯƠNG:
Tất cả Phần Lý thuyết về MC THIÊN CAN bên trên có thể gọi là DƯƠNG CỤC TAM TÀI, vì Thiên Can thuộc DƯƠNG.
Nửa phần còn lại là PHẦN nghiên cứu thêm về ĐỊA CHI TAM TÀI, hay gọi là ÂM CỤC TAM TÀI (Xem bảng CHỖ SỞ CƯ CỦA TAM TÀI).

Thực ra người ta chỉ dùng DƯƠNG CỤC Tam Tài để luận về THIÊN THỜI / ĐỊA LỢI / NHÂN HÒA , không mấy ai phối hợp DƯƠNG CỤC và ÂM CỤC, tức PHỐI HỢP THIÊN CAN và ĐỊA CHI để luận vì Âm cục Tàng Can rất hỗn Tạp, không được Tinh thuần như Thiên Can , đó là lý do người ta không dùng ĐỊA CHI TAM TÀI.

Nhưng phải chú ý một số trường hợp sau:
GIÁP TÝ = Giáp và Tý đều thuộc THIÊN, can Giáp - Mộc được chi Tý - Thủy sinh cho, nên nắm được Thiên thời rất mạnh.
ĐINH MÃO cũng vậy, ĐINH và MÃO = THIÊN, mà MÃO - Mộc sinh cho ĐINH - Hỏa nên Thiên thời rất mạnh.
CANH TÝ = Đều là THIÊN, nhưng CANH - Kim lại sinh xuất TÝ - Thủy, nên tính chất Thiên thời tuy khá mạnh, nhưng đang trên đà giảm sút.
CANH NGỌ = Đều là THIÊN, nhưng CANH đang ở Vị thế Mộc dục, có lực lượng yếu nhất trong Lục CANH. Nhưng dù sao CANH NGỌ ở vị thế Lưỡng THIÊN, nên khí thế vẫn mạnh, nhưng cuối cùng cũng chính vì quá ỷ vào Thiên thời mà có thể suy sụp sự nghiệp.
Ở ngay trên là nói về các trường hợp thuộc Thiên, còn các trường hợp khác (ĐỊA và NHÂN) thì cũng suy luận tương tự sẽ hiểu.

DÙ SAO , trong giai đoạn đầu để khỏi bối rối , quý vị cứ dùng THIÊN CAN là đủ.
Sau khi dùng TC thuần thục, thì mới đi thêm bước nữa là dùng Thiên can phối Địa chi, nhưng theo tôi biết thì trong THỰC HÀNH, hiện nay chưa có ai dùng chiêu này.
Nên nhớ trong Trường hợp nào thì cũng phải phối hợp với TINH DIỆU để luận, Ví dụ, bản cung có được Thiên thời , nhưng ngộ Không Kiếp / Mã ngộ Không vong / Thiên Không, Hình, Kỵ, v.v… thì coi như Tính chất Thiên thời bị tổn hại nặng, không còn bao khí lực.

6. Nick Cự Cơ: Mong được Bác ma y cung giải thích giúp Cháu tuổi Ất Sửu Mệnh cung ở Dậu. Cháu xin cảm ơn Bác nhiều!

- Đáp:
MC TC = ẤT (DẬU) = Thiên chi Thiên, Thiên thời có Khí thế rất mạnh, lại thêm Địa chi là chữ THIÊN, nên có đầy đủ khí lực, Thiên thời ở thế Cực mạnh, nhưng Địa chi Dậu Kim khắc Mộc nên có giai đoạn bị mất Thiên thời, Hậu vận hoặc trong 1 Đại vận nào đó có thể suy vi vì mất Thiên thời (kết hợp Tinh diệu ở các Đại vận để đoán).
QUAN CUNG Thiên Can = KỶ (SỬU) = Địa chi Nhân, tính cách Nhân Hòa chiếm mức Trung bình. Địa chi đồng Hành lại chiếm chữ Địa thì thế Nhân hòa trên mức trung bình (ở đây vẫn luận Nhân hòa là Chính).
TÀI CUNG Thiên Can = TÂN (TỴ) = Nhân chi Địa, Địa lợi ở thế thấp. Địa chi TỴ = Nhân, Tỵ Hỏa khắc Tân Kim, nhưng Kim không bị tiêu diệt (Trường sinh chi địa), như vậy Địa lợi của Tài cung ở mức rất thấp.
Làm ăn nên chú trọng ở mặt Địa lợi ( vì mình bị yếu thế ở lãnh vực này ) , ví dụ chọn địa điểm kinh doanh tại những chỗ thuận tiện cho sự đi lại , đùng chọn trong hóc hẻm ( ở Mỹ mở tiệm mà thiếu Parkings thì sụp liền ), mua bán nhà đất cũng vậy , đừng chọn ở những nơi hẻo lánh , ngập nước .v.v .Nếu là Sĩ quan , thì phải học thêm về Địa hình.

MỆNH Cung Thiên Can có Địa lợi bị Hãm , đa Sát tinh , nếu có Hỏa Tinh đừng ở những tòa cao lâu có rào kín mít, Hỏa hoạn khó thoát, v.v…

* Nói về nguồn gốc của Thuyết “Mệnh Cung Thiên Can phối Tam Tài”:

Tôi xin minh định tôi không tạo lập ra Thuyết này, Tác giả Thuyết này là ai và có ghi chú trong các sách Tử vi Bí truyền hay không thì tôi cũng rõ, chỉ biết rằng đây là 1 Bảo bối và được Khẩu truyền (trước 1975, Chiêu này được ít người biết nhưng chỉ truyền trong gia đình/đệ tử ruột, nhà tui có mấy ông Chú, Bác chơi Tử vi trên 30 niên mà cũng không được ai dạy Chiêu này).
Chiêu Tam Tài này theo tui thì có lẽ là của NAM Phái HÀ LẠC , Trường phái này rất chuyên về KHÍ CÔNG , thường dùng CAN và CHI ( Ngũ Hành ) phối hợp với Cung vị / âM DƯƠNG để coi số. Nhưng thông thường thì thấy họ dùng CAN là CHÍNH / CHI là PHỤ.
Phái HÀ LẠC này có ảnh hưởng rất lớn ở miền Nam Trung Hoa và ngay cả VN.
Trong các sách Tử vi hiện hành thỉnh thoảng thấy tàn tích của Họ, thấy trong PhiTinh TVDDS , TÚ phái Tvds , Tử vi Áo Bí (Việt viêm Tử), Trường phái sư huynh đệ của Cụ Bala đều có sử dụng lý thuyết Hà lạc, nhưng tuyệt nhiên không ai đề cập đến Chiêu này.
Về BẦNG CHỨNG: Bằng chứng chính là Thời gian, tui không cần đánh bóng nhưng ai cũng biết đây là 1 chiêu cao tầng, đã là cao tầng thì Cao thủ lấy ra áp dụng (sau vài tháng cho đến 1 năm, vì mới đầu còn lọng cọng chưa thể đánh giá được) sẽ thấy thuận tay vừa ý hay không , vì còn tùy, chiêu này tui thích nhưng anh không thích thì sao? Và đã là Cao thủ thì có thể tự vận hành sử dụng khi đã biết kiếm quyết. Tự nghiệm mới thấy được cái hay của nó ở chỗ nào. 

Tứ đại giai không, Tứ sinh, tứ sát

Tứ đại giai không:

Năm không: tuần
Tháng không: triệt
Ngày không: VCD
Giờ không: Địa Không


Tứ sát:


Sát Phá Tham của vòng chính tinh
Mộc Suy Tuyệt của vòng Trường Sinh
Kình Đà của can năm sinh
Không Đào Sát của chi năm sinh


Tứ sinh:


Tử Vũ Liêm của vòng chính tinh
Tuế Hổ Phù của vòng thái tuế
Lộc Tướng Ấn của vòng lộc tồn bác sỹ
Sinh Vượng Mộ của vòng trường sinh


Đến đây ta đã có thể xem tử vi theo hệ thống.



Với yếu lĩnh lượng đổi chất đổi, khi có 1 thì gọi là mầm mống, khi có 2 là thành hiện tượng, khi có 3 thì cực điểm, nhưng khi có 4 yếu tố hội tụ thì lại phản vi kỳ, không trở thành có, mà sát lại đảo thành cát.
Tứ sinh cộng hưởng với nhau thì hoàn mỹ.



Việc xem số xoay quay Tứ Không, Tứ Sát và Tứ Sinh. Dựa vào hệ thống này thì giờ đây chúng ta có thể xem tử vi một cách toàn diện, không thiếu sót. Và hiểu được cái gì là chính cái gì là phụ
Mệnh Tài Quan trong cách hiểu tổng quát thì cũng là một loại "sao". Loại sao này có thể tổ hợp với bất cứ bộ sao nào phía trên để ra chi tiết cuộc đời. Tức là bạn có 5 yếu tố để xét số rồi đấy. Trước giờ bạn nghĩ cứ phải nhìn từ mệnh tài quan nhìn đi. Giờ bạn đã biết có thể nhìn từ bất cứ cung nào cũng là lá số của mình, và mệnh tài quan cũng chỉ là một tam hợp.


Khi 5 yếu tố cộng hưởng: Mệnh tài quan có Tử Vũ Liêm+Tuế Hổ Phù+Lộc Tướng Ấn+Sinh Vượng Mộ.

Nếu Mệnh Tài Quan là tượng của Sinh Vượng Mộ thì Điền Tật Bào chính là tượng của Mộc Suy Tuyệt. Giả sử Điền Tật Bào của bạn hội tụ 4 yếu tố tứ sinh thì bạn có tứ sinh+ 1 Tuyệt tất nhiên sẽ không tốt bằng ngũ sinh khi Mệnh Tài Quan + 4 sinh rồi.


Và khi đại vận đi đến cung Tật, bạn cũng ngầm hiểu giống như mình từ vị trí Sinh Vượng Mộ đến vị trí Mộc Suy Tuyệt ắt không thể tốt đẹp. Đó là lý thống nhất về quy luật của tất cả các tam hợp. 


Chân mệnh thiên tử là cách gọi hình ảnh cho ngôi Tử Vi (tượng vua, thời nay là định mệnh) nằm trong tam hợp Tuế Hổ Phù bất kể mệnh thân ở đâu. Nếu ngôi Tử Vi không thuộc tam hợp Thái Tuế nhưng thuộc tam hợp Quốc Ấn Lộc Tồn thì coi như có số khoác hoàng bào cầm ngọc ấn nhưng chưa đúng chân mệnh, lên ngôi gặp nhiều dị nghị như Ung Chính hoặc ngồi trên ngai vàng nhưng không thi triển được vai trò hoàng đế như Bảo Đại. Nếu ngôi Tử Vi không gặp Tuế Hổ Phù, mà Thiên Phủ gặp Tuế Hổ Phù thì số chỉ đáng làm chúa như Tưởng Giới Thạch chứ chưa đáng mệnh vua. Trừ người phụ nữ như Victoria của Anh Quốc thì lại là chân mệnh nữ hoàng vì Thiên Phủ là tượng nữ, tượng phó so với Tử Vi.


- Alexphong

Luận phúc đức cung

Phúc đức cung để đoán hưởng thụ Tinh thần,tư tưởng hoạt động,

Mệnh cung : suy đoán chủ yếu là hưởng thụ Vật chất. Hưởng thụ vật chất tốt, chưa chắc các hưởng thụ tinh thần cũng tốt. mà nhân sanh thì đâu phải chỉ hạnh phúc vật chất. tinh thần hưởng thụ chiếm một nhân tố rất lớn. Vì thế sự quan trọng của phúc đức cung ở đẩu sổ cũng không ở dưới mệnh cung.

Với Phúc đức cung đối xung là Tài bạch cung, có thể thấy tiền nhân cũng nhận ra là tinh thần hưởng thụ và Tài cung có quan hệ rất lớn, người nghèo chưa chắc đã nhất định thiếu thốn tinh thần hưởng thụ, nhiều người giàu ngược lại có cảm giác buồn rầu tịch mịch. đoán mệnh thời xưa, nếu tài bạch cung không tốt, mà phúc đức cung cát tường thì nên đoán là sinh hoạt tinh thần phong túc .
Phúc đức cung cũng có thể dùng để đoán (đương cục)cách cục có thị hiếu đặc biệt nào : thi thư cầm kỳ, tửu sắc tài khí, cờ bạc rượu chè, thậm chí hút sách, đều có thể do Phúc đức cung cung cấp phán đoán.

Phúc đức cung có :
Hỏa tinh : tinh thần nóng nẩy bất an,
Linh tinh : nội tâm lo lắng.
Kình dương : nhiều vất vả,
Đà la : nhiều lo lắng,

duy Không Kiếp: đôi khi là người tư duy độc đáo, chưa chắc đã không tốt .

Xương Khúc : tối hỉ (rất tốt),
Long Phượng,Thiên tài, Hoa cái có thể phụ trợ Mệnh : thông minh tài trí.
Lộc tồn : tốt tuy thiếu tinh thần xung phong, nhưng cũng được yên ổn. (so với Lộc tồn thủ Mệnh cung : quá phần so đo cẩn thận), nếu kiến Sát dễ chủ là người bủn xỉn,.
Khôi Việt : đoán có người chăm sóc, giúp đỡ. [nhưng chung thân tàn tật hoặc đầu óc chậm phát triển (nhược trí) cũng có người chăm sóc], nên phải cẩn thận suy đoán cát hung .

Chỉ số thông minh IQ của người cũng do Mệnh cung suy đoán, nhưng với Phúc đức cung có quan hệ rất lớn,nên bị nhược trí hay không hoặc tự kỷ chứng cũng có thể do đây mà suy đoán .

Phúc đức cung cũng có thể suy đoán biến thái tâm lý .

Phàm các điều thuật ở trên, lúc giảng nghĩa ở Mệnh cung thì, chưa đặc biệt thảo luận những kinh nghiệm về tinh hệ, nên chổ luận của phần này về các tinh hệ như lúc nhập Mệnh cung, cũng từng sao có tính chất đồng nhất, học giả có thễ linh hoạt vận dụng
Các sao Xương Khúc, Long Phượng, đào hoa, Thiên tài, Hỏa Linh có tính phù lộ, hiển hiện dễ thấy.
các sao Khôi Việt,Kình Đà, Khốc Hư, Hình Kị, Âm sát, Cô Quả : dễ ẩn chìm mà không rõ ràng,
những sao trước hướng ngoại, những sao sau hướng nội,cả hai quý ở chỗ trung hòa, nếu Phúc đức cung tập trung thiên về một loại sao,liền dễ sinh vấn đề,
phải lưu ý đại vận lưu niên, xem có tính cách bi kịch đưa đến xuất hiện rắc rối không. Phần này khó thuật đầy đủ.

Nếu như Phúc đức cung không tốt, nhưng tam phương lại tốt, mỗi chỗ có ý nghĩa đặc thù riêng.
Phu thê cung tốt, dựa vào phối ngẫu mà bắt đầu có tinh thần hưởng thụ,
Tài bạch cung tốt, hưởng thụ tất phải vung tiền.
Thiên di cung tốt, ly hương bội cảnh được hưởng thụ khoái lạc, tại nơi sanh mình (chôn nhau cắt rốn) nhiều khổ muộn.
Trên chỉ thuật nguyên tắc, phần này cũng khó thuật đầy đủ . 



blog- ông Hà Uyên

Tứ hóa, hà đồ, lạc thư

Tứ tượng của tứ hóa tương hòa với thuyết quyết của dịch. đi từ lộc quyền khoa kỵ. tương ứng với 4 quẻ là chấn ly đoài khảm của hậu thiên theo thuyết quái " đế xuất hồ chấn...., tương kiến hồ ly...., thuyết ngôn hồ đoài,... lao hồ khảm" vậy thì hóa khoa tương ứng với thuyết ngôn hồ đoài đìu đó là khí tiết giao hoan trong lòng có nghĩa là vận vật đến lúc đã thành tựu, ra hoa kết trái, là lúc thu hoạch ứng với điềm vui vẻ, hoan hỷ, mà lời ca tiếng hát vui mừng. nên hóa khoa chỉ hộc vấn thành danh, thành tựu tựu vui mừng hoan hỷ vậy. nên mọi việc dễ đuợc toại ý. hơn nữa ta nên hiểu là " hóa" vì hóa ra thì có nghĩa là biến đổi từ khả năng nội lực vì hợp thiên thời địa khí mà mới sinh biến, có điều cái biến đó có thể thành hay thành dở vậy.

mệnh an ngược theo hà đồ, thân an thuận theo lạc thư. hà đồ là tiên thiên khí tiên thiên thì để tạo nên thiên địa khí coi trọng âm dương dựa vào nhau mà biến hóa, dụng ngũ hành thành ngũ bảo. hậu thiên dụng ngũ hành thành khắc chế vận động. khi thiên khí địa khí giao hòa mà sinh nhân tức cục số vì đến cung đó thiên can và địa chi giao hòa tiếp mới sinh cục số. cục số là nhân mạng dựa vào chu kỳ của nhật nguyệt để xác định vị tương đối của bản thân với các tinh đẩu. mọi tinh đẩu đều quay xung quanh quy tụ về bắc đẩu thật tinh nên lấy tử vi trung cung làm chúa đẩu nên sách viết " đế tinh động tắc liệt tú bôn trì" là thế khi xác định được chúa tinh th ìtìm các tinh đẩu khác. mà được mệnh, muốn được mệnh phải có thiên bàn địa bàn, sau đó có cục số mới có mệnh và các cung chức. đó đều lấy trên thuyết tam tài.

tứ hóa có 15 sao hòa hợp với số của lạc thư thái âm có 4 con làm chủ dịch biến hóa nghịch, thái thái dương có 4 con làm chủ dãy biến hóa đi thuận, tử vi ở trung cung có bốn đại thần là tả hữu, xương khúc. tổng cộng là 15 tinh. đều theo nguyên lý tả dương hữu âm mà biến hóa. 

cũng theo thuyết tam tài thì hóa khoa chỉ nhân hòa nên có sức hóa giải lớn vì có lý biến dịch, điều đó không có nghĩa là quyền lộc không có hóa giải mà ít hơn thui. kỳ thực đến hạn hóa khoa ngộ nhiều sát không tinh, rất hay gặp nạn, kiện tựng, giấy tờ, bệnh viện vì đây là cái lý suy ngược lại hóa khoa là sao giải thì nên nào có hóa khoa, hoặc gặp hóa khoa nếu sát xấu tinh thì nên hiểu ngầm rằng họa đấy hihi, còn hội đa cát tất nhiên vinh xương danh dự vậy. cũng như hạn thien lương vậy nếu thấy đa sao xấu biết ngay đó là đại vận, hay hạn xấu vậy vì trong tử vi hay sao này tượng trương và hóa tượng lÀ CỨU GIẢI, LÀ BÁC SĨ LÀ THẦY....

trong tử vi phân thành nam tinh, bắc tinh. như ngày xưa minhgiac đã viết trong page đó nam tinh chủ thiện thiện nguyện, lộc thọ, tinh thần. bắc tinh chủ hành động, khai phá, vận hạn, chết chóc thương tích, nặng về vật chất! đó phân tính âm dương của sao chính vì thế các sao thuộc bắc dùng chũ ÂM, ÂM THỦY HAY ÂM..., SAO NAM TINH CHỦ DƯƠNG LÀ THẾ phân định rất rõ dàng có điều ngưòi ta không hiểu cái lý mà thôi. cũng như các sao mệnh chủ là các sao thuộc bắc và thân chủ là nam tinh. còn dùng thế nào e cũng tốn sách vở lắm. và tại sao thì cứ nhìn những ngưòi đã chết thì có 7 ngọn lến trên ván sẽ hiểu. con người có tam hồn và thất phách vậy....

trong mệnh lý hay tử vi cũng dùng ngày tháng năm sinh như sau nếu được mùa được tháng đoán ngay sớm thời được may mắn, trợ giúp hoặc nhàn hạ, được ngày sinh sẽ báo tài cáng trí nhớn đến đâu, được giờ sinh sẽ báo kết quả và hậu vận ra sao.


tất cả các nam đẩu tinh đều có tính phúc thiện lộc, chủ tinh thần đều là các sao giải, khoa lộc quyền cũng là các sao giải vì đã hóa thì phải biến biến phải thông. thời xưa hóa khoa cái thời phong kiến trọng sĩ công nông thương được trọng vọng vì khoa mới sinh quyền lộc vậy. kỳ thực thời đại bây giờ có chút thay đổi nên lộc, quyền thời nay có sức trội hay về đường cao danh lợi, còn trí lễ và hoạt diệu sức giải của khoa vẫn có giá trị rất mạnh, đệ nhất giải tinh phải nói đến thiên lương, nên khi khoa cùng lương là sức giải vô song, chính vì tuổi kỷ lương hóa khoa mà đắc vị tại mệnh thì giải rất vi diệu. mà sự hội hợp của tam hóa cũng là sự giao giải vi diệu vậy! nên sách xưa vẫn nói ích gì khoa ở hãm cung, cũng phường ngu dốt công danh khó màng. lương mà hãm lại sinh đa dục, phong trần.... 


Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Cực nam thiên cơ và cực bắc cự môn gặp tại mão dậu thì âm gặp dương tại sửu mùi

Xin chia sẻ quan điểm lý luận của khâm thiên thì chia tử vi theo 6 đại cục chính ( từ 6 địa cục chính này mà thể hiện tại 144 thế cục khác nhau của tử vi)!
_ tử vi độc tọa tý ngọ
_ tử vi tham lang mão dậu
_ tử vi thiên tướng thìn tuất
_ tử vi thất sát tị hợi
_ tử vi thiên phủ dần thân
_ tử vi phá quân sửu mùi

Cái này gọi là " ngũ vận lục khí" tức ngũ vận = 5 loại ngũ hành sinh khắc mà thực chất tại "âm dương chi lý" thăng giảm, tiêu trưởng, vãng lai mà thành. lục khí là 6 loại hình khí thiên địa nhân tương tác biến hóa ( y như lục phủ ngũ tạng của ta vậy) mà bản chất lại là " tam tài chi sổ" mà thành cát hung bĩ thái qua đó dự đoán thiên nhân địa mệnh vận xoay vậy!


đây gọi là : 3+ 2 = 5, 3 x 2 =6 ( theo thuyết thiêm tam địa nhị)

dù tử vi cư ngọ hay cư tý hay cư cứ bất đâu đều phải dựa vào 4 tinh đẩu mà định thịnh suy cát hung của 144 thế cục đó là thiên cơ, cự môn, thái dương, thái âm 



xét đến tử vi hay thiên phủ thực chất là 2 vòng định lệ cho dễ dàng và quy chiếu. còn việc 4 dại danh chính tinh phủ tử âm dương thì vẫn thế thôi chứ không mất đi ảnh hưởng 4 đại đế tinh! nhưng mọi thế cục cát hung đều do sự vận động của cơ cự âm dương!


cự môn chính danh cực bắc tại tiên thiên chi là can kỷ thổ ( chính vì vậy nhiều sách, hay trong phong thủy cho cự môn là hành thổ) tại hậu thiên can quý âm thủy. thiên cơ chính danh cự nam mang can ất mộc.

khi thiên cơ tại ngọ, cự môn tại tý đây gọi là trời đất định vị, khi này thái dương tại thìn, thái âm tại tuất tạo thành trục biến hóa. khi cực nam thiên cơ và cực bắc gặp nhau tạo mão dậu thì thái âm cũng gặp thái dương tại sửu mùi thì vật đổi sao rời vậy!